Friday, April 24, 2015

Đôi dép người tù cải tạo

Đôi dép người tù cải tạo

Nguyễn Bá Chổi
2015-04-24
   
 
       
sai-gon-xua-hinh--600.jpg
Thiếu nữ Saigon trước 1975
Files photo
  

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hắn “được Cách Mạng nhân đạo khoan hồng tập trung để bảo vệ tính mạng cho, vì nếu để ở ngoài sẽ bị nhân dân trả thù”.
Huyện Củng Sơn thuộc tỉnh Tuy Hòa là vùng hoạt động của “Cách Mạng” trước 75. Lúc mới “nhập môn” giữa vùng rừng núi này, mỗi lần đi ra ngoài “học tập lao động để sau này trở về không còn bóc lột như thời Mỹ Ngụy nữa, mà biết tự mình làm ra của cải vật chất hầu nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội”, hắn nơm nớp sợ đồng bào địa phương có tiếng là dân Cách Mạng, sẽ trả thù (thù gì thì hắn không biết), nếu họ bắt gặp và nhận ra hắn là “ngụy quân.”
Một hôm, trên đường đi “lao động là vinh quang” ngang qua khu chợ, có mấy người dân chạy theo đoàn tù binh. Hắn lo lo; đang lúc chuẩn bị tinh thần chịu trận “nhân dân trả thù” thì có người dí vào túi áo hắn gói thuốc lá Sông Cầu. Đó là một nhân dân hoàn toàn xa lạ. Hắn sững sờ, chưa kịp nói lời cảm ơn thì người đàn bà ân nhân đã lách vội vào đám đông như tìm đường chạy trốn. Từ đó về sau, nhiều người trong đám tù và hắn lâu lâu lại được “nhân dân trả thù” như thế - khi cục đường mía, lúc miếng kẹo lạc.
Lại một hôm, đám tù được thả lỏng phân tán mạnh ai nấy tự đi tìm... cỏ tranh để cắt (về lợp nhà). Hắn được một phụ nữ quần áo vá đùm vá đụp mặt hốc hác, chạy đến trước mặt, mắt dáo dác ngó trước ngó sau một vòng rồi dí vào tay cho cái bánh ú làm bằng bột củ sắn mì với nhân hột mít. Chị ta nói,” Anh ăn cho đỡ đói. Bây giờ chúng tôi mới hiểu ra... và thương các anh quá”.
Không thấy “nhân dân trả thù” mà chỉ gặp nhân dân “thương các anh quá”, nhưng Cách Mạng vẫn nhất quyết tiếp tục “bảo vệ tính mạng cho Ngụy quân ngụy quyền, những kẻ có tội với nhân dân mà lấy hết trúc Trường Sơn làm bút, lấy sạch nước Biển Đồng làm mực cũng tả không xiết”. Tháng lại tháng. Năm qua năm. Đêm đêm nằm nêm cối đến ngộp thở trong những dãy nhà được bao bọc bởi nhiều lớp kẽm gai xen kẽ lớp xương rồng rồi lớp mìn bẫy, lớp hầm chông. Ngày ngày đi ra ngoài làm đủ thứ công việc của người tù khổ sai.
Khi đi lẫn lúc về, đoàn tù binh phải dừng lại nơi cổng ra vào để lính gác đếm. Đi, đếm rất mau; về, vừa đếm vừa khám xét khắp người tù xem có lận theo trong túi áo thắt lưng con cóc con nhái, con rắn con rít, hay cọng rau nạm cỏ (như cỏ sam heo ăn được là tù ăn được)... gọi chung là những thứ “cải thiện linh tinh” bị cấm ngặt, nên trong khi chờ đợi, cứ phải ứa gan với cái bảng đỏ to tổ chảng trước mặt treo vắt ngang giữa hai cái lô cốt chằm chằm hai bên cửa ra vào, có hàng chữ màu vàng khè “KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO” phía trên hàng chữ “TRẠI CẢI TẠO A30” . Mỗi lần như thế, hắn lại hình dung ra cảnh tú bà cho treo trước cửa nhà chứa của mụ, cái băng trắng chữ đỏ “Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng”.
“Ngày như lá tháng như mây”, chỉ là với thế giới bên ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Hắn thường bày tỏ rằng, nhờ Ơn Trên phù hộ hắn mới qua khỏi hơn 2500 cái "thiên thu tại ngoại”, để có ngày được “Cách mạng khoan hồng” cấp cho tờ “Giấy Ra trại”. Trên đường về với gia đình tận vùng Cao Nguyên, hắn phải ghé lại Nha Trang để chờ mua vé xe cho chặng đường cuối. Hắn đi lang thang để nhìn lại cảnh cũ người xưa nơi thành phố mà hắn đã qua nhiều thời kỳ gắn bó. Thuở nhỏ “du học”; lớn đi thi Tú Tài; mấy tháng học Không Trợ tại Trường Không Quân, và những lần “quá cảnh” trên đường đi đi về. Người thiếu nữ đầu tiên đi qua đời hắn cũng từ bãi thùy dương cát trắng này. Nha Trang đã là một phần đời hắn.
Hắn đi ngang quầy bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Hoàng. Bỗng dưng hắn nhớ và thèm một điếu thuốc CAPSTAN ngày nào. Sau khi tính nhẩm và chắc chắn số tiền Trại cải tạo cấp cho theo tiêu chuẩn nhà nước làm “của ăn đi đường” còn đủ để mua được hai điếu thuốc lá Song Long (hắn biết giá thuốc vì Trại thỉnh thoảng có mua giùm cho những ai có tiền cần mua), hắn mạnh bạo tiến đến phía quầy bán thuốc. Đã gần bảy năm, nay hắn mới được thấy lại nụ cười chào khách của những người bán thuốc lá bên đường mà trước kia hắn thường gặp. Hắn hân hoan như vừa tìm lại được một điều gì quý hóa đã mất từ lâu lắm. Nhưng bỗng dưng hắn chưng hửng khi thấy mặt cô gái bỗng nhiên tối sầm lại và tỏ vẻ dửng dưng với khách. Hắn ngạc nhiên trước thái độ thay đổi đột ngột của cô gái. Hắn kiểm điểm lại mình, và đinh ninh mình không hề có cử chỉ khiếm nhã nào hay nói năng gì khác ngoài lời hỏi mua thuốc lá. Hắn sực nhớ lúc nãy cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng “lý đoán” ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm trang, hắn nói:
“Anh vừa từ trại Cải tạo ra, đang trên đường về, nên đành phải mang đôi dép này”. Khi hắn vừa mới nói đến “Anh vừa từ trại cải tạo ra”, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái lúm đồng tiền. Hình như cô muốn nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến:
“Anh cầm lấy, em biếu anh. Rất tiếc bây giờ không còn thuốc trước 75”.
Hắn đã bỏ hút thuốc từ lâu, nhưng vẫn nhớ mãi gói thuốc của ba mươi năm về trước. Mỗi tháng Tư về, hắn lại càng thấy món nợ hắn mắc mỗi to hơn.
Không phải nợ gói thuốc lá cô gái biếu. Nhưng là nợ chính cuộc đời cô mà hắn đã không bảo vệ được. Để ít ra cô khỏi phải nhìn thấy những Đôi Dép Tháng Tư đưa dân Nam đến cảnh bần cùng khốn nạn.

Thursday, April 23, 2015

Thế hệ trẻ sau 75 và những nhìn nhận về lịch sử

Thế hệ trẻ sau 75 và những nhìn nhận về lịch sử
Cát Linh, phóng viên RFA
2015-04-23
    
Việc ít học sinh đăng ký thi môn Sử phản ánh việc dạy và học môn Sử có vấn đề và cũng có thể phản ánh sự e ngại của các em.Thí sinh Phạm Khánh Linh làm bài thi Lịch sử chiều 2/6 tại hội đồng thi trường THPT Quang Trung (Đống Đa, Hà Nội)
Việc ít học sinh đăng ký thi môn Sử phản ánh việc dạy và học môn Sử có vấn đề và cũng có thể phản ánh sự e ngại của các em.Thí sinh Phạm Khánh Linh làm bài thi Lịch sử chiều 2/6 tại hội đồng thi trường THPT Quang Trung (Đống Đa, Hà Nội)
Photo Nhu Y/Tienphong
   
Thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên và trưởng thành sau chiến tranh, qua những năm tháng đèn sách trong trường phổ thông và cả đại học, họ được giáo dục thế nào về lịch sử? Và nay qua phương tiện Internet họ có thể tiếp cận những nguồn thông tin khác hẳn mà họ được học ở nhà trường cũng như các kênh tuyên truyền chính thống, họ có thắc mắc, đặt vấn đề và đi tìm câu giải đáp cho những nghi vấn của bản thân và bạn bè đồng trang lứa ra sao?

Từ những trang sách về lịch sử của cuộc chiến


Thế hệ những học sinh, sinh viên ở miền bắc cũng như tại miền nam sau năm 1975 luôn được nhà trường giáo dục niềm tự hào về đất nước Việt Nam qua những chiến thắng oanh liệt chống Pháp, đánh tan đế quốc Mỹ… dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ vĩ đại…
Họ, những người trẻ ấy đã mang niềm tự hào và tiếp nhận giá trị lịch sử từ nhà trường, qua các phương tiện tuyên truyền chính thống của nhà nước cho đến khi những phương tiện truyền thông hiện đại được phổ biến giúp họ cơ hội tiếp cận nhiều hơn, sâu hơn về những bài học lịch sử được nhồi nhét thuở còn thơ. Từ  đó, họ bắt đầu đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời…
Châu Quyên, một người trẻ nói về điều này:
“Tất cả những cái gì được nói trong sách giáo khoa, được tuyên truyền trước đây thì bây giờ người ta đều đặt câu hỏi là có thật hay không có thật.”
Niềm tin của những người trẻ này hoàn toàn không còn bị buộc chặt với những gì họ được truyền nhận qua sách vở ở nhà trường. Bên cạnh họ còn có những thế hệ lớn hơn, những người đã trải qua  gần trọn vẹn hai cuộc chiến kể cho họ biết về những gì đã xảy ra. Thêm vào đó, với thực tế những gì đang diễn ra trong xã hội họ đang sống, niềm tin của họ bắt đầu lung lay, họ phải đặt câu hỏi và đi tìm.

Sách giáo khoa sau thời điểm chiến tranh dạy như thế thì trẻ con hiểu như thế thôi. Sau 1975 đến giờ thì những đứa trẻ đó đã trưởng thành rồi. Họ bắt đầu so sánh, đặt câu hỏi và đi tìm tòi, thì bây giờ người ta có những câu trả lời cho chính câu hỏi của mình
Châu Quyên
Trên trang tài khoản facebook cá nhân của một người tên là Bạch Cúc có ghi: “Rồi lịch sử trong những trang sách giáo khoa đã nuôi dưỡng trong tôi sự thù hận, tôi hận bọn Mỹ, bọn Ngụy ghê ghớm. Tuổi thơ đầy ắp những dấu hỏi sao bọn Mỹ, bọn Ngụy lại ác đến thế?
Khi phải đọc và thuộc lòng những đoạn mô tả hình phạt tra tấn khủng khiếp bọn Mỹ Ngụy dành cho các chiến sĩ cách mạng là hầu như tôi đều sợ đến mức nổi da gà, rùng mình và ám ảnh mãi với những hình ảnh khủng khiếp…Chúng khiến cho tâm hồn tôi, tuổi thơ tôi nhuốm đầy máu bạo lực, sự sợ hãi và cả sự hận thù sâu sắc…”
Những lời ghi nhận của tác giả Bạch Cúc vô tình làm gợi lên câu chuyện về bức ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan chĩa súng vào đầu một tù nhân Việt Cộng trên đường phố Sài Gòn năm 1968, một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về chiến tranh Việt Nam.
Có lẽ không một ai, dù là thế hệ trước hay sau chiến tranh mà không biết đến tấm ảnh nổi tiếng này, trên sách giáo khoa hoặc truyền thông chính thống trong nước.
Nhưng không phải ai cũng được biết rằng 30 năm sau, trong cuộc phỏng vấn với tạp chí Times năm 1998, nhiếp ảnh gia chiến trường Eddie Adwards, tác giả của bức ảnh lịch sử ấy phải thốt lên rằng “Tôi đã giết chết vị tướng ấy bằng cái máy ảnh của mình.” và ông khẳng định: “Ảnh chụp là vũ khí quyền lực nhất trên thế giới.”

Báo VNExpress đăng bài - Lịch sử không phải để thù hận.
Báo VNExpress đăng bài - Lịch sử không phải để thù hận.

Là người thuộc thế hệ chuyển giao giữa hai chế độ, Châu Quyên, với một tuổi thơ gắn liền sông nước của miền Tây Nam bộ cũng tự nhận mình đã đọc và tìm hiểu rất nhiều ngoài những gì được học trong nhà trường, nhất là lịch sử:
“Sách giáo khoa sau thời điểm chiến tranh dạy như thế thì trẻ con hiểu như thế thôi. Sau 1975 đến giờ thì những đứa trẻ đó đã trưởng thành rồi. Họ bắt đầu so sánh, đặt câu hỏi và đi tìm tòi, thì bây giờ người ta có những câu trả lời cho chính câu hỏi của mình.”
Với một xa lộ thông tin truyền thông hiện đại như hiện nay, không quá khó để tìm thấy sự bày tỏ thương tiếc về một xã hội mà 40 năm trước, trong những trang sách giáo khoa gọi là ‘nguỵ quân nguỵ quyền, độc ác, đánh chiếm một nửa đất nước Việt Nam’ có nhiều điều phải xem lại.
Cô Châu Quyên tiếp lời:
“Không phải người ta thương nhớ không thôi mà người ta luyến tiếc thời đó. Thời điểm đó người ta tôn trọng tính nhân bản rất nhiều. Đến thời điểm này sau 40 năm, xã hội Việt Nam nhiễu nhương quá nên người ta bắt đầu đặt những câu hỏi ngược lại về lịch sử. chứ cách đây 10 năm chắc không có ai đặt câu hỏi đó làm gì.”
Chị Thư Nguyễn, người sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Gia Lai bạc ngàn sau năm 1975 có nhận định tuy khá nhẹ nhàng, nhưng tựu trung vẫn là những câu tự hỏi lòng:

Liệu có anh hùng Núp không? Có Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai không? Có Lê Văn Tám tự thiêu không? Tôi suy nghĩ lại phải chăng đó chỉ là những hình nộm hoặc những hình ảnh quá cao siêu được xây dựng nên?
“Tôi may mắn được sống và lớn lên trong thời bình, nghĩa là trong cảnh quê nhà không có bơm rơi đạn nổ. Thật sự nói về lịch sử cuộc chiến 1975 thì anh hùng hay kẻ thù của hai bên chiến tuyến chỉ được biết đến thông qua sách giáo khoa từ văn thơ, lịch sử hoặc xem báo đài, tivi. Nhưng điều đó chỉ dừng lại ở sự tiếp nhận. Bên cạnh đó, mình được sự chia sẻ, dạy dỗ, minh chứng từ những người thương yêu xung quanh, những người mà mình rất tin tưởng. Do đó, với tôi, chiến tranh đổ máu mới độc ác. Còn lại chỉ là cuộc chiến giữa hai chế độ.”

Cho đến những anh hùng và và sự kiện

Không thể phủ nhận hoặc không tự hào về hình ảnh Hoài văn hầu Trần Quốc Toản với lá cờ thêu sáu chữ vàng “Diệt cường địch, báo hoàng ân” đã tức giận bóp nát quả cam vì không được vào tham dự bàn việc nước. hình ảnh đó thấm sâu vào tâm trí của chúng ta từ thuở nhỏ và chưa bao giờ chúng ta có nghi vấn để mày mò đi tìm sự thật.

Phòng thi môn sử chỉ có hai thí sinh tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai Q3, TP.HCM chiều 2-6
Phòng thi môn sử chỉ có hai thí sinh tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai Q3, TP.HCM chiều 2-6 (Ảnh: Như Hùng/TT)

Vẫn là lịch sử, nhưng, hình ảnh của anh hùng Núp, của Nguyễn Văn Trỗi, Lê Văn Tám ngày nay đang trở thành những câu hỏi lớn cho thế hệ trẻ.
“Càng nhìn nhận lại anh hùng hay kẻ thù thì tôi nhìn nhận ra là liệu có anh hùng Núp không? Có Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai không? Có Lê Văn Tám tự thiêu không? Tôi suy nghĩ lại phải chăng đó chỉ là những hình nộm hoặc những hình ảnh quá cao siêu được xây dựng nên?”
Và họ khẳng định, sau khi trải qua những buổi học thuộc lòng trong quãng thời gian cắp sách đến trường:
“Đúng đó là những hình nộm. Hình nộm được dựng lên để có mục đích trong việc tuyên truyền cho đấu tranh giải phóng miền Nam, cách nói theo phía bên kia người ta bảo như thế.”
Không phải người trẻ chỉ đi tìm sự thật về những người anh hùng mà họ được dạy phải học thuộc lòng, bây giờ họ đi tìm cả sự thật về những những sự kiện tiêu biểu trong từng giai đoạn lịch sử.
“Thời gian thực hiện cải cách ruộng đất rơi vào thập niên 50, 60. Lứa tuổi của tôi không chứng kiến được. Sau này học lịch sử của nhà trường cũng không đề cập vấn đề này. Nhưng có một sự bắc cầu ở đây là chúng ta đặt quá nhiều câu hỏi vì có quá nhiều bất cập so với sách vở và thực tế. người ta bắt đầu tìm thông tin trên mạng.….Phong trào đó được chỉ đạo và người ta phải làm theo.”

Vậy, thời điểm này họ đã có câu trả lời cho mình chưa?

Cũng từ tài khoản facebook của người tên là Bạch Cúc có ghi: “Tôi đã bị bịt mắt quá lâu trong một đường hầm đen tối để rồi tôi hoang mang, hụt hẫng, đau đớn khi phải lần mò từng bước, lần mò tìm lại từng chút ánh sáng của sự thật để trở thành như ngày nay, tôi thật sự tiếc vì đã mất quá nhiều thời gian…”
Với Châu Quyên thì cô cũng cho rằng nhiều người ở thế hệ trẻ hiện nay cũng đã có câu trả lời cho những thắc mắc của họ.
“Đúng, tại thời điểm này ai cũng có câu trả lời cả. Có điều nó nằm trong suy nghĩ của mỗi người,chưa chuyển thành hành động mà thôi. Giới trẻ thế hệ 9X, 8X cũng đặt câu hỏi mà, chứ không nói cái thời 7X hay thời chuyển giao giữa hai chế độ.”

Sự thật mà bị che dấu dưới bất kỳ hình thức nào đi nữa thì cũng không tốt, bởi vì sự thật được phơi bày quá muộn thì sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ
Châu Quyên
Khi mà: “Trăm năm bia đá cũng mòn. Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” thì sự thật của lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nhất là những trang sử đó là những sách giáo khoa góp phần xây dựng một ý thức hệ cho tương lai của một dân tộc. Thế nhưng, chính những người đã được tiếp nhận ý thức hệ đó đang phải đi tìm minh chứng sửa lại những gì họ được học.
Và, với nguồn tài liệu không giới hạn của truyền thông internet, thế hệ trẻ ngày nay có nhiều cơ hội để đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc xuất phát từ thực tế của xã hội xung quanh.
Phần lớn họ là những người sinh ra khi cuộc chiến vừa kết thúc. Như nhận định sau đây của một thanh niên sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên và có cuộc sống ở miền Nam Việt Nam:
“Thật ra giới trẻ bây giờ không quan tâm. Nhưng bắt đầu tầm khoảng từ ba mươi mấy trở lên bắt đầu tìm đọc xem cái gì thật sự đang diễn ra trên nước mình trước đây. Mình bỏ qua bước đánh giá lịch sử là đúng hay sai, họ làm đúng hay sai, mà trước mắt hãy đọc để biết xem cái gì đã diễn ra.”
Qua những gì diễn ra trong xã hội đang sống, và phương tiện truyền thông hiện đại, họ tìm đến dòng lịch sử và thừa nhận giá trị của lịch sự bằng chính tư duy của mình.
“Có những người tìm đọc lại từ thời chính phủ Trần Trọng Kim trước năm 45 trước đây gọi là chính phủ bù nhìn. Bây giờ người ta đọc lại thì thấy rằng với thời điểm đó, những người đó phải hoà hoãn với chính phủ nhật để giữ hoà bình cho Việt Nam, mà sau này bị kết luận là chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đi theo người Nhật. bây giờ mình đọc lại tất cả và mình nhận xét cái nào thật cái nào không.”
Lịch sử của một dân tộc là niềm tự hào của dân tộc ấy. Con người và sự kiện đã diễn ra trong lịch sử sẽ là nguồn gốc cơ bản cho văn hoá và tư tưởng của những thế hệ kế thừa về sau. Chính vì vậy, họ có quyền tự hào và có quyền đòi hỏi sự thật. Xin mượn lời của Châu Quyên thay cho lời kết thúc về nhìn nhận của những thế hệ trẻ sau năm 75 về lịch sử Việt Nam:
“Sự thật mà bị che dấu dưới bất kỳ hình thức nào đi nữa thì cũng không tốt. Còn sự lừa dối hay không lừa dối thì không đánh giá ở đây. Tôi chỉ muốn nói khía cạnh nếu sự thật mà bị che dấu quá lâu thì sẽ không tốt bởi vì sự thật được phơi bày quá muộn thì sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ sẽ bị mập mờ về những giá trị đó, không biết cái nào là đúng cái nào là sai.”

 

Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử

Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-04-22     
        
  04222015-discri-after-fall-saigon.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh  
Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì. Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737
Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì. Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737
RFA files photos            
   
Đánh dấu 40 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc, một vấn đề lại được đem ra mổ xẻ, đó là có hay không câu chuyện phân biệt đối xử ngược đãi quân dân cán chính VNCH sau khi miền Bắc thống nhất đất nước và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Công dân hạng hai trên đất nước mình
Sau khi chiến tranh Quốc-Cộng kết thúc vào ngày 30/4/1975, quân dân cán chính của chế độ VNCH chịu nhiều thống khổ và bị phân biệt đối xử. Tình trạng này chỉ được cải thiện vào cuối thập niên 1980 khi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành đổi mới.
Theo nhà báo Lê Phú Khải, nguyên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) tại Đồng bằng sông Cửu Long thì dùng các từ “ngược đãi” “phân biệt đối xử” là chưa chuẩn xác, vì thực tế nó ghê gớm và kinh khủng hơn thế rất nhiều. Từ Saigon ông Lê Phú Khải nhận định:
“ Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước.”
Trong khoảng một thập niên kể từ ngày 30/4/1975,  nếu nói quân dân cán chính VNCH và gia đình của họ trở thành công dân hạng hai ngay trên đất nước mình thì cũng có nhiều phần đúng. Bởi vì chính sách của Đảng Cộng sản đã thay đổi tận gốc nền tảng xã hội ở Nam Việt Nam, quyền tư hữu đất đai không còn, các đợt cải tạo công thương nghiệp tư doanh đã quốc hữu hóa đồng loạt khối doanh nghiệp tư nhân dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Ngoài ra rất nhiều tài sản và nhà ở của sĩ quan cao cấp, viên chức VNCH bị tịch thu với những lý do mơ hồ như có nợ máu với nhân dân, hoặc bị chụp mũ là tư sản.
Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước
nhà báo Lê Phú Khải
Những sai lầm chết người
Ông lê Phú Khải nhận thức từ hiểu biết qua công tác nhà báo của mình, ngay trong những năm đầu khi Miền Nam khởi sự được nếm mùi xã hội chủ nghĩa. Ông nói:
“ Ngoài Hà Nội tôi đã chứng kiến rồi, chứ trong Nam đương nhiên là như thế, người ta nóng vội đi lên chủ nghĩa xã hội không tưởng, cái chủ nghĩa xã hội mà ông Nguyễn Phú Trọng nói là đến cuối thế kỷ này chưa chắc đã hình thành đấy. Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976 cho tới đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, sau đó là đổ mới thì mới bắt đầu có khá lên được.”

Nhà báo Lê Phú Khải qua thời gian làm phóng viên, rồi thường trú Đài Tiếng nói VOV ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhớ lại một thời kỳ đảo điên ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước thống nhất. Ông nói:
“ Tôi chứng kiến nhiều lắm, ví dụ một ông chủ tiệm giày bị đuổi đi khai hoang ở Tây Ninh, nhưng khi ông thấy “đổi mới” cán bộ bắt đầu đi giày rồi, bắt đầu nhảy đầm rồi thì ông ấy kéo cả gia đình về; bây giờ ông lại có tiệm giày. Hay là ông chủ ô tô chẳng hạn, ông ấy bảo tôi có chiếc xe chở khách họ biến thành công tư hợp doanh, tôi biết công tư hợp doanh sau này dứt khoát sẽ phải trả lại tôi. Vì sao, ông ấy bảo họ đến lấy cái ô tô nhưng phụ tùng chả ông nào lấy, tôi để phụ tùng dưới gầm giường. Tôi biết mấy ông này ở nhà quê ra chẳng biết gì về ô tô, ô tô cũ phải có phụ tùng để sửa chữa. Y rằng sau này phải trả lại ô tô cho chủ cũ. Như vậy nói là ngược đãi là chưa đúng phải nói là đường lối sai lầm dẫn đến những bi kịch, những thảm họa của đất nước.”
Mặc dù hệ thống tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam cố gắng viết lại lịch sử theo quan điểm chính trị chứ không phải những sự thật đã xảy ra, nhưng sự kiện hơn 100.000 sĩ quan và viên chức VNCH bị đưa vào các trại tù khổ sai được gọi một cách mỹ miều là tập trung cải tạo thì không thể nào chối cãi và nói khác đi được. Tất cả những quân cán chính VNCH bị đi cải tạo tập trung sau 30/4/1975 nói chung đều đã bị giam cầm cả chục năm, người ít nhất thì cũng từ 3 năm tới 5 năm.
Ông Nguyễn Ngọc Tiên, cựu Trung úy Quân lực VNCH từng bị tù cải tạo 6 năm và sau khi được thả lại bị thêm 2 năm tù về tội phản động phát biểu từ San Jose Bắc California Hoa Kỳ:
Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976
nhà báo Lê Phú Khải
“ Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ. Chúng tôi không thấy một hình thức nào gọi là muốn đào tạo cho người ta tốt hơn mà giống như hình thức của họ hết.”
Ông Đỗ Mạnh Trường cựu viên chức VNCH đã bị cải tạo tập trung 8 năm và hiện định cư ở  Wesminster Quận Cam California phát biểu:
“Tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện, những người ở Miền Nam có gia đình họ ở Miền Bắc vào thăm thì họ cũng khuyên câu đầu tiên là các bác các chú ráng cải tạo cho tốt để được về với gia đình. Nhưng mà sau một thời gian thì những người này không dám nói điều đó nữa, đó là sự ngụy biện hoàn toàn, bởi vì nếu không có áp lực của thế giới thì chắc chắn là tất cả cựu quân nhân dưới danh nghĩa đi tù cải tạo sẽ chẳng còn được mấy người mà về. Xin nhấn mạnh rằng cho đến năm 1979 có một số người được chở vào Thanh Phong Thanh Hóa để biến thành trại viên thay vì phạm nhân theo danh nghĩa họ nói. Họ đã được trả lại đồng hồ được phép đi ra khỏi trại mà không phải có tụi nó dẫn theo thì họ lại được khuyến khích là trong một thời gian ngắn nữa các anh sẽ đưa vợ con các anh ra ngoài này. Thử  hỏi giả sử chính sách đó kéo dài thì thế hệ hay giai cấp có còn hay không hay tất cả con cái chúng ta đã trở thành người Thượng hết chỉ sau một thời gian rất ngắn.”
Trong khi người chủ gia đình theo lệnh Chính quyền đi học tập cải tạo, thực chất là đi tù thì vợ con họ ở nhà trở thành công dân hạng hai, không thể xin việc làm, con cái những người sĩ quan, viên chức VNCH đi cải tạo bị tước đoạt cơ hội vào đại học. Vì chính quyền phân loại các thí sinh thi vào đại học thành 4 nhóm và mỗi nhóm còn chia tới 14 thành phần. Con “ngụy” thời đó gọi là như thế, muốn vào đại học phải có điểm thi nhiều gấp đôi con cán bộ đảng viên mới có thể trúng tuyển, thí sinh đại học thời đó từng chế câu “học tài thi phận” thành “học tài thi lý lịch”. Một sự thật không thể chối cãi là sau khi đất nước thống nhất, đã chẳng có hòa hợp hòa giải gì, mà ngay trong giáo dục cũng đã phân biệt đối xử giữa con cán bộ và con “ngụy quân-ngụy quyền.”
Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ
Ông Nguyễn Ngọc Tiên
Nhà báo Lê Phú Khải nhận định:
“ Không chỉ ở miền Nam mà ở miền Bắc trước kia gia đình trí thức tiểu tư sản, địa chủ tư sản còn bị phân biệt đối xử nữa là sau này ‘giải phóng miền Nam thống nhất đất nước’. Cho nên việc thi vào đại học rồi đối xử không công bằng giữa các thành phần là chuyện hiển nhiên ai cũng thấy… Chuyện phân biệt đối xử lấy giai cấp công nông làm gốc rồi phân biệt đối xử với các giai cấp khác là sai lầm từ gốc rồi, cái này là có thật…mấy ông sử gia chẳng qua là bồi bút thôi, nói để vui lòng bè đảng để thăng quan tiến chức thôi. Chứ bản thân tôi là gia đình toàn cán bộ, thậm chí là cán bộ cao cấp của Đảng, nhưng khi ở Hà Nội ở xóm tôi mấy ông về hay đi xe máy, xe đạp do vậy xã nó phê cho là gia đình tư sản thế là 2 năm trời tôi không được vào đại học. Bản thân tôi đã chịu cái cảnh đó cho nên cái đó là có thật chứ không phải người ta bịa ra.”
Sau chiến thắng 30/4/1975, nếu không bỏ lỡ một thập niên u mê đem chính sách cải tạo năm 1954 ở miền Bắc vào áp dụng ở miền Nam, thì có lẽ Việt Nam đã tiến xa hơn nhiều và nếu đảng Cộng sản thực tâm muốn hòa hợp hòa giải thì đã không có làn sóng vượt biển tìm tự do kéo dài từ giữa năm 1975 đến 1990. Nhiều người đã tìm được bến bờ tự do nhưng hàng trăm ngàn người không may đã vùi thây đáy biển.
40 năm sau khi kết thúc cuộc chiến, ở đâu là nỗi vui mừng của người chiến thắng và ở đâu là tiếng thở dài u uất của người dân Việt.

Monday, April 20, 2015

Wednesday, April 15, 2015

Biện pháp không dùng thuốc với người mất ngủ

Biện pháp không dùng thuốc với người mất ngủ

Biện pháp không dùng thuốc với người mất ngủ

Thuốc an thần gây ngủ là thuốc hướng thần cần được dùng theo chỉ định của bác sĩ, không tự ý mua dùng vì dùng sai sẽ bị nghiện rất nguy hiểm.
Thuốc an thần còn có tên là thuốc an thần giải lo hay thuốc an thần gây ngủ vì có tác dụng an thần nếu dùng liều thấp, tức làm giảm sự đáp ứng với kích thích ngoại cảnh đưa đến giảm lo lắng, bồn chồn, bất an; gây ngủ nếu dùng liều cao hơn, tức khởi phát và duy trì giấc ngủ khi bị mất ngủ. Thông thường, người ta hay dùng thuốc an thần để trị mất ngủ.
Nhiều nguyên nhân gây mất ngủ
Cần lưu ý mất ngủ là triệu chứng của nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Có thể do ngoại cảnh như: tiếng ồn, lạ nhà, sự phiền muộn, chất kích thích (trà, cà phê, rượu), thuốc (chống trầm cảm, kích thích hệ thần kinh trung ương, glucocorticoid…), sai lầm trong ăn uống (no quá, đói quá). 
Có thể do bệnh tiềm ẩn như bệnh trào ngược dạ dày - thực quản, trầm cảm, hô hấp (hen suyễn), xương khớp (viêm xương khớp), tim mạch (suy tim), nội tiết (đái tháo đường, cường giáp)... Mất ngủ cũng có thể liên quan đến một số rối loạn giấc ngủ khác như: ngừng thở khi ngủ, hội chứng chân không yên khi ngủ.
Tập thể dục và thực hiện các phương pháp thư giãn có thể giúp dễ ngủ mà không dùng thuốc Ảnh: TẤN THẠNH
Tập thể dục và thực hiện các phương pháp thư giãn có thể giúp dễ ngủ mà không dùng thuốc Ảnh: TẤN THẠNH
Hiện nay ở nước ta, nhiều người thường dùng thuốc tây (tân dược) như diazepam (Seduxen, Valium) thuộc nhóm benzodiazepin để trị mất ngủ. Riêng ở Mỹ, Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) chỉ chấp thuận 5 loại thuốc dùng trong điều trị mất ngủ: flurazepam (Dalmane), estazolam (Prosom, Nucfalon), temazepam (Normison, Restoril), triazolam (Halcion), quazepam (Doral). Ngoài ra, còn có thuốc mới như zolpidem (Stilnox), zaleplon (Sonata), zopiclone (Imovane), buspirone (Buspa)…
Thuốc an thần giải lo có thể gây ra các tác dụng phụ có hại như: lú lẫn, ảnh hưởng đến trí nhớ, nhận thức, làm thay đổi thái độ, hành vi… Nhưng nguy hại nhất là gây nghiện giống như ma túy. Cần đặc biệt lưu ý, thuốc an thần gây ngủ là thuốc hướng thần cần được dùng theo chỉ định của bác sĩ, không tự ý mua dùng vì dùng sai sẽ bị nghiện rất nguy hiểm.
Riêng đối với rối loạn lo âu đưa đến mất ngủ do trầm cảm sẽ được chỉ định dùng thuốc chống trầm cảm như: amitryptilin, nortryptilin hoặc trazodon, sertralin... Tuy nhiên, các loại thuốc này cũng phải được bác sĩ cho dùng, không nên tự ý dùng vì dùng không đúng sẽ gặp nguy hiểm.
Biện pháp không dùng thuốc
Đối với người mới bị mất ngủ, trước khi tính chuyện dùng thuốc, có thể thực hiện các biện pháp không dùng thuốc giúp ngủ tốt như sau:
- Nên ngủ và thức giấc vào một giờ nhất định.
- Hạn chế việc ngủ trưa (nếu cần, ngủ thật ít hoặc chỉ nằm chứ không ngủ khi khó ngủ vào ban đêm).
- Chuẩn bị giường ngủ thích hợp (thoáng, tối, yên tĩnh). Cần xem giường ngủ là nơi chỉ để ngủ.
- Tránh uống cà phê, trà đậm vào buổi tối trước khi ngủ.
- Tránh đi ngủ với bụng no quá hoặc đói quá.
- Thường xuyên tập thể dục (không nên tập ít nhất 4 giờ trước khi ngủ).
- Luyện tập phương pháp thư giãn, chống stress (yoga, thở dưỡng sinh, thiền định).
Người mới bị mất ngủ có thể dùng thuốc là thảo dược theo kinh nghiệm dân gian có tác dụng an thần như: nhãn lồng, tâm sen, trinh nữ, lá vông nem… hoặc dùng thuốc từ dược thảo đã bào chế sẵn như Rotunda (củ bình vôi), Mimosa (phối hợp nhiều dược thảo).
Nếu thực hiện các biện pháp trên mà không cải thiện thì nên đi khám bác sĩ để biết mất ngủ do nguyên nhân từ đâu, từ đó có thể sử dụng thuốc phù hợp với tình trạng bệnh.
 Bởi lẽ, khi rối loạn lo âu khiến mất ngủ do trầm cảm mà lại dùng thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepine kể trên sẽ bị trầm cảm nặng hơn hoặc có thể dẫn đến nguy cơ tự tử.

PGS-TS Nguyễn Hữu Đức

Người Việt thích nổ

Người Việt thích nổ
 
Nguyễn Hưng Quốc
 
[Theo đài VOA, ông Nguyễn Hương Quốc là nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Theo chúng tôi, người Việt trong và ngoài nước đều thích nổ gióng nhau, vì “nổ” là bản chất và văn hóa dân tộc.]
VOA 14.04.2015
Năm 2011, nhân các thảm họa xảy ra tại Nhật, giới cầm bút hay nói đến văn hóa ứng xử của người Nhật, từ đó, ít nhiều liên hệ đến người Việt.
So sánh người Việt và người Nhật, chắc chắn chúng ta thua nhiều thứ. Nhưng có một điều chúng ta nhất định không thua: tật nổ.
Tôi không nói đến từng cá nhân. Từ góc độ cá nhân, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những kẻ khoác lác. Người Việt Nam chưa chắc đã hơn. Thậm chí còn thua nữa là khác. Ở đây, tôi muốn nói đến người Việt với tư cách một tập thể.
Sống ở Úc khá lâu, tôi chỉ nghe người Úc, từ giới chính trị gia đến giới trí thức hay giới bình dân, hay nói Úc là một quốc gia may mắn (lucky country), nhưng thường thì người ta nhấn mạnh thêm: May mắn, chưa đủ; Úc cần phải trở thành một quốc gia giàu kỹ năng (clever country), hoặc, hơn nữa, một quốc gia giàu sáng kiến (smart country). Đất rộng và nhiều tài nguyên thiên nhiên, chưa đủ; người Úc cần có chiến lược thật sáng suốt để khai thác và tận dụng những của cải Trời cho ấy.
Ở Việt Nam thì ngược lại. Ở đâu chúng ta cũng nghe những tiếng nổ um trời. Trên báo chí. Trên tivi. Trên các đài phát thanh. Về địa thế thì Việt Nam nằm ở điểm giao lưu của hai nền văn hóa cổ kính và lớn nhất châu Á: Trung Hoa và Ấn Độ. Về thiên nhiên thì “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Về lịch sử thì đánh thắng hết đế quốc này đến đế quốc khác. Về đảng và lãnh tụ thì là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại”. Còn về con người thì toàn là anh hùng, ra ngõ là gặp ngay anh hùng, khiến cả thế giới đều ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến độ nhiều người ngoại quốc cứ mơ ước có một phép lạ nào đó biến mình thành... người Việt Nam.
Nhiều người đã phê bình cái tính thích nổ ấy. Sớm, thẳng thắn và cay đắng nhất là Nguyễn Duy trong bài thơ “Nhìn từ xa... Tổ quốc” sáng tác năm 1988, trong đó có mấy câu:
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày? 
[...]
Xứ sở thông minh sao thật lắm trẻ con thất học lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
[...]
Xứ sở thật thà sao thật lắm thứ điếm điếm biệt thự - điếm chợ - điếm vườn...
Tuy nhiên, ở đây, tôi sẽ không bàn đến khoảng cách giữa những điều người ta tuyên truyền và thực tế. Tôi chỉ muốn tập trung vào một sự nghịch lý khác: trong sự khoác lác của người Việt, đặc biệt của bộ máy tuyên truyền, có cái gì như thiếu tự tin, nếu không muốn nói thẳng ra là tự ti. Mà thật ra, về phương diện tâm lý, sự khoác lác thường xuất phát từ sự tự ti hơn là tự hào thực sự. Và vì tự ti cho nên khi khoác lác, người ta hay cầu cạnh đến một số thế lực khác, chủ yếu là từ người ngoại quốc.
Chuyện báo chí Việt Nam đánh bóng tên tuổi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cách đây mấy năm là một ví dụ điển hình (1). Người Việt khen nhau, người ta thấy chưa đủ. Người ta cần một người ngoại quốc. Nếu không có người ngoại quốc có thẩm quyền thì người ta bắt đại một ông chuyên về rác và các loại chất phế thải. Nếu không có thật thì người ta bịa. Tiêu biểu nhất là vụ Vũ Hạnh bịa ra cái tên A. Pazzi, một người Ý, khi in cuốn Người Việt cao quý ở Sài Gòn vào năm 1972. Sau này, Vũ Hạnh tiết lộ là động cơ chính thúc đẩy ông viết cuốn sách ấy là để kích động lòng tự hào dân tộc, từ đó, gián tiếp tiếp sức cho phong trào phản chiến và chống Mỹ do cộng sản chủ trương lúc ấy. Nhưng để kích động lòng tự hào dân tộc mà lại phải mượn một cái tên ngoại quốc, kể cũng mỉa mai quá, phải không?
Những chuyện mượn danh và uy tín của người ngoại quốc để tự khen mình hoặc để chứng minh điều gì đó là đúng nhan nhản trên sách báo và ở các hội trường tại Việt Nam. Trong viết lách, nhiều người cho việc trích dẫn một tác giả Việt Nam khác là xoàng. Trích dẫn, phải trích dẫn một tác giả ngoại quốc mới là sang. Không đọc được ngoại ngữ thì trích dẫn qua trung gian của một tác giả Việt Nam khác nhưng lại giấu nhẹm tên tuổi tác giả Việt Nam ấy đi!
Chán.
Nguyễn Hưng Quốc
 
Chú thích:
Xem bài ““Báo chí nước ngoài” ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Thật ra chỉ là một trò lừa bịp!” của Nguyễn Tôn Hiệt trên
http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=11922 và bài “Thông Tấn Xã Việt Nam biến rác thành vàng để lừa bịp nhân dân” cũng của Nguyễn Tôn Hiệt trên http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=11928. 
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.