Tuesday, September 23, 2014

Chuyện tình cô Y sĩ Công an (Cựu Nữ Sinh Gia Long)

Chuyện tình cô Y sĩ Công an


Chu Tất Tiến



(Tất cả các nhân vật trong truyện đều mang tên thật, trừ Cô Đại úy Y sĩ Công an)


Ngày tôi gặp lại Dung ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, cô giật mình, lùi lại như nhìn thấy một bóng ma. Khuôn mặt cô tái hẳn đi, cặp môi xinh xinh cong lên, như định thốt lên một tiếng kêu. Chừng vài giây sau, cô định thần lại, nhìn tôi với cặp mắt sâu thẳm. Trên chiếc áo choàng trắng của Bệnh viện, và giữa luồng ánh sáng của những ngọn đèn trần, làn DA trắng tinh của cô hình như trong hơn và mịn màng hơn.

Tôi cười nhẹ nhàng :

- Chào Dung ! Dung vẫn khỏe chứ ?

Dung không trả lời tôi. Cô vẫn nhìn chăm chăm vào mắt tôi. Một lúc sau, lâu lắm, cô mới thốt lên lời. Giọng cô vẫn nhỏ nhẹ như xưa :

- Anh mới được về hả ?

Tôi gật đầu và mỉm cười. Nhìn dáng Dung trong chiếc áo choàng trắng tinh ấy, tôi lại bồi hồi nhớ lại những ngày xưa, không, không xưa lắm, mới có hơn ba năm thôi, Dung cũng mặc chiếc áo trắng ấy, mà hồn tôi rộn rã, bừng bừng, như muốn bốc cháy.

***

Năm ấy, tôi vừa được chuyển trại về K.30 (*). Thật Ra, trước khi đổi sang K.30, tôi ở Đội 3, nhà 12, K.4. chỉ cách nhà cũ của tôi một lớp hàng rào mỏng. K.30, là trạm Y Tế của cải tạo, nơi điều trị các người tù bị bệnh nặng, trong đó có Nhạc sĩ N.V.Đ và Bác sĩ T.T.A, tác giả loạt bài nổi tiếng trước 1975 “Lương Tâm của Người Thầy Thuốc”. Nhạc sĩ N.V.Đ thì đã bị sưng tất cả các khớp xương tay và chân, không đi đứng được. Mỗi khi ông muốn đi từ nơi này sang nơi khác, phải nhờ anh em cõng. Bác sĩ T.T.A. bị bệnh “Đi cầu không người lái”, nghĩa là khi nào ông chuyển bụng, thì tất cả chất thải cứ tự nhiên toát Ra ngoài vì hậu môn ông không còn khả năng khép kín. Ông phải dùng một nùi giẻ bện lại, và đóng nút như đóng nút chai, nhưng vẫn không thể kềm được khi ông quá mắc. Chỗ nằm của ông hôi thối kinh khủng, ông không thể múc nước tắm một mình và cũng vì đã lớn tuổi, lại yếu, nên không làm vệ sinh Chung quanh giường của mình. Thỉnh thoảng, Bác sĩ Khánh và tôi phải dựng ông đứng dậy, múc nước tắm cho ông và dội giường ông cho trôi phân đi. Ngoài hai nhân vật đặc biệt này là các bệnh nhân kinh niên mãn tính. Tôi nhớ có một anh mới phát giác bị phong cùi qua những mảng đen đặc trên mông, vài anh ho Lao, một anh bị bệnh vẩy-nến rất nặng. Khi anh vẩy-nến tắm, anh trần truồng ngồi cạnh cái giếng, múc nước dội một mình, vì lúc anh bước chầm chậm Ra giếng, là anh em bỏ vô nhà hết, không AI dám tắm Chung với anh, một khối thịt đỏ ửng từ đầu xuống chân, nứt nẻ ngang dọc, ở những khe nứt đó, nước vàng chẩy Ra nhễ nhãi.

Khu K.30 có 4 dẫy nhà, hình chữ W, không kể nhà bếp. Ba dẫy hình chữ U dành cho bệnh nhân. Dẫy giữa chia làm hai. Một đầu là tủ thuốc chứa đầy Xuyên Tâm Liên, phòng khám bệnh, và nơi “giao ban” của các y, Bác sĩ Quân y cũ chịu trách nhiệm chăm sóc các bệnh nhân với một Đại Úy Y Sĩ Công An của trại tù. Hai phần ba của dẫy này là chỗ ngủ của các Y, Bác sĩ và ba người chúng tôi, làm các việc linh tinh, như chẻ củi, gánh nước, phụ bếp, và giúp các bệnh nhân tất cả mọi việc mà Y, Bác sĩ không làm. Lúc tôi tới trại, đã có khoảng hơn 10 bác sĩ, một Nha sĩ, một phụ tá Nha sĩ. Trong số các Bác sĩ điều trị, có Bác sĩ Đàm, Y sĩ trưởng Sư đoàn 18, và một vị Bác sĩ già, nguyên là Y Sĩ của Cố Tổng Thống Diệm, sau này thành Thượng Nghị Sĩ. Mỗi buổi sáng, tất cả các Y, Bác sĩ, nhân viên của K. 30 phải ngồi trên đầu giường của mình và “giao ban” với tay Công An Y Sĩ Trưởng của trại tù, một chức vụ rất lớn, chỉ thua Quản Đốc trại tù, mà có phần hơn, vì anh này chịu trách nhiệm về sức khỏe của toàn thể 5 trại K. tù và tất cả các công an coi trại. Anh at ngồi vào chiếc bàn độc nhất trong phòng, nghe các y sĩ điều trị báo cáo tình hình bệnh nhân và cứu xét đề nghị xin chuyển bệnh nhân ra Bệnh Viện ngoài nếu cần cấp cứu. Tuy chức nghiệp chỉ là Y sĩ, có trình độ như Y tá và đôi khi còn thấp hơn Y tá của chế độ cũ, nhưng anh này có toàn quyền quyết định trên vấn đề Y khoa của các Bác sĩ, cũng như có quyền ký giấy cho tù nhân được ra trại dựa trên tình trạng sức khỏe. Tôi nhớ có một bệnh nhân, xuất huyết nội, được các Bác sĩ đề nghị cho ra ngoài cấp cứu gấp, nhưng tay Y sĩ ỷ mình tốt nghiệp Liên Xô, cứ cho là bệnh trĩ, không cần đi đâu, chỉ cho uống thuốc giảm đau, nên bệnh nhân đã chết sau hai ngày quằn quại. Buổi giao ban kế tiếp, anh Y sĩ này chỉ nói có một câu đơn giản :

- Thôi, kỳ này ta mắc khuyết điểm. Kỳ sau khắc phục !

Thế là một mạng người ra đi, một Sĩ quan chết trong tức tưởi chỉ vì sự phán quyết ấu trĩ của một tay Y tá. Chúng tôi chia phiên ngồi canh xác anh bạn, vì có mấy anh bạn nhát ma, nên tôi nhận luôn ca đêm, từ 12 giờ đến 3 giờ sáng. Trong căn phòng trống lạnh, tôi ngồi cạnh xác anh, bên ngọn đèn dầu leo lét, tay phải luôn xua xịt lũ chuột cống cứ nhào lên định cắn chân tay người chết. Không sợ ma nhưng nước mắt tôi chảy lưng tròng, uất hận cái tên Y sĩ ngu xuẩn kia, cho dù hắn không trực tiếp cầm súng bắn anh em, nhưng cái chết lãng xẹt vì sự ngu xuẩn đó cũng là một điều đáng căm thù. Cho đến một ngày, đời tôi có những đổi thay kịch liệt.

Một buổi sáng chờ đợi giao ban mãi không thấy bóng áo vàng của tay Đại Úy cao cao kia, anh em ngồi chờ, bàn tán mông lung. “Có lẽ hắn bị thượng mã phong, chết mẹ nó đêm qua rồi !”, bác sĩ Đ. nói đùa. Tất cả hùa theo, cười ầm ĩ.

Khoảng nửa tiếng sau, bất ngờ nghe bên ngoài có tiếng xôn xao của các anh em trong hai trại bên cạnh, nhóm chúng tôi đứng hẳn dậy, nhìn ra phía cổng vào và bất ngờ nhận thấy người đang tiến tới chỗ giao ban là hai cô công an áo vàng. Một cô cao, một cô thấp. Cô cao trông lạnh lùng, nghiêm khắc trong khi cô thấp đeo kính trắng có vẻ hiền hơn.

Đang nhớn nhác nhìn ra, chúng tôi không kịp đứng nghiêm lại khi cô cao tới trước bậc thềm, và bước vào trong một cách nhanh nhẹn. Nhìn thấy dáng bộ chúng tôi lu bu, cô cao muốn tỏ uy quyền, nên cảnh cáo liền bằng một giọng Nam Kỳ đặc :

- Các anh đứng trật tự lại. Anh nào báo cáo thì báo cáo đi !

Nghe giọng oai nghiêm của cô, Bác Sĩ Đông là trưởng nhóm Y sĩ, vội đứng nghiêm và lập bập báo cáo :

- Thưa cô…

Vừa nghe xong hai tiếng “Thưa cô”, cô cao chỉnh liền :

- Anh nói cái gì ? Ai cho anh gọi tôi bằng “cô” ? Từ nay, các anh phải “thưa Cán bộ”. Nghe rõ chưa ? Tôi là Đại Úy Dung, Y sĩ trưởng của trại cải tạo này. Tôi thay thế Đại Úy X. đi công tác xa.

Và, chỉ tay về phía cô thấp, cô Đại Úy giới thiệu :

- Còn đây là Y Sĩ Phụng, phụ tá của tôi.

Anh Đông, người Nam, vốn tính hiền hòa, nên khi bị “chỉnh” thì hơi run :

- Dạ, thưa Cán Bộ, vâng !

Người Y sĩ Công an kia nhìn thẳng vào anh Đông, kiêu kỳ :

- Anh tên gì ?

Anh Đông lúng túng thấy rõ :

- Thưa Cán bộ, tôi là Trương Đông, trưởng nhóm chuyên khoa ở đây.

Cô cán bộ nhìn lướt qua từng người trong nhóm với cặp mắt vẫn lạnh lùng :

- Còn các anh kia, từng người báo cáo đi !

Lần lượt, các Y sĩ và ba tên phục vụ chúng tôi báo cáo tên họ. Nghe qua hết một lần, cô Y sĩ cho tất cả ngồi xuống và bắt đầu nghe báo cáo tình hình từng bệnh nhân, trong khi cô Phụng vẫn đứng gần bên, nhìn chúng tôi một cách lạnh lùng.

Nghe xong phần báo cáo, hai cô ra lệnh cho tất cả các Y sĩ hướng dẫn đến từng giường bệnh nhân, hỏi qua tình trạng sức khỏe từng người và ghi ghi chép chép trong sổ tay của các cô. Thái độ của các cô vẫn hoàn toàn băng giá nhưng đã đột nhiên thay đổi khi tới giường của anh nhạc sĩ Đại Tá N.V.Đ. Nhìn thấy anh ngồi trên giường với hai đầu gối co rút lại, những khớp ngón tay đã sưng to, và cả thân thể gầy ốm, trơ xương, nhưng ánh mắt vẫn hiên ngang, nhìn thẳng vào cô Cán bộ Công an với một vẻ thách thức, cô Dung bất ngờ chớp mắt lia lịa. Cô hỏi anh, với giọng xúc động :

- Phải anh là tác giả của các bài Chiều Mưa Biên Giới và Hải Ngoại Thương Ca ?

Người nhạc sĩ tài hoa hơi mím môi, trả lời :

- Phải !

Cả cô Dung và cô Phụng đều mất đi vẻ lạnh lùng. Hai cô liếc nhìn nhau một thoáng rồi cùng quay lại nhìn người Nhạc sĩ. Chừng một phút sau, cô Dung nhìn toán người đi theo sau, nói nhỏ :

- Thôi, đi !

Rồi không cần kiểm tra tiếp nữa, cô bảo nhóm Y sĩ tiếp tục làm việc, còn hai cô ra về. Trên đường đi ra cổng, bóng hai cô chập sát vào nhau, thì thầm.

Bọn chúng tôi ở lại, ồn ào, tán phét. Chúng tôi cùng cho rằng hai cô người Sàigòn, từng nghe nhạc của nhạc sĩ N.V.Đ. nên dù cho là Công an, nhưng vẫn chưa quên hết những mộng mơ của những cô gái áo trắng ngày ấy. Tôi quay lại với anh Đ., cười cười :

- Anh Đ. ơi ! Thế là anh sẽ về sớm hơn anh em đấy ! Anh cứ tin em đi !

Anh Đ. chỉ hơi nhếch môi, thái độ thận trọng cố hữu của anh :

- Không biết đâu, em ạ !

Tôi vẫn cười :

- Em biết chắc mà ! “Cán bộ” mới nhìn thấy anh là run rồi ! Nhất định sẽ ký giấy cho anh về sớm !

Anh Đ. vẫn lắc đầu, không có vẻ lạc quan một chút nào :

- Anh cũng biết mà ! Cấp bậc của anh to quá, khó lắm ! Dầu cho người ta có nể mình, nhưng còn cấp trên. Đâu dễ, em !

(Điều anh nhận xét “đâu dễ” rất đúng. Cho dù có sự can thiệp của cô Dung để đưa anh ra Bệnh viện ngoài đến ba lần, trở đi trở lại mãi đến vài năm sau, anh mới được tha về.)

Còn nhóm chúng tôi, lúc đầu thấy nữ Cán bộ đến quản lý, thì cũng là lạ, nhưng vẫn cứ đề phòng từ lời nói đến cử chỉ, không để cho ai có dịp “đì” mình, nhất là phái nữ. Mỗi ngày, hai cô đều đến một lượt, nghe báo cáo, rồi đi qua từng giường bệnh, xem biểu đồ tiến triển của bệnh nhân, mà quyết định cho ra ngoài điều trị. Khoảng một tháng sau, không thấy cô Phụng đến nữa, chỉ còn mình cô Dung. Thái độ của cô dần dần cởi mở hơn, không còn hằn học như ngày đầu nữa. Giọng nói của cô cũng dễ nghe. Anh em cũng vui vẻ hơn khi thấy cô không khó khăn như tay Đại Úy trước, hễ thấy ai trở bệnh nặng là cho xe díp tới chở ra Bệnh viện bên ngoài ngay. Dĩ nhiên, anh N.V.Đ được ưu tiên ra ngoài ngay. Mỗi lần như vậy, cô ngồi bên cạnh tài xế, dĩ nhiên là một Công an. Bệnh nhân nằm cáng, được đặt song song với chiều dài của xe, anh Y sĩ trực tiếp coi bệnh nhân thì cầm hồ sơ, đi theo, ngồi bên cạnh một tay Công an khác. Những lần ra ngoài như vậy, người sung sướng nhất là vị Y sĩ trực tiếp coi bệnh, đứng chờ sẵn, khi nghe thấy cô ra lệnh :

- Anh Nhân, lên xe đi với tôi !

Hoặc anh Phượng, anh Khánh, anh Lộc, tùy theo bệnh nhân nằm nhà nào thì vị Y sĩ trực nhà đó được đi. Đã nhiều năm quanh quẩn trong tù, chỉ nhìn thấy Công an hay Bộ đội, nay được ra ngoài, hít thở chút không khí tự do, được nhìn thấy “người ta”, thì anh nào cũng thích. Lũ chúng tôi thèm quá chừng, nhưng chỉ biết đứng nhìn bạn mình lên xe.

Ngay cả anh Đào, Nha sĩ, cũng ngẩn ngơ. Rồi chiếc xe chầm chậm lăn bánh qua khỏi những hàng rào kẽm gai chi chít…

Từ những ngày ấy, liên hệ của các anh Y sĩ với cô Dung có phần nhẹ nhàng hơn. Cô không cau có, không ra lệnh như ngày đầu, mà chỉ trao đổi trong phần chuyên môn. Những gì cô không hiểu, cô hỏi với sự kính nể, không như anh chàng Đại úy trước. Còn tôi, chả cần lưu tâm đến cô, vì với phận sự một anh hộ lý, một chàng bổ củi, gánh nước, tôi chẳng có lý do gì lại gần cô. Cứ sau giờ giao ban, tôi đi một mạch ra giếng, gánh đầy nước vào các thùng đựng nước để nấu cơm, rồi làm mọi công việc linh tinh khác. Tôi cứ ngỡ đời tôi rồi tàn tàn như thế cho đến mãn kiếp vì không hy vọng có ngày về cho đến một hôm…

Sau khi làm đủ công việc hàng ngày xong, tôi lôi cây đàn Ghita ra ngồi bậc cửa, dạo vài cung nhạc và tự dưng trong lòng buồn bã, nhớ về người vợ hiền đang cực nhọc nơi nào, tôi hát luôn một bài Trịnh Công Sơn. “Vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi…” Hát tới câu này, hồn tôi chùng xuống, tôi lặp đi lặp lại hai ba lần. Nước mắt tôi lãng đãng rơi xuống. Vài giọt rớt trên phím đàn. Nhìn thấy giọt nước làm nhòe thân đàn, tôi lấy ngón tay cố chùi cho khô, rồi đột nhiên linh cảm thấy có ai đang nhìn mình, tôi vội ngước lên và thấy Dung đang đứng đó tự hồi nào. Chắc Dung đã nhìn tôi vừa hát vừa khóc. Cô sững người giây lát và chừng như thấy mình có thái độ sai lầm với một tên tù, Dung vội quầy quả bước đi. Tôi cũng bối rối, một phần vì sự ướt lệ của mình, một phần vì tôi đang ở trần, chỉ mặc mỗi cái quần xà loỏn để làm việc.

Ngày hôm sau, khi giao ban, tôi ngồi tránh xa chỗ cô, và không liếc cô một lần. Hình như cô cũng gượng gạo hơn mọi ngày, nên chỉ nói qua loa rồi dọt mất. Thời gian trôi qua, sự việc hôm đó cũng nguôi ngoai. Rồi Tết đến. Theo chỉ thị của cô, anh em phải trang hoàng lại chỗ làm việc cho ra vẻ Tết. Biết tôi có khiếu trang trí, mấy anh y sĩ năn nỉ tôi làm sao cho đẹp. Nổi hứng, tôi đi xin một cái vỏ dừa khô, cưa làm hai, rồi tẩn mẩn dùng dao làm bằng kẽm gai, khắc nổi bên ngoài vỏ dừa hình một Ngư Nhân bơi trong một hồ sen. Tôi lấy một cái nắp sắt, cắm mấy cái đầu đinh ngược lên, rồi đốt bao nylông cho nhỏ xuống đầy cái nắp thành một ổ cắm hoa, bỏ trong vỏ dừa. Sau đó, ra ngoài kiếm mấy bông hoa rau muống, hoa dừa, và lá rau dền, tôi cắm một bình hoa tròn trịa, để trên bàn của cô. Còn trên tường, tôi kiếm giấy nâu đen, cuốn lại thành một cành hoa mai, dán lên tường, sau đó dán thêm vài cánh mai vàng giả, và viết vài chữ thảo “Chúc mừng năm mới” bên cạnh. Thế là phòng họp tự nhiên biến thành… Tết ! Được anh em khen ngợi, lòng tôi cũng vui vui, nhưng không rộn ràng bằng khi cô đến. Nhìn thấy bình cắm hoa đơn sơ nhưng rất lạ, cô cầm lên, hơi thất sắc, hỏi :

- Anh nào làm thế ?

Anh Đông chỉ tay vào tôi ngồi ở cuối hàng. Cô nhìn tôi một lúc lâu, rồi nhìn lên tường, và quay xuống tôi, nói vỏn vẹn hai chữ :

- Đẹp lắm !

Sau đó, cô ngồi ngắm nghía bình hoa mãi đến quên cả tinh thần buổi họp. Anh Đông phải nhắc “Thưa Cán bộ...”, cô mới giật mình, trở lại trao đổi với các anh Y sĩ. Trước khi đứng dậy, đi về, cô còn liếc tôi một lần rồi mới xoay chân.

Dung vừa ra khỏi cổng, anh Nhân cười hí hí :

- Thế là Tiến chết rồi nhé ! Cô để ý rồi, là chỉ có mất mạng thôi !

Cả nhóm cười ồn ào. Tôi chỉ biết nhún vai, cười theo. Trong lòng tự nhiên xôn xao giây phút. Hình ảnh nguời con gái Nam Kỳ, (lúc ấy tự nhiên tôi quên mất cô là Đại Úy Công An), có cặp mắt lá răm, làm tôi vương vấn. Nhưng chỉ trong một vài phút, chợt nhớ đến vợ hiền, con thơ, tôi lắc đầu, xua đuổi mấy tư tưởng hắc ám đi và tiếp tục công việc của mình, như không có gì xẩy ra. Nhưng thực tế, có chuyện xẩy ra. Ngày kế tiếp, sau buổi họp, cô gọi nhỏ anh Đông lại, nói chi đó, rồi đưa cho anh ta một gói quà. Cô vừa bước ra, anh Đông nói ầm lên :

- Lại đây ! Lại đây ! Xem cô tặng quà cho anh Tiến này !

Tất cả xô lại. Trong tay anh Đông là một cuốn vở mới tinh, mấy cây bút chì mầu, và bút Bic, loại quà rất hiếm trong giai đoạn đó. Anh Đông giơ cao món quà và nói :

- Những cái này là cô tặng cho anh Tiến. Không ai được đụng tới.

Anh nói đùa :

- Ai đụng tới quà của anh Tiến là vô “con-nếch” (1) ngồi ngay !

Mọi người cười ầm ĩ. Anh Nhân lại nhắc lại :

- Chết Tiến rồi ! Chết Tiến rồi ! Ông liệu hồn đấy !

Trong nhóm các Y sĩ ở Bệnh xá, Bác sĩ Nhân và tôi là thân nhau nhất. Hai thằng ăn cơm chung với nhau, chiều chiều sau khi ăn cơm, hai thằng hay thả bộ vòng quanh trại, tâm sự vụn. Tụi tôi hợp nhau không chỉ vì tính nết mà còn vì tình đồng môn nữa. Nhân học trên tôi một lớp, và cũng ở nội trú Đắc Lộ trước khi vào Y khoa. Tối hôm ấy, như thường lệ, hai thằng vừa đi vòng vòng vừa nói chuyện. Nhân nửa đùa nửa thật, hỏi tôi:

- Lỡ ra, em mê ông, cho ông về sớm, bắt ông lấy, thì ông tính sao ?

Tôi cười hinh hích, đùa lại :

- Thì lượm luôn, chứ sao ?

Nhân hỏi tới :

- Còn vợ con thì sao ?

Tôi khựng lại, hết đùa :

- Nói vậy chứ không phải vậy ! Làm sao lấy vợ Công an Cộng sản ? Giỡn mặt với tử thần à ?

Hai thằng cười phá lên. Tưởng đùa cho vui. Làm gì có chuyện ái tình với người Cộng Sản !

Mà, nếu tôi đừng đùa thêm nữa, thì chắc câu chuyện cũng không tiến xa hơn. Nhìn cuốn tập Dung tặng và mớ bút chì mầu, tôi không biết xử dụng vào chuyện gì cả. Tự nhiên, Nhân nẩy ra ý nghĩ táo bạo, bảo tôi :

- Ê, sao ông không vẽ cho cô một vài bức tranh, cho cô chết luôn !

Tôi gật gật :

- Có lý ! Có lý !

Hôm sau, khi ngồi bên dưới nghe Dung trao đổi với các bạn, tôi ngồi ngắm Dung và vẽ lia lịa, nhưng có thay đổi. Tóc cô Công An thì ngắn, tôi cho bay lượn lung tung. Áo Dung là bộ quân phục mầu vàng dợn, tôi biến thành áo dài, cho em đi hết lên đồi, lại xuống bờ hồ, rồi thông, rồi hoa, Dung trong cuốn vở của tôi là một thiếu nữ Sàigòn, một mẫu người của thời đại 75 mà các Họa sĩ khác hay vẽ trên các tập nhạc, các cuốn báo tuổi thơ. Tôi vẽ được khoảng 20 tờ, thì lẳng lặng để trên bàn của Dung, trước giờ giao ban. Khi em bước vào, thấy cuốn tập đã cho tôi lúc trước thì ngạc nhiên, không mỉm cười chào ai như lệ thường mà mở luôn ra xem. Càng xem, cặp mắt Dung càng mở lớn. Một nụ cười Mona Lisa nở trên môi. Dung coi tới coi lui mấy lần, rồi mới đặt xuống, hỏi cho có lệ :

- Anh Đông, ai vẽ vậy ?

Anh Đông lấy tay chỉ về phía sau :

- Thưa cô, anh Tiến đó ạ !

(Buổi đầu tiên, Dung bắt mọi người phải gọi cô bằng hai chữ “Cán Bộ”, nhưng dần dần, quen thuộc rồi, cô cũng chẳng bắt bẻ, khi có người quên mà gọi bằng chữ “cô”. Từ đó, anh em quen luôn, cứ gọi bằng “cô”.)

Dung mỉm cười, nhìn xuống chỗ tôi, nói nhỏ vừa đủ nghe :

- Cám ơn anh.

Khi Dung về rồi, cả nhóm xúm lại bàn tán râm ran, vui cười thỏa thích, nhưng không ai đoán được chuyện gì sẽ xẩy ra.

Chuyện xẩy ra lại ngoài ý tưởng tượng của mọi người.

Vài ngày sau, Bác sĩ T.T.A. trở bệnh nặng, Dung quyết định cứu ông bằng cách cho ông ra bệnh viện ngoài. Đợi cho tôi đặt ông vào cáng xong, Nhân lẳng lặng bước tới, tay ôm xấp hồ sơ bệnh lý, chờ cô nói một câu là leo lên xe, vì Bác sĩ T.T.A. là bệnh nhân do anh trông coi. Bất ngờ, cô nói với Nhân :

- Anh Nhân ở lại. Anh Tiến đi với tôi !

Nhân chưng hửng, lúng túng giao tập hồ sơ cho tôi, rồi lui lại. Tôi cũng ú ớ, nhưng nhìn vào mắt Dung, thấy đó là một quyết định không thể thay đổi, tôi vừa mừng vừa run, dợm bước lên phía sau cùng với tay Công an trẻ, như mọi lần Nhân vẫn ngồi thế. Lại bất ngờ nữa, cô ra lệnh :

- Anh Tiến ngồi trên này với tôi !

Tôi hồi hộp chờ Dung ngồi vào ghế xong, mới dám ké né ngồi xuống bên cạnh chiếc ghế xe díp vừa đủ cho một bộ mông. Dung xích vô phía trong rồi lôi tôi ngồi sát vào cô và nói :

- Anh ngồi như thế, thì xe vừa chạy là đã té nhào !

Không còn cách nào hơn, tôi ngồi sát vào Dung. Hai cặp mông như dính với nhau trong lòng chiếc ghế. Xe mở máy chạy. Tôi nhìn liếc từ trước ra sau. Tay tài xế cùng với tay Công an bảo vệ đều mở trừng mắt nhìn tôi, như muốn ăn tươi nuốt sống, nhưng chắc chúng sợ, không dám hó hé, vì Dung là người coi như có quyền thế nhất ở trại này. Ai dám nói hỗn khi biết rằng mình sẽ có ngày mắc bệnh…

Trong khi xe còn trong vòng trại, hàng trăm cặp mắt nhìn theo, ngạc nhiên thấy tôi ngồi như ôm lấy cô Đại Úy Y Sĩ trên chiếc díp… Mà hình như có ôm thật, vì chỗ chật quá, nếu tôi không ôm lấy cô, thì nhất định khi xe cua trái phải, tôi sẽ văng ra khỏi xe ngay. Thật ra, cả hai đứa đều phải bám vào nhau cho khỏi ngã ra ngoài, vì chỉ có một tay Dung là nắm lấy khúc dây bảo vệ đính vào phía trên cửa, còn tay kia thì Dung ôm ngang hông tôi, còn tôi thì tay trái vòng ra sau lưng của Dung, ôm chặt, còn tay phải thì đặt lên đùi Dung…

Gió ơi là gió ! Gió thiên nhiên ! Gió Tự do ! Lần đầu tiên trong mấy năm trời tù ngục, tôi được ôm sát một người thiếu nữ, không cần biết là Công an hay người thường, chỉ cần biết là mùi hương từ thân thể em ngột ngạt mũi tôi, gió thổi tóc em mơn man mặt tôi, mỗi khi xe thắng gấp, môi tôi muốn đụng vào má em, gò má hồng hồng con gái… Thân thể hai đứa như áp lấy nhau. Tôi thì không dám mở miệng trong tình huống như vậy, còn Dung cũng không nói gì nhiều, em đang thưởng thức giây phút êm đềm đó. Chỉ một vài lời trao đổi ngắn ngủi, nhất là có tới bốn cặp mắt, bốn cái tai đang hướng về chúng tôi, những cặp mắt cú vọ của hai tên Công an, một tên tài xế và một tên an ninh.

Chừng khoảng nửa giờ sau, đến cửa Bệnh viện, tôi thở ra và cố ngồi dang ra một chút. Xe ngừng lại trước cửa cấp cứu. Một vài cô Y tá bước ra, đón bệnh. Tôi xuống trước, bước ra phía sau để chuẩn bị bế Bác Sĩ A. sang giường bệnh. Bất ngờ, khi tôi vừa cúi xuống, thò tay vào dưới lưng và mông người bệnh để nhấc ông lên, cái nút bịt hậu môn của ông bật ra… Một dòng phân nóng đầy máu mủ phóng vào mắt mũi, đầu tóc tôi… Kinh hoàng ! Trong một thoáng, tôi chới với, suýt nữa thì ném ông xuống đất, nhưng vì đã quen với dơ dáy của tù ngục, nên chỉ vài giây sau, tôi bình tĩnh bế ông lên và đặt ông vào chiếc giường của Bệnh viện. Đắp chăn cho ông xong, tôi quay lại thấy mấy cô Y tá đang đứng mở to mắt kinh hãi nhìn đầu tóc tôi dàn dụa phân, máu, và mủ. Phân đầy mắt, máu đầy tai, mủ nghẹt lỗ mũi. Tôi vẫn tỉnh bơ hỏi chỗ để rửa mặt. Hai ba cô ú ớ chỉ cho tôi cái vòi nước máy gần đó. Tôi tàn tàn bước đi trong ánh mắt thương cảm của Dung. Em đứng nhìn tôi ngơ ngẩn. Thái độ tự tin của tôi chắc làm tim em rung động thêm một nhịp. Bài hát họ Trịnh, những bức tranh tôi vẽ cho em, chiếc bình hoa tự chế đã làm cho trái tim khô của cô Công an đập sai nhịp, nhưng cảnh “người hùng” bình tĩnh bế bệnh nhân đi tỉnh bơ trong phân và máu mủ đầy người làm cho em hoàn toàn khuất phục. Có lẽ lúc đó, hình ảnh tôi tràn ngập trái tim em khiến em quên hết sự cách biệt cực kỳ giữa một Công an Cộng Sản và một anh tù thuộc chế độ cũ. Và từ đó, một xáo trộn mới đã đẩy đưa cô tới một quyết định quan trọng vô cùng, thay đổi toàn bộ cuộc đời cô... Nhưng chuyện đó, để sau sẽ kể tiếp.

Rửa ráy tay chân, đầu tóc, và quần áo xong, tôi ngồi ngoài trời, hong người cho khô và chờ em. Mãi không thấy em ra, tôi bước vào phòng khám bệnh, ngồi chờ. Vừa lúc đó, một phụ nữ trẻ tiến đến bàn Bác sĩ chẩn bệnh, cởi nút áo ra và xin Bác sĩ tìm cách gắn giùm núm vú vào, vì mới bị ông chồng ghen cắn gần đứt. Núm vú vẫn còn tòng teng chưa rơi xuống. Ông Bác sĩ lắc đầu, cười, và viết giấy cho người kém may này vào phòng trong, chờ khâu lại. Tôi đang nín cười vì cảnh tượng tức cười của người phụ nữ trẻ đưa bầu vú no tròn cho ông Bác Sĩ xem, thì em bước ra, thấy cảnh ấy, em cũng cười hích hích rồi ra dấu cho tôi rời đi. Đã tưởng là sẽ về trại ngay, nào ngờ em nói với tay Công an tài xế của em đưa tôi vào chợ chính của Thị xã ! Tới cửa chợ Biên Hòa, em chờ tôi bước xuống, rồi quay lại nói với hai tên Công an bảo vệ của em :

- Các đồng chí đi đâu thì đi, khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa thì quay lại đón tôi !

Trời ! Một tên tù được đi với cô Đại Úy Y Sĩ Công An em vào trong lồng chợ. Hai tay Công an thì ở lại, coi xe ! Tôi run run đi cạnh em, bộ quần áo trây di “ngụy” của tôi sóng vai cùng với áo vàng và quân hàm Đại úy làm hầu như cả chợ xôn xao. Nhưng em cũng tỉnh bơ, dắt tôi, vâng, em nắm tay tôi bước lại quầy bán đường, đậu và mua cho tôi mấy kí đường, mấy kí đậu. Vào thời gian đó, đậu, đường với người tù là vàng, là ngọc, còn da thịt đàn bà là chăn, là gối trên chốn thiên đình. Tôi như hoa mắt đi, không nói được lời nào, trong khi em kể tôi nghe đủ thứ chuyện. Em kể cho tôi nghe, em vốn là Nữ sinh Gia Long, gia đình em là dạng “nằm vùng”, ba em là Bí thư đảng ủy. Vừa học xong Tú Tài 1, em theo lời ba má và anh chị, bỏ vào bưng, hoạt động trong hệ thống Y tế. Em đươc đi học Y tế dưới sự hướng dẫn của một Bác sĩ Công an tốt nghiệp Liên Xô, sau 75, em trở lại Thành phố, học thêm Y tá rồi làm Công an, được thăng lên làm Y sĩ. Em cứ kể, tôi cứ nghe, thỉnh thoảng chỉ chen vào một lời. “Vâng, thưa chị !”

Em nhăn mặt :

- Sao anh cứ gọi em bằng “chị” ? Em không thích tiếng đó đâu !

Tôi ú ớ :

- Vâng, chị, à… cô...

Em nguýt tôi một cái muốn xiêu đình, đổ quán :

- Không được gọi bằng cô luôn !

Tôi nín lặng, không trả lời. Chừng như thấy bắt bí tôi như vậy đã đủ, em hát nho nhỏ cho tôi nghe về những bản nhạc vàng hồi ấy, em coi trên đời này không có ai, chỉ có em và tôi. Em nói về nhạc sĩ N.V.Đ và những bản nhạc mà em mê mẩn. Em bảo em đã làm mọi phương cách cho anh Đ. về sớm, nhưng vì lon lá của anh to quá, tới mức Đại Tá lận, nên cấp trên còn chần chừ ! Ngày cuối trước 30 tháng Tư, anh Đ. còn là Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng ! Khó cho em lắm, nhưng em sẽ cố. Vì em cùng với lũ bạn em ở Gia Long là những người mê nhạc anh Đ. nên em thuộc mấy bài tủ và thỉnh thoảng, bây giờ, vẫn lén hát một mình.

Trong khi em nói, thì người tôi như bay bay. Một phần vì từ lâu quá rồi, tôi không được thấy.. người ta, không thấy ông già, bà cả, không thấy thiếu nữ ngồi bán bánh bên chợ, không thấy trẻ em cầm mẹt bánh, kẹo chào mời, không thấy nhà cửa, không thấy gió Tự Do, nên người lâng lâng. Một phần nữa là với sức trai nửa chừng xuân, còn xung động dữ dội, nên khi đi sát cạnh một thiếu nữ tươi nở, giọng nói ngọt ngào, mơn man bên má, trí tưởng tôi cũng lượn bay mây gió. Tôi quên cả hình ảnh vợ, con, quên thân phận tù đầy, quên tất cả. Mãi cho đến khi em bảo nhỏ tôi “Mình phải về !”, tôi mới sực nhìn lại bộ quần áo tù của mình mà thở dài.

Trên đường về, cũng lại hai thân thể áp sát nhau, nhưng em hay quay sang tôi nhiều hơn làm bộ ngực em đụng chạm nhiều lần vào tay tôi nóng bỏng. Hình như tình yêu làm em không còn biết e ngại hai cặp mắt cú vọ đàng sau của tay Công an bảo vệ…

Lúc về trại, xuống xe, là đuôi mắt dõi theo nhau mãi. Bạn bè rú lên cười khi thấy tôi đi lãng đãng vào trại, hai chân như không chạm đất.

Anh Đ. chỉ tay vào tôi, nói rất to :

- Coi kìa ! Chu Tất Tiến đang ngất ngư con tầu đi !

Tôi cười mím chi, chẵng biết nói gì ! Vì có gì đâu để nói !

Một tuần lễ qua đi, tôi dần dần quên Dung vì làm việc liên tu bất tận. Bất ngờ, một buổi trưa, tay Công an trẻ, quản giáo của chúng tôi, bước vào, gọi tôi, nói một câu ngắn gọn :

- Anh Tiến lên gặp chị Dung có việc !

Tôi ngớ ngẩn :

- Gặp ở đâu ?

Tay công an nhún vai :

- Cứ đi ra ngoài cổng gác, báo cáo với anh trực là lên gặp Cán Bộ Dung, rồi đi thẳng mãi, tới ngã ba, quẹo phải, đi một hồi, thấy một căn nhà, chung quanh có vườn trồng chuối thì quẹo vào.

Tôi gật đầu và bước vào trong mặc quần áo. Tay quản giáo chờ tôi ở cổng, dặn thêm lần nữa :

- Nhớ hễ gặp rào cản thì cứ nói là gặp cán bộ Dung thì người ta cho đi !

Nói xong, hắn bỏ đi, không thèm nhìn lại. Anh Đ. kéo tay tôi lại, cười hí hí :

- Phen này, có bị mất trinh, thì nhớ tường trình sự việc, nghe chưa !

Tôi ráng cười không thành tiếng, mà lòng hồi hộp kinh khủng. Làm đúng như lời tay quản giáo dặn, tới chỗ nào có rào cản, là tôi chỉ cần nói mấy chữ thần chú “Cán bộ Dung” kia, là lập tức cổng mở ra ngay, không có một lời thắc mắc. Tên của em nghe vang lừng trong trại rồi. Thật tình, tôi không sợ bị kẹt, mà chỉ sợ chính mình ! Đầu óc tôi làm việc mâu thuẫn như điên giữa hai tên Thiện và Ác. Tên Thiện cho biết là lên gặp em là chỉ để nói chuyện ái tình. Mà nói chuyện ái tình giữa một chàng trai ba mươi mấy với một em xấp xỉ ba mươi trong một môi trường khép kín, thì nhất định là phải tới mục hai thân thể xáp vào nhau… Như thế, thì tôi phản bội vợ tôi mất rồi. Không lẽ lại bỏ bê người đã mấy năm chịu đựng khốn khổ, thăm nuôi tôi? Không được! Nhưng, ngược lại, tên Ác bảo tôi rằng đây là cơ hội hiếm có để tôi có thể được tha về ! Ở tù “Mút chỉ cà tha”, tự do không có, chả biết lúc nào bị “bụp”. Lấy vợ là Đại úy Y Sĩ Công An thì như mặc áo có “Hộ tâm Kính” bảo vệ rồi, chả đứa nào dám đụng chạm đến mình trong xã hội này ! Nhào dô ! Em lại đẹp, lại nõn nường, thân thể nóng bỏng của em làm cho bất cứ tên đàn ông nào cũng phải chẩy nước dãi, em lại chả đòi hỏi điều kiện chi… Nhào dô ! Như thế, hai tên Thiện và Ác ở hai vai cứ đánh nhau linh tinh làm tôi mệt nhoài.

Đến chỗ có một căn nhà ba gian, nằm giữa một hàng rào cây trái bao quanh, tôi gần như run bắn người. Phen này chắc chết quá ! Thoát không nổi ái tình rồi ! Tôi lập bập đi vào truớc cửa. Từ trong nhà, trông thấy tôi, Dung nhanh nhẹn bước ra ngay. Trời ơi là trời ! Chân tôi như nhũn ra, tim tôi đập mạnh như trống làng, mắt tôi muốn hoa lên. Dung mặc áo choàng Bệnh viện trắng xóa, đứng ngay bậc cửa. Ngay phía bên kia tường là một khung cửa sổ mở rộng.

Ánh sáng ban trưa chiếu thẳng từ cánh cửa đó vào người Dung, xuyên qua hết, để cho tôi nhìn thấy Dung không mặc đồ lót. Nguyên vẹn thân thể của Dung hiện rõ từng nét, như một thân hình Venus đang hiện diện ngay trước mắt tôi, đẹp không thể tả. Bộ ngực no tròn căng lên dưới áo. Và cặp mông cũng căng tròn, bụng, và cặp chân xuôi nét…Ôi ! Tôi run rẩy, chân bước không tới. Dung cười cười :

- Vào đi, anh ! Đừng để ai thấy anh đứng ngoài !

Lời mời mọc này còn làm tôi nổi gai ốc lên nữa. Tôi lập cập bước vào trong. Căn nhà đơn giản, chẳng có gì ngoài một chiếc giường đôi, trải chiếu hoa, một tấm chăn để ngay ngắn trên đầu, một cái bàn gỗ làm việc, với gương lược. Một cái tủ đựng đồ dựng cuối phòng. Một kệ đựng sách. Vài chiếc ghế đẩu. Thế thôi. Không có hình “Bác”. Không có khẩu hiệu, cờ quạt gì cả. Dung chỉ chiếc ghế đẩu cạnh giường, mỉm cười :

- Anh ngồi đi !

Tôi lắp bắp :

- Chị... chị... Dung bảo tôi làm gì ?

Vẫn nụ cười bí hiểm của Venus, Dung hỏi lại :

- Anh muốn làm gì ?

Tôi đứng lên, đi lanh quanh, không biết làm gì, đành tới kệ sách :

- Dung... đọc những sách này ư ?

Dung tiến lại gần tôi, đứng ngay sau lưng. Bộ ngực Dung nhọn hoắt áp vào lưng tôi. Hơi thở em nóng bỏng. Dung không nói không rằng, chỉ với tay lấy một cuốn sách trước mắt tôi, làm cho ngực em áp mạnh vào người tôi hơn. Tự nhiên, tôi hốt hoảng, xoay lưng lại, đi vội ra phía sau. Nhìn thấy có một lu nước và một cái gáo, tôi múc vội một gáo, dội ào lên đầu. Cơn nóng trong người của một thanh niên cường tráng hừng hực như một núi lửa. Người tôi căng cứng. Tôi ngước mắt lên trời, cầu Chúa ! Lạy Chúa ! Cứu con với ! Lạy Chúa ! Cứu con với ! Con sắp chết rồi ! Con sắp phạm tội rồi ! Con chịu hết nổi ! Không còn vợ, không có con, chỉ có ái tình đang sôi sục trong con ! Cứu con với ! Ngài ơi !

Trong lúc tôi lầm bầm cầu nguyện, Dung đứng nhìn tôi, khúc khích cười. Em gọi tôi :

- Đừng đứng đấy, anh ! Lên nhà ! Tụi nó thấy...

Dù biết rằng nhà em ở một chỗ xa đường, và không có tên nào dám láng cháng lại gần nhà Cán bộ Dung, tôi vẫn run run bước lên rồi đi lanh quanh, né em. Dung cứ đi theo tôi như bóng với hình, như mèo vờn chuột. Tôi không dám nhìn em, nhìn thân thể em nõn nà, nóng bỏng. Tôi sợ tôi phản bội vợ con. sợ tôi đưa tay ra, kéo Dung lại, không phải kéo, mà là giật, là ném, là ôm chầm, là ghì lấy, là môi chạm môi, da đụng da… Trời ơi ! Chúa ơi !

Một lúc lâu sau, dùng hết sức tàn, tôi mới dám nhìn em, thều thào như người sắp chết :

- Dung… Dung… cho tôi về nhe ! Anh em đang chờ !

Nói một câu vô ý nghĩa như vậy mà cũng làm Dung cười. Nhưng dường như muốn cho cá cắn câu sâu hơn, Dung thả cho tôi về.

Tôi lại lập cập đi lạc vào đúng trại Công an. Hai ba tên nhào ra, hỏi cung, giữ tôi lại một lúc, rồi cũng cho đi.

Về tới cổng trại, báo cáo cảnh vệ xong, vào đến nơi là một băng bạn bè ập tới, sờ soạng, hỏi thăm ríu rít, rồi cười ầm ĩ. Tôi chỉ cười trừ và lăn lên giường. Muốn xỉu ! Bác sĩ Nhân gào to :

- Anh em ơi ! Tiến nó mất trinh rồi !

Tôi cười không nổi…

Một tuần sau, em lại cho người gọi tôi lên nữa. Lần này, tôi chuẩn bị sẵn. Vừa vào tới nơi là tôi ra luôn phía sau, cười cười :

- Để tôi kéo nước giếng cho Dung tắm..

Nói giỡn cho em vui, nhưng tôi kéo nước thục mạng, nhất định không lên nhà. Em đứng nhìn tôi, thở dài thườn thượt cho đến khi tôi đòi về.

Trò chơi mèo chuột này không thể kéo dài. Trận chiến giữa Ông Thiện và ông Ác đã chấm dứt, với ông Ác thua mềm. Tôi quyết định dứt khoát. Tôi không thể là kẻ phản bội ! Lần sau, em cho người đưa giấy xuống, viết ngắn gọn : “Anh phải lên ngay. Có chuyện cần giải quyết.”

Đọc xong thư, tôi thẫn thờ, phen này Dung nhất định hiến thân cho tôi, và nếu tôi lên, tôi nhất định sẽ chiều theo ý Dung, nhưng ngược lại, tôi nghiến răng trả lời tay Công an đưa thư :

- Nhờ anh nói lại với Cán Bộ Dung, hôm nay có vài bệnh nhân cần săn sóc đặc biệt. Ngày khác, tôi xin lên làm việc.

Thế là tôi thắng. Dung thua. Em giận. Giận điên người ! Một tên tù cải tạo có là quái gì mà dám chống lại cả một mời mọc ngon lành như vậy. Làm tàng ! Phách ! Lối ! Em không thèm đến giao ban nữa. Mặc cho bệnh nhân chết rấp đi ! Mấy anh Y sĩ cuống lên, gửi hết thông điệp này đến thông điệp khác qua tay quản giáo, mời cô xuống gấp, không có anh em đang nguy hiểm. Mãi rồi Dung mới tàn tàn xuống, mà xuống không đúng giờ. Không may cho em, vừa bước vào trại bệnh, lại gặp ngay tôi đang đứng săn sóc bệnh nhân. Em giật mình, mở lớn mắt nhìn tôi, rồi bước lùi ra sân, không chẩn bệnh nữa ! Nhân, bác sĩ trực, hốt hoảng. Nếu Dung bỏ về, thì người bệnh sẽ chết ! Tôi cũng hoảng, chạy một mạch vòng ra đằng trước, chặn Dung lại :

- Dung !

Tôi gọi khẩn cấp. Em lờ đi, không nghe. Tôi gọi lần thứ hai :

- Dung ! Cho …anh nói !

Nghe tiếng “anh”, Dung mới chịu đứng lại, nhưng không nhìn tôi. Không lẽ lại quay mặt em lại giữa chốn đông người, lỡ em trở mặt, kêu lính nhốt mình thì đời tàn, tôi cứ nhìn vào lưng Dung, nói một mạch :

- Dung, dù sao đi nữa, anh cũng cám ơn Dung. Nhưng có nhiều chuyện không thể nói được trong lúc này. Chỉ xin Dung từ bi, giúp cho anh bạn ra ngoài trị bệnh, không có thì anh ấy chết mất. Anh cám ơn Dung vô cùng.

Dung đứng cắn môi suy nghĩ một lúc rồi ra lệnh :

- Anh Nhân, đi với tôi, đưa người bệnh ra ngoài.

Rồi Dung đi thẳng, vẫn không nhìn tôi một lần.

Giây phút đó, là giây phút cuối cùng tôi còn gặp Dung. Em bẽ bàng, em giận tôi kinh hoàng. Em chỉ thỉnh thoảng đến, khi có lời cầu cứu, và khi đến, thì đứng ở cổng trại, không bước vào.

Tôi chỉ cười thầm. Cám ơn Chúa, cho con an toàn xa lộ. Những tưởng không còn thấy chữ Dung trong tôi nữa. Bất ngờ, vài tháng sau, khi đang đứng làm than, anh em gọi tôi rối rít :

- Ra đây ! Ra đây ! Trời đất ơi ! Thế là hết rồi nhé !

Tôi chạy vội ra để nhìn thấy một chiếc Corolla trắng chạy tàn tàn trên con đường cạnh trại tù. Trên xe là Dung và người tài xế là Th., một Thiếu tá, Kỹ sư công binh, vừa mới được thả ra hai ngày trước một cách đột ngột ! Bạn bè cười ầm :

- Cái tên kia ! Sao dám ngồi vào chỗ của Tiến hả ?

Anh Đ. vỗ vai tôi, hát ghẹo :

- Thôi là hết, em đi đường em… ha ha ha…

Tôi không nói chi, chỉ cười.

Hôm sau nữa, thấy tay thiếu tá Th. mang hòm xiểng đi vào trại, trình diện trạm gác xong, là lê đồ đi đâu đó, chắc là kiếm chỗ ở. Anh ta lấy được em, được thả về, và được làm công nhân viên ngay trong trại tù! Lòng tôi hơi đau, tiêng tiếc, nhưng rồi tự an ủi. Tái Ông thất mã, chưa chắc ai hên ai xui. Tôi biết Dung vì muốn trả thù tôi, đã khều tay Th. này, lấy cho bõ ghét !

Đúng như câu “Tái Ông được ngựa, chưa chắc đã là Hên”. Một thời gian sau, không thấy dáng em, mà một cô khác đến tiếp quản. Th. cũng không thấy nữa. Đột nhiên, một chiều, đứng dựa hàng rào nói chõ qua bên kia là bên đi lao động ở Tống Lê Chân mới về, tôi được một anh bạn kể cho tôi nghe một chuyện không thể tưởng tượng được. Đang cuốc đất, bạn tôi thấy ngay anh Trung Tá Công An, Quản Lý Trại Giam của chúng tôi, cũng đang cuốc đất như tù ở bên kia hàng rào tù hình sự! Không tin nổi mắt mình, một số bạn chạy ra, hỏi thăm. Anh Trung Tá, trưởng trại tù bây giờ cũng là Tù nhân, cười cười :

- Có chi là lạ ! Đời mà !

Sau đó, qua mấy gói thuốc ba số Năm đưa cho tay Công an quản giáo, mới được biết là chỉ vì chịu chơi, nhận làm chứng cho đám cưới của Dung và Th., một tù cải tạo, mà anh Trung Tá này bị lột lon, đi tù chung với đám hình sự ! Còn Dung, bị mất Đảng tịch, mất lon Đại Úy, mất chức vụ Y sĩ, bị tống về bệnh viện Chợ Rẫy, làm y tá thường ! Tay Th., chấp nhận bỏ vợ hai con để lấy cô công an thất tình, cũng mất việc ngay, bây giờ chắc đang đạp xích lô ná thở !

Tôi buồn cho Dung, buồn cho một mối tình điên, nhưng cũng cảm phục em, đã chấp nhận chơi là chơi hết mình, không biết sợ !

Ngay sau khi được thả về, đầu năm 1981, tôi đi tìm em ở Bệnh viện Chợ Rẫy. Hỏi thăm tên Dung, ai cũng biết. Lên lầu, tôi vào phòng trực, nhắn cho gặp cô Dung. Vài phút sau, Dung bước vào. Vừa nhìn thấy tôi, em giật mình, lùi lại, mắt mở to như thấy ma…Trong tấm áo choàng trắng, tôi thấy rõ cô nữ sinh Gia Long run rẩy.

Tôi cười nhẹ, hỏi thăm Dung vài câu. Em chỉ trả lời vắn tắt, nhưng mắt em càng lúc càng sâu thăm thẳm. Tôi hỏi địa chỉ. Em cho ngay và nói nhỏ :

- Anh tới trước 7 giờ tối.

Buổi tối, tôi đến khu Nguyễn Tri Phương, tìm mãi mới thấy nhà em. Gõ cửa, em ra mở ngay, vẫn đôi mắt làm tôi xao xuyến. Tôi giơ tay bắt tay Dung, em nắm lấy, không muốn buông. Nếu không có hai đứa nhỏ líu tíu chạy ra, có lẽ bàn tay Dung còn nằm trong tay tôi mãi. Chỉ vào hai đứa nhỏ, tôi cười :

- Con của bố Th. phải không ?

Dung không gật, không lắc, chỉ nhìn. Sao mà mắt em sâu hơn tất cả các cặp mắt mà tôi đã gặp. Mắt em chứa cả triệu câu nói, câu hờn, câu trách, câu buồn thảm, thương đau. Nhìn cảnh nhà em, tôi đoán cũng không khá. Vợ y tá, chồng đạp xích lô, có chi mà giầu nổi.

Trong câu chuyện, Dung chỉ trách tôi có mỗi một câu :

- Anh độc ác quá ! Em... thù anh !

Tôi cúi xuống, nói nhỏ :

- Tôi... Anh... xin lỗi Dung ! Mình gặp nhau quá trễ.

Hai đứa nhìn nhau im lặng. Một giọt nước mắt chợt lăn ra từ khóe mắt em. Lòng tôi bồi hồi, xao xuyến, cũng như ngày xưa, chỉ muốn ôm chầm em vào lòng, muốn hôn lên cặp môi căng mọng kia... để trả nợ em, trả mối ân tình sâu đậm của em, cũng vì tôi mà đời Dung tàn tạ. Nhưng tay tôi vẫn cứng khô. Tôi không thể làm gì hơn, ngoài một câu nói vô nghĩa :

- Dung, đừng khóc. Tôi... Anh…

Biết là càng ngồi, nỗi buồn càng sâu, tôi đứng dậy, đi về. Dung không tiễn tôi, chỉ có đôi mắt lá dăm theo tôi đến mãi cuối đường. Trời hôm đó không mưa mà áo tôi ướt đẫm.



Chu Tất Tiến.

Ghi chú : Nhân vật nữ chính vẫn ở Sàigòn, nên không tiện nêu tên thật. Tên trại Tù cũng không thể kể, chỉ những ai biết K.30 thì rõ. Bác sĩ Đ. và nhạc sĩ N.V.Đ. vẫn còn ở Việt Nam. Các bác sĩ Khánh, Lộc, Đông, đã qua Mỹ, nhưng không biết ở đâu. Nha Sĩ Đào ở Thủ Đô Tị Nạn. Riêng Bác sĩ Nhân đã chết sau mấy lần vượt biên không thành và còn bị từ chối đi diện bảo lãnh. Vợ anh ở Canada đã lấy chồng khác, không chịu bảo lãnh. Anh mất trước khi có diện H.O

11 loại vũ khí lợi hại cua Mỹ và đồng minh

11 loại vũ khí lợi hại cua Mỹ và đồng minh
 
On Wednesday, September 10, 2014 6:06 PM, bach huynh  



Click image for larger version Name: z11.jpg Views: 0 Size: 64.9 KB ID: 658459 
Máy bay không người lái MQ9 Reaper, súng laser Avenger hay xe tăng tàng hình ADAPTIV... giúp quân đội Mỹ chiếm một phần ưu thế trên mọi chiến trường.
Máy bay không người lái MQ9 Reaper

Nhà sản xuất: General Atomics Aeronautical Systems (GA-ASI)


Reaper đã ra mắt 13 năm, nhưng được sử dụng chủ yếu cho hoạt động tình báo và trinh sát. Hiện nay, phi đội F-16 của Mỹ cũng được chuyển giao dần thành đội bay hoàn toàn không có người lái.

Reaper là chiếc UAV lớn nhất trong kho vũ khí của Mỹ với sải cánh dài 25 m. Tải trọng cất cánh khoảng hơn 3 tấn, thời gian bay tối đa là 36 tiếng.

Máy bay có thể phát hiện mục tiêu di chuyển từ khoảng cách 3 km khi đang bay ở độ cao trên 15.000 m. Nó cũng có khả năng mang một quả tên lửa không đối đất hoặc không đối không nặng 225 kg. Trong tương lai, đội quân UAV này sẽ hỗ trợ rất lớn cho Không quân Mỹ.

Súng AA12 Atchisson Assault

Nhà sản xuất: Maxwell Atchisson



AA-12 được thiết kế để bắn như một khẩu súng trường tấn công. AA-12 mang hình dáng của các dòng súng trường tấn công hiện đại, nhưng lại có sức công phá uy lực của một khẩu súng trường thế kỷ XXI.

Với thiết kế chống lại các tác nhân tự nhiên, AA-12 có khả năng bắn ngay cả khi bị vùi dưới cát, thậm chí là khi bị ngập trong nước, súng vẫn có thể khai hỏa mà vẫn giữ uy lực như trong điều kiện bình thường.

AA-12 có hai chế độ bắn là bán tự động và hoàn toàn tự động. Với chế độ bán tự động, nó hoạt động tương tự như một khẩu Shotgun thông thường theo cơ chế là “Shot-Grap”.

AA-12 sử dụng băng tiếp đạn thông thường, gồm hai loại 5 viên tiêu chuẩn hoặc 8 viên đầu đạn nổ áp suất cao FRAG-12. Ngoài ra, nó còn có các biến thể sử dụng băng tiếp đạn cơ cấu Drum loại 20 và 30 viên FRAG-125 hoặc 12 Gauge. Điểm đặc biệt của các băng tiếp đạn trên AA-12 là chúng có thể tháo và thay rất nhanh.

AA-12 là một trong số những khẩu súng nhẹ nhất với trọng lượng rỗng là 4.76 kg và trọng lượng khi nạp đạn với băng tiếp đạn Drum 32 viên FRAG-12 là 7.3 kg. Chiều dài tiêu chuẩn của phiên bản gốc AA-12 là 966 m nhưng phần nòng súng lại có chiều dài tương đương với một khẩu AR-12 hay M4 Carbine.

Áo tàng hình ADAPTIV

Nhà sản xuất: BAE Systems

Được phát triển và cấp bằng sáng chế tại Thụy Điển, công nghệ Adaptiv bảo vệ xe tăng không bị phát hiện. Vỏ xe tăng được làm từ các miếng vật liệu hình lục giác có thể làm nóng hay lạnh đến nhiệt độ mong muốn vì thế nó có thể hòa lẫn vào môi trường xung quanh, không bị phát hiện bởi các cảm ứng nhiệt. Ngoài ra, nó còn được trang bị hệ thống quan sát liên tục 350 độ cả ngày và đêm. PL-01 được trang bị hệ thống hỏa lực mạnh mẽ với pháo tự hành cỡ 105 và 120 mm.

Súng PHASR

Nhà sản xuất: Bộ Quốc phòng (Bộ Quốc phòng)


PHASR là một loại súng trường laser cầm tay có khả năng làm lóa mắt và khiến địch thủ mất phương hướng. PHASR chỉ khiến đối phương mù tạm thời nên đã thoát khỏi hạn chế của Nghị định thư Liên Hợp Quốc năm 1995 về vũ khí laser gây mù.

Bộ phận gây mù ban đầu được gắn trên vũ khí của binh lính Mỹ, được sử dụng như một cách không gây chết người nhằm ngăn chặn những kẻ quấy rối tại các trạm kiểm soát quân sự.

Súng PHASR sử dụng một mảng tia laser màu xanh lá cây để tính toán khoảng cách mục tiêu và đảm bảo cường độ không gây mù vĩnh viễn.

Bộ xung kích Taser

Nhà sản xuất: TASER

Mô hình Taser có khả năng gây điện giật cho một nhóm người khi chạm vào các nút của nó. Nhằm tạo ra một khoảng trống, các Taser có thể được xếp chồng lên nhau và kết hợp để tăng phạm vi hoạt động của vũ khí. Nó cũng dễ dàng được gắn vào bất kỳ chiếc xe quân sự nào. Phạm vi hoạt động của các bộ xung kích này khoảng 8 m.

Xe tăng "Hiệp sĩ bóng đêm"

Nhà sản xuất: BAE Systems (BA.L)

Black Knight là một sự kết hợp giữa một chiếc xe tăng điều khiển từ xa và một chiếc xe trinh sát trong tương lai, được sử dụng trong các tình huống được coi là quá nguy hiểm cho người lái xe.

Để giảm tối đa chi phí, Black Knight sử dụng hệ thống vũ khí và các bộ phận động cơ của chiếc Bradley. Ngoài ra, nó có một tháp pháo 30 mm, súng máy, và động cơ 300 mã lực.

Chiếc xe cũng được trang bị phần mềm điều hướng tự động và tự thiết lập hành trình.

Hệ thống từ chối chủ động

Nhà sản xuất: Raytheon (RTN)

Active Denial System (Hệ thống Từ chối Chủ động - ADS) sử dụng một tia nhiệt có tầm bắn 1.000 mét. Nó đã được trình làng lần đầu tiên trước các quân nhân Mỹ tại một căn cứ ở Quantinco, bang Virginia.

Tia nhiệt chỉ xâm nhập qua da của đối phương tầm khoảng 0,4 milimét và nó được xem là hoàn toàn an toàn bất chấp thực tế là năng lượng mà nó phát ra cao hơn gấp 100 lần năng lượng của sóng ngắn thường được sử dụng trong các thiết bị gia dụng như lò vi sóng.

"Quân đội Mỹ cho biết họ đã tiến hành hơn 11.000 thử nghiệm trên người và chỉ hai người bị thương", cổng thông tin DailyTech cho biết.

Bộ phận Phát triển Vũ khí Không gây tử vong của Bộ Quốc phòng Mỹ cho hay: "Vũ khí mới có thể được sử dụng rộng rãi trong các chiến dịch của quân đội, trong các hoạt động đảm bảo an ninh, bảo vệ cơ sở hạ tầng, chống xâm nhập và kiểm soát đám đông".

Vũ khí tia nhiệt đã được Mỹ phát triển trong thời gian 15 năm qua. Nó đã từng được triển khai trong một thời gian ngắn ở Afghanistan nhưng chưa bao giờ thực sự được đưa vào chiến trường để thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu.

Súng Laser Avenger

Nhà sản xuất: Boeing (BA)

Súng Laser Avenger gắn trên xe Humvee (xe tải đa dụng của quân đội Mỹ), có khả năng bắn hạ máy bay không người lái bằng tia laser hồng ngoại. Phiên bản thử nghiệm của loại thiết bị này đã theo dõi 3 máy bay không người lái và bắn hạ một chiếc. Súng laser bám theo một vật thể và sẽ không khai hỏa cho đến khi mục tiêu tới đủ gần.

Robot MAARS

Nhà sản xuất: QinetiQ -QQ


MAARS là một loại robot điều khiển từ xa cải tiến, được sử dụng trong hoạt động xử lý bom.

Có khả năng thay đổi theo nhu cầu khác nhau, MAARS có cấu hình linh hoạt khi được lắp đặt một trong hai khẩu súng máy MB240 và súng phóng lựu 40 mm, hoặc một loa phóng thanh và mắt laser rực rỡ hoặc súng đạn hạt đậu, khói và bình xịt hơi cay.

Súng trường XM2010

Nhà sản xuất: Remington


XM2010 là một sản phẩm phát triển hiện đại hóa trên cơ sở súng bắn tỉa M24. Về cơ bản, XM2010 tương đối giống với M24, điểm khác là nó chuyển sang sử dụng loại đạn không tiêu chuẩn 300 Winchester Magnum làm tăng phạm vi hiệu quả thêm khoảng 50% so với đạn 7,62x51 mm tiêu chuẩn NATO.

Nòng súng của XM2010 được sản xuất theo công nghệ khoan có độ chính xác cao, chỉ mất 10 giây để gia công hoàn thành một nòng súng.

XM2010 sử dụng đạn 300 Winchester Magnum(7,62x76 mm) tầm bắn đạn 1.200 mét. Ngoài ra, XM2010 còn được trang bị loại ống giảm thanh đặc biệt có thể triệt tiêu 98% lửa đầu nòng và hấp thụ tới 60% lực giật của súng.

Súng trường thông minh XM25

Nhà sảnxuất:Heckler & Koch
http://luyenchuong.com/forum/attachm...1&d=1410361706
Súng XM-25 bắn đạn 25 mm và khi phát nổ đầu đạn này có sức công phá tương đương với một quả lựu đạn cầm tay, có thể nhanh chóng phá hủy một bức tường hoặc chướng ngại vật mà kẻ địch đang ẩn nấp. Chính vì vậy, XM-25 được xem là khẩu súng có sức công phá ghê gớm và nguy hiểm nhất trên chiến trường hiện nay.

Tuy nhiên, điều kỳ diệu là XM-25 bắn đạn thông minh theo lập trình được người sử dụng định sẵn, tự động xác định khoảng cách mục tiêu nhờ vào một mạch điện thông minh được tích hợp bên trong viên đạn. Khi bay đến khoảng cách đã tính toán trước đó, viên đạn sẽ phát nổ, phóng ra những mảnh đạn nhỏ gây sát thương cho mọi thứ xung quanh do chúng có khả năng tỏa ra các hướng khác nhau thay vì chỉ đi theo đường thẳng.

Cơ chế này cho phép người sử dụng có thể tấn công hiệu quả các mục tiêu có địa hình phức tạp như trong các tòa nhà, trong công sự hoặc những khu vực đồi núi hay thậm chí là hầm ngầm dưới đất. Tầm bắn tối đa của XM-25 là 750 m. Những mục tiêu này không thể vô hiệu hóa bằng súng thông thường.

Monday, September 22, 2014

Trên vùng trời đất nước

Trên vùng trời đất nước
 
LTS: Bài phóng sự này của KQ Lưu Văn Giỏi, đã là một cơ khí viên phi hành trước khi trở thành một phóng sự viên chiến trường. Bài viết được trúng giải Phóng sự Tiền Phong vào năm 1973 và đã được đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa số 292, phát hành ngày 15/7/1973. Sưu tầm viên trẻ Đinh Trọng Vũ, con của cố Trung tá KQ Đinh Trọng Mùi, đã ưu ái gởi cho BTH Quân Sử Không Quân nhiều tài liệu giá trị, trong đó có số báo Chiến Sĩ Cộng Hòa trên. Lý Tưởng Úc Châu xin được trích đăng lại bài phóng sự này.*****

Tại SĐ2KQ, tôi nhận một công điện từ BTL/KQ gọi về trình diện gấp vì nhu cầu công vụ, thời gian công tác và ngày về sẽ cho đơn vị biết sau.
Một chiếc phản lực A-37 của đơn vị đi công tác “rờ Leo” đưa tôi từ Nha Trang về Sài Gòn.
Tại parking vãng lai, tôi thót lên “Honda ôm” trực chỉ BTL/KQ. Và nửa giờ sau tại đây, tôi nhận một sự vụ lệnh khác, thời gian và nơi công tác là 8 ngày tại An Lộc.
Tờ mờ sáng hôm sau tôi có mặt tại bãi đậu trực thăng của SĐ3KQ để đi Lai Khê. Lần đi này, ngoài hợp đoàn 18 chiếc trực thăng UH-1 võ trang, còn có thêm 6 chiếc Chinook CH-47 (loại trực thăng khổng lồ để tải hàng)
30 phút ở Lai KhêPhi trường Lai Khê là một phi trường nhỏ, được dùng làm BCH Tiền Phương, tất cả trực thăng yểm trợ cho An Lộc đều đậu ở đây để tiện đường cho quân bạn tải quân, tải hàng và nhất là để thu ngắn đường chim bay đến An Lộc.
Tại đây, dưới những gốc cau su già có những hàng cơm, hàng nước kiểu dã chiến, vài hoa tiêu mắc võng nhai bánh mì chờ...thời tiết.
Tôi gặp Đại úy Đào Vũ Anh Hùng, nhà văn kiêm hoa tiêu trực thăng, thấy tôi Hùng hỏi:
- Đi làm hay đi chơi?
Câu hỏi ngắn ngủi, tôi cũng trả lời gọn:
- Đi làm.
Hùng moi trong túi áo bay Ra một gói xôi bắp đã xẹp:
- Ăn không?
Tôi lắc đầu vỗ nhẹ tay vào bụng, trong khi anh nhìn tôi từ đầu đến chân:
- Vào Điện Biên Phủ thứ hai mà cứ y như là đi du lịch vậy? Không có áo giáp, nón sắt thì phòng không và đạn pháo kích nó không chê bạn đâu.
Hùng chỉ chiếc máy ảnh tôi đang mang trước ngực:
- Phải có một nón sắt nhỏ cho ống kính mới an toàn, nếu không thì bạn có nhiều triển vọng...thất nghiệp đấy! Kỳ trước, có một ông bạn báo chí lên An Lộc, khi ông at vừa đưa máy lên ngắm thì một viên AK đã ưu ái chui vào nằm gọn trong ống kính, cũng may mà tầm đạn đã yếu nên không bị chột.

Có nhìn thấy cái cảnh phi công treo võng nằm tòng teng dưới những gốc cây cau su, gặm bánh mì, cạp xôi bắp chờ phi vụ, at mới thấy thương họ, nghĩ ngơi và ăn uống như thế mà bay như điên, bay bất kể giờ giấc và thời tiết, có khi vừa đáp, chưa kịp nghĩ ngơi, mà thấy có tên trên phi vụ lệnh là lại xách nón đi bay, cứ sáng vác tàu đi tối vác về... Có người đi rồi không bao giờ trở lại; cũng có người về mà trên thân tàu lỗ chỗ đầy dấu đạn phòng không; cũng có người, khi đáp an toàn trên bãi đậu rồi, mới biết người xạ thủ phi hành của mình đã gục đầu trên cây đại liên mà chết tự lúc nào; cũng có khi người hoa tiêu chánh trúng đạn phòng không, ngồi chết ngay ngắn trên ghế lái trong “tư thế còn sống”, cái chết thật đẹp, đẹp như cái chết của Từ Hải, mà người hoa tiêu phụ vẫn cố cắn răng, để nước mắt mình lăn dài xuống má, tiếp tục bay , thi hành cho xong sứ mạng đã, rồi mới về; cũng có người bỏ tàu giữa rừng để về bằng một tàu khác; hoặc băng rừng lội suối, rồi 5, 7 ngày sau mới về, với một thể xác đói khát và đầy thương tích.
At có thể so sánh, những tiện nghi cùng số giờ bay và thành tích chiến đấu một trời một vực, giữa phi công Hoa Kỳ và phi công Giao Chỉ như sau:

Pilot Hoa Kỳ không biết mắc võng ở gốc cây, nằm gặm bánh mì chờ phi vụ như pilot An-Nam at.

Hồi tháng 4/1972, ở mặt trận Tây Nguyên, tại Bộ chỉ Huy tiền đồn Tân Cảnh, tôi đã thấy một Đại Úy phi công Hoa Kỳ trong bữa cơm, ông at đã ăn gần nửa ký thịt với bơ, sửa, hột gà, táo, nho, rồi mới bước lên chiếc trực thăng võ trang Cobra và cất cánh. Trong khi hoa tiêu Giao Chỉ cũng trước một phi vụ, nhưng chỉ...”thổi hết một cái kèn làm bằng bột”, rồi ngửa cổ ừng ực nước lã trong bi đong xong...cuốn võng, leo lên ghế bay, bay vù vù, bay như điên.

Về số giờ bay và thành tích, ta có thể so sánh thật thà như sau:

Chiến trận Hạ Lào chính thức khai diễn ngày 8/2/1971, trong 29 ngày đầu tại đây, người Mỹ có số giờ bay cao nhất là một Thiếu Tá, 80 giờ. Trong khi đó người Việt Nam có số giờ bay cao nhất là Trung úy Dương Đức Ngọc thuộc KĐ62CT/SĐ2KQ, 168 giờ. Người Mỹ đánh nhiều chiến xa nhất, một phi công phản lực, 3 chiếc; trong khi đó Trung úy Dương Đức Ngọc đánh 17 chiếc T-54.
Số giờ bay và thành tích đó, đã làm vẻ vang tinh thần chiến đấu của QLVNCH bên cạnh Quân đội Đồng Minh tại Hạ Lào. Trong trận này, Ngọc cũng là người lãnh đạn phòng không nhiều nhất, một lần, phi cơ của anh đứng một chong chóng, phải đáp ở Đà Nẵng lúc 23 giờ 30; 3 lần khác, bị gãy cánh trái và cánh đuôi, nhưng lúc bấy giờ, thời tiết ở Việt Nam không cho phép, nên anh phải dẫn tàu qua Thái Lan đáp trên phi trường Nakhom-Phanom.
So sánh thật thà trên, đã là một chứng minh cụ thể, cho ta thấy tinh thần chiến đấu cao độ của người lính Việt Nam trên đất nước nghèo nàn này.

Đồng hồ tay chỉ 7 giờ 45, trời vẫn còn xấu, các hoa tiêu có vẻ sốt ruột, họ tụm 5, tụm 3 ngồi đấu láo với nhau, nói chuyện thời tiết, nói chuyện phi vụ hôm qua, chuyện hào hoa lã lướt đêm rồi và bàn với nhau cho phi vụ sắp tới.
Một nhân viên của toán điều không đến nói với Hùng... Cứ cất cánh, vì An Lộc đang chờ.
Tôi đứng dậy, nhưng không đi với Hùng, vì anh bay tàu Chỉ huy và Hướng dẫn (C&C) không đáp. Tôi theo chân một hoa tiêu ra chiếc UH-1 đậu ngoài bãi, tại đây lương thực, vũ khí đạn dược và các chiến sĩ đổ bộ đã chờ sẳn. Tôi đi theo chiếc tàu tải đạn, 10 phút sau, tất cả trực thăng tại đây đã bốc khỏi mặt đất và...trực chỉ An Lộc.

Trên đường từ Lai Khê đến An Lộc trần mây thật thấp, sương mù còn thật mù, họ phải để đèn báo hiệu để khỏi phải đụng nhau trên trời.
Sau một vài phút bay đến một nơi quang đãng hơn, dưới mắt tôi ruộng đồng xơ xác, những hàng tre cháy xém, những hố đạn, hố bom cày nát trên ruộng đất bỏ hoang...
Nhảy xuống An LộcNgười xạ thủ phi hành nghé vào tai tôi:
- Anh có xuống không?
Tôi gật đầu, anh ta nhìn tôi với vẻ ái ngại, như thầm hỏi tại sao tôi không có áo giáp và nón sắt, nhưng...tôi lờ đi; bỗng anh ta chỉa mũi súng đại liên M-60 xuống đất bấm cò, những hồi đạn rú dài như...bò rống; tôi thấy nhức tim khi những vệt lửa từ dưới xẹt lên quanh phi cơ, xung quanh tôi; 5 chiến sĩ bộ binh của SĐ18 cũng lên đạn M-16, tôi cũng nhét vội băng đạn vào khẩu colt của mình cho vững bụng.
Đang bay, tàu bõng xà xuống đột ngột rồi đáp vội trên Quốc lộ 13, “càng” chưa chạm đất, mấy quả đạn pháo kích đã ào ào bay tới rớt quanh đó, làm gẫy mấy cây cao su; tôi nhảy vội theo 5 chiến sĩ rời tàu, và lăn tròn qua mặt lộ nằm gọn dưới một hố bom.
Chúng tôi chưa kịp xô hàng xuống thì tàu đã bốc vội lên cao, bay mất hút; một trái đạn khác rớt ngay chỗ phi cơ vừa đáp, làm banh xác cái ba-lô vô tội của một chiến sĩ vừa quăng xuống, mấy bịch gạo sấy tung tóe trắng mặt đường.
Tôi nằm dưới hố bom mà thầm nghĩ: “Người Mỹ đã dạy cho người Việt Nam biết đánh giặc bằng trực thăng, nhưng còn lâu sự khôn lanh của họ mới bằng sự nhanh nhẹn của người Việt Nam. Vì nếu lơ mơ không bốc lên kịp, thì chiếc trực thăng kia với một núi đạn 81ly trong bụng, sẽ lãnh đủ trái đạn pháo kích vừa rồi.

Tôi nhìn theo chiếc trực thăng đã mất hút ở cuối bìa rừng cao su, như hiểu ý, một người nằm gần nói với tôi:
- Cứ nằm đây chờ, chốc nữa hết pháo họ sẽ đến.
Tôi hỏi lại:
- Nhỡ đến mà họ pháo nữa thì sao?
Anh ta thản nhiên:
- Trúng thì rớt, không trúng thì bay đi.

Sau câu nói này, tôi nhớ lại cái chết của Thiếu tá Nguyễn Hữu Nhàn, Phi đoàn phó Phi đoàn 237 Chinook SĐ3KQ, trước đây một tuần, tại mặt trận An Lộc.

Trong một phi vụ tiếp tế, tàu của Nhàn bị trúng phòng không, bạn bè bay theo anh bảo anh rời vòng chiến ngay và đáp ép buộc, cho trực thăng võ trang xuống cứu, nhưng anh đã trả lời:
- Biết rồi, để thả hết hàng cho họ đã, họ bị thiếu tiếp tế từ mấy ngày nay, không lẽ mình vượt bao nhiêu lưới đạn phòng không mới vào được đây, mà bây giờ lại ra sao?
Anh chỉ trả lời như thế, rồi tiếp tục vào vòng yểm trợ. Khi số hàng đã được thả xong, thì cũng là lúc chiếc CH-47 của anh đã nằm gọn trong màn lưới phòng không; Thiếu tá Mai là bạn của anh, bay gần đó đã nghe được những lời nói cuối cùng của anh, qua hệ thống vô tuyến:
- Hàng thả hết rồi, nhưng tất cả hệ thống điều khiển trong phòng lái ngưng hoạt động, bây giờ tao đáp ép buộc đây, tụi mày hãy theo tao cover thật kỹ và pick-up thật nhanh...
Nhưng không còn kịp nữa, anh vừa nói xong thì chiếc trực thăng đã như một bó đuốc khổng lồ, từ trời cao rơi xuống nổ tung trên mặt đất và anh đã chết theo tàu...

Tôi và các chiến sĩ vẫn nằm trốn đạn và chờ trực thăng đến, quanh đó, vài chiếc chiến xa T-54 chỏng chơ, vài chiếc khác nằm chúi đầu xuống những hố bom, phía sau tôi là rừng cao su trùng điệp.
Nằm chờ không bao lâu, tôi lại nghe được tiếng cánh quạt của trực thăng chém gió phành phạch, và càng ngày càng dội lại gần chúng tôi; vì các kiện hàng, đạn dược chưa được thả xuống, phi công đã vội bốc lên để tránh đạn pháo kích, và bây giờ anh ta bay vòng trở lại để thả các kiện hàng này; chiếc trực thăng lại xà xuống mặt lộ, đạn pháo kích của VC lại rót quanh bãi đáp, và hình như đạn nó đuổi theo trực thăng?! Máy bay vừa giảm tốc độ, hai càng đáp chưa chạm đất, thì hai chàng xạ thủ đã đạp tất cả các kiện hàng xuống đất, và rồi trong phút chốc tàu bốc vội lên, bay mất hút ở cuối một khúc quanh của con lộ 13. Vài tràng đạn AK đuổi theo, mấy quả đạn bích kích pháo rớt quanh đó như xé gió, phá rừng, những thân cây lại thi nhau gãy rôm rốp.
Mấy thùng đạn vừa được đem xuống vẫn còn nằm yên trên quốc lộ, một anh kéo tôi đi nơi khác:
- Hãy tránh xa đống đạn này, đạn pháo kích mà rớt vào đây thì...bỏ bu.

Từ hướng Xa Cam, một đoàn người gồng gánh, bồng bế nhau chạy loạn về hướng chúng tôi, tứ thì mấy quả đạn pháo kích được câu từ Đồi Gió, rớt vào giữa đám người dân chạy loạn này, gây vô số người chết, vô số người bị thương, có người bị thương cách đây vài giờ lại bị thương nữa, có những người sắp chết, nuốn được chết cho rảnh tay người thân chạy loạn, thì bây giờ được chết. Trong số những người chết này, một cảnh tượng thương tâm đã xãy ra ngay trên bìa rừng cao su An Lộc: ‘Một bà mẹ, bồng đứa con khoảng 6 tháng, bị mảnh đạn pháo kích phá vỡ khuôn ngực, và bà ngã ra chết liền tại chỗ, đứa nhỏ không chết, cũng không bị thương, nó bò trên bụng mẹ nó, khóc thét lên trong sự hãi hùng, khóc mệt, nó lại gục đầu vào ngực mẹ nó mà bú, một người khác – cũng người chạy loạn - đến bế nó ra, thì mặt mũi nó bê bết máu của mẹ nó, và trong mồm nó cũng có máu, mà có lẽ nó tưởng là chất sữa nên đã hút vào, một lúc sau, nó cũng chết trên tay người bế nó. Có phải, có lẽ, vì uống máu người chết, nên vi trùng đã thay mảnh pháo kích mà vật nó chết luôn chăng?’
Một cảnh tượng khác mà tôi cũng không làm sao quên được: ‘Một đứa bé khoảng 13 tuổi, mù hai mắt, gầy yếu xanh xao, cõng thằng anh nó trên lưng, khoảng 15, bị cụt một chân, ngồi trên lưng đứa mù mắt, để chỉ đường mà chạy trốn Việt cộng’.
Trong xách tay tôi còn hai ổ bánh mì mua hồi sáng từ Lai Khê, tôi lấy đưa cả cho hai anh em nó.

Trước đây, tôi đã được đọc những câu in trên bích chương, dán ở các thành phố: ”...Pháo kích bừa bãi, giết hại dân lành, nhà cháy, người chết, thù hận này biết đến bao giờ mới nguôi ngoai trong lòng ngươòi dân Việt?...”
Dạo đó, tôi đã nghĩ rằng câu này chỉ là về phương diện chính trị thôi nghĩa là Việt cộng xuyên tạc mình, mình xuyên tạc lại, nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu “đó là sự thật”, một sự thật mà không thể đội trời chung với bọn người dã man đó được, và tự nhiên, trong lòng tôi thấy dâng lên những thù hận ngút ngàn.
Thật tình mà nói, trước khi bước vào An Lộc, tôi đã thầm nghĩ: “Mình chỉ chết vì bị trúng đạn, chứ nếu đối diện gần, thì trên ngực áo tôi có hai chũ BÁO CHÍ thì ‘nó’ không giết đâu mà sợ, cao lắm chỉ bắt sống là cùng.”
Nhưng bây giờ thì tôi không còn nghĩ như thế nữa, trước mặt tôi, chung quanh tôi, những người dân vô tội đang thương vong la liệt, tôi sờ vào hông, khẩu colt vẫn còn cộm, tôi quyết định: Nếu đêm nay còn phải ở đây, mà rũi gặp bọn chúng, thì dù thế nào tôi cũng vãy về hướng chúng 6 viên và...còn lại là cho tôi, chứ nhất định không để chúng bắt sống; nghĩ đến đây, hình ảnh vợ con tôi tại trại gia binh lại hiện ra, tôi thấy nhói trong lòng.
Từ xa có tiếng đập phần phật của trực thăng, rồi trong phút chốc, 8 chiếc lượn sát những ngọn cây cao su, và cũng bất thần đáp dài trên quốc lộ, trong khi đạn pháo kích của VC tiếp tục rải dài theo hai bên đường.
Các chiến sĩ đổ bộ thuộc SĐ18BB, lẽ ra khi nhảy xuống thì họ di tản, nhưng họ đã đến phụ khiêng xác chết và nguời bị thương, lên phi cơ xong mới đi.
Tôi ngồi tựa lưng vào xích của một chiếc T-54 bỏ hoang, nhìn theo mấy chiếc trực thăng đang bốc vút về hướng Lai Khê, mà trong đó có gần 100 người dân vô tôi vừa chết, vừa bị thương, vừa kinh hoàng...

CSBV vùa sát hại xong dân lành vô tội bằng công cụ giết người của chúng, thì QLVNCH đến mang những người đó về nơi an toàn...

Từ hướng Chi khu An Lộc, một chiếc xe Jeep mui trần (vì là Jeep của An Lộc) trên xe chở gần 20 đồng bào, tiến về hướng bãi đáp trực thăng, tôi quá giang chiếc Jeep vào Chi Khu và tại đây, tôi được gặp Đại úy Lê Văn Vẫn, Chi khu Phó Chi khu An Lộc.
Đại úy Vẫn cho biết: Ông là người ở đây lâu nhất, (bốn đời quận trưởng đã thay phiên nhau) từ năm 1964, và bây giờ, ông nhất định ở đây, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, chứ không đi đâu hết. Ông kể tiếp:
- Ngày mặt trận An Lộc mở màn, có 6 trực thăng của SĐ3KQ, đến đáp vào Chi Khu, để đưa gia đình quân nhân tại đây rời An Lộc, tôi chạy vào hầm trú ẩn nói với vợ tôi: Có trực thăng đến, em mau đưa các con về Sài Gòn, ở đây nguy hiểm lắm, khi nào êm, anh sẽ đưa mẹ con em lên. Nhưng vợ tôi nhất định không chịu đi và trả lời: Mẹ con em về nơi an toàn, ở đây rủi anh chết thì mẹ con em sống với ai? Em xin được ở lại đây cùng sống chết với anh.
Trong lúc đó, tất cả vợ con của các anh em quân nhân tại đây, đều đã nhất loạt trả lời như thế, nên cuối cùng, 6 trực thăng phải rời Chi Khu, mà không có đàn bà trẻ con nào theo...

Sau câu nói của Đại úy Vẫn, tôi chợt nhớ lại gương “Liệt nữ Nguyễn Thị Thàng” cách đây đã lâu; chị Thàng là vợ của một chiến sĩ Nghĩa Quân, chị và các con đều sống trong công sự chiến đấu của chồng trong làng, một đêm nọ VC công đồn, chồng chị bị trúng đạn, chị thay chồng, tung mấy chục trái lựu đạn vào đám VC khi chúng tấn công bằng biển người, nhưng đến quả cuối cùng, bọn chúng quá gần, nên chị đã chết chung với thêm mấy tên VC nữa bằng quả lựu đạn đó, bây giờ vợ lính ở An Lộc cũng đã noi gương chị Thàng, nhất định không chịu đi Sài Gòn, ở lại tử thủ, sống chết với chồng con tại An Lộc.
Đại úy Vẫn tiếp:
- 6 trực thăng vừa bốc lên thì một chiếc bị trúng đạn, và rớt ngay bên ngoài vòng đai Chi Khu rồi bốc cháy; chúng tôi nhìn theo mà khóc lúc nào không hay. Anh em Không Quân đã vì sinh mạng gia đình chúng tôi mà phải chết, tôi kính trọng và nhớ ơn nghĩa của quý anh em đó lắm. Cuối cùng, tôi quyết định cho một trung đội mở đường máu ra cứu phi hành đoàn, nhưng không kịp, và khi trung đội trở vào thì...chỉ còn phân nửa quân số, bởi lúc bấy giờ chiến xa của VC quá nhiều; rồi hai hôm sau, trại gia binh của chúng tôi tại đây cũng bị pháo kích nặng, hơn 80% gia đình của quân nhân chết và bị thương.
Gà trống nuôi conTrong khi ngồi tiếp chuyện với tôi tại một căn hầm dã chiến, được đào sâu dưới mặt đất, trước mặt tôi là Đại úy Vẫn, quanh đó khoảng 5,7 chiến sĩ, mà mỗi người đang có vài em bé quấn quýt bên cạnh. Đại úy Vẫn xoa đầu một bé gái khoảng 4 tuổi:
- Tôi có năm đứa, bây giờ chỉ còn mình nó, anh chị nó chết hết rồi, má nó cũng chết rồi, ông bà nội, ông bà ngoại nó cũng chết trong trận pháo kích đó...
Ông chỉ những đứa bé đang đứng bên cạnh những chiến sĩ quanh ông:
- Đấy, anh xem, bây giờ ở đây chúng tôi cái cảnh gà trống nuôi con rất nhiều. Cha mẹ và vợ con chúng tôi, đã vì chúng tôi mà chết tại đây, nên chúng tôi đã thề tử thủ tại đây dến hơi thở cuối cùng, dù có được đổi về Sài Gòn cũng không đi. Nếu một ngày nào đó, mà anh gặp lại một trong những khuôn mặt của chúng tôi tại đây, trên một địa danh an toàn nào đó, không phải là An Lộc, mà lúc đó chúng tôi còn tại ngũ thì...anh có quyền giết chúng tôi, nếu không phải là lệnh, hay chỉ thị cho chúng tôi rời An Lộc... Hôm nay, anh là người Báo chí Không Quân đầu tiên đến đây, tôi xin được đại diện các chiến sĩ tử thủ An Lộc, gởi đến anh em Không Quân, nhất là những phi hành đoàn đã lái tàu bay vào Chi Khu, với ý định đưa vợ con chúng tôi đến nơi an toàn, những lời thành thật muôn đời nhớ ơn của chúng tôi; mặc dù vợ con chúng tôi không đi và... đã chết.
Những chiếc vòng tử thủNói đến đây, Đại úy Vẫn gỡ trong tay của ông ra 3 chiếc vòng trao cho tôi:
- Tất cả những chiến sĩ tử thủ tại đây, mỗi người đều có mang 3 chiếc vòng này, và chúng tôi đặt tên là...‘Vòng An Lộc Tử Thủ’, nay tôi xin tặng anh để làm kỷ niệm...anh là người thứ hai, sau Tổng Thống VNCH mà chúng tôi đã tặng 3 vòng này.
Một Thiếu úy ngồi gần đó, nhìn Đại úy Vẫn rồi nói với tôi:
- Anh có viết bài thì nhớ nói là Thiếu Tá, vì ổng lên lon gần 3 tháng nay, nhưng từ đó đến nay ở đây không ai bán ‘lon’ mà mua nên... ông Vẫn vẫn mang ‘lon’ cũ.
Tôi nhìn Đại úy Vẫn như thầm hỏi lại: Có đúng vậy không? và... Thiếu tá Vẫn gật đầu: Đúng vậy.
68 ngày tử thủ An Lộc không lãnh lươngCũng tại đây, tôi gặp một chiến sĩ còn rất trẻ, anh ta tâm sự với tôi như sau:
- Em là Binh nhất Lê Nhâm Thình, quân nhân Không Quân thuộc SĐ2KQ tại Phù Cát, Kỹ thuật Phi cơ C-7A, về phép thăm nhà hôm 23-3-72, rồi bị kẹt lại đây đến bây giờ, trọn gia đình em bị pháo kích chết hết rồi, chỉ còn một người anh đang tại ngũ ở An Lộc này thôi. Đã nhiều lần em muốn ra đón tàu về lại với KQ, nhưng còn ngại sẽ bị rắc rối về an ninh nên chưa dám. Tính đến nay đã 68 ngày, trong suốt thời gian tại đây, em đã chiến đấu như một chiến sĩ bộ binh thật sự, nhưng chỉ ăn nhờ cơm gạo sấy của anh em ở đây thôi, chứ không có lãnh lương. Em có lấy được một AK của tên Việt cộng mà em đã bắn chết nó; hôm nào về Sài Gòn, nhờ anh trình lên Bộ Tư Lệnh Không Quân, nếu không bị rắt rối thì anh viết thư về đây KBC-6995, lúc đó, em sẽ tìm đủ mọi cách về trình diện đơn vị...

Buổi chiều, tôi có dịp vào Thị trấn An Lộc, phố xá thật tiêu điều, những căn nhà không trơ vách, những tuyến kẻm gai quanh Chi Khu cháy cong queo, đó đây một vài xác trực thăng cháy sụm, những chiến xa đứt xích nằm chỏng chơ, như những con quái vật không đầu, vài chiếc khác chúi mũi xuống những hố bom, một chiếc dù, màu trắng, đỏ phất phơ theo chiều gió trên ngọn cao su, những chiếc dù tải hàng còn vương vải theo hai bên quốc lộ, trên mặt con lộ 13, những hố đạn, hố bom sâu hoắm, những vỏ đạn đủ cỡ, đủ loại nằm ngổn ngang, những thân cây cao su cháy đen gãy gục. Trong vòng đai Chi Khu, một bức tường dầy và cao, lỗ chỗ đầy vết đạn lớn, nhỏ, mà phía trên còn đọc được 3 chữ: “Quận An Lộc”, gần đó, một vách tường khác có dấu Hồng Thập Tự với 3 chữ “Trạm Cứu Thương”, phía sau là một trường tiểu học bị tróc nóc, xa hơn là Trại Gia Binh An Lộc cũng đã điêu tàn.
Bước ra ngoài, một xe Honda 4 bánh nằm lật ngang, bên hông có cẩn thận ghi hai chữ thật lớn “Xe Nhà”, bằng sơn màu trắng và một chữ...”Binh” viết gần bên bằng đất đỏ của An Lộc. Tôi thầm cười: Trạm cứu thương, trại gia binh, nhà thờ, chùa chiền và đàn bà trẻ thơ vô tội còn phải lãnh đạn pháo kích của “quân giải phóng” thì...”xe nhà binh” sức mấy mà thoát khỏi? Sao không đề là “xe của quân giải phóng?”
Châu chấu đá VoiCách cổng vào Chi Khu An Lộc khoảng 2 cây số, một chiếc xe cần câu của tư nhân màu vàng, nằm chắn ngang một nửa mặt con lộ 13, một chiếc khác nằm trơ bánh lên trời, dưới mé lộ. Được biết, trong những ngày đầu sôi động của An Lộc, khổ chủ của hai chiếc xe trên, đã tình nguyện đem ra cho ‘đâu đít’ lại với nhau, nằm chắn ngang lộ, với ý định không cho chiến xa của VC tiến vào Thị Trấn thân yêu của họ, vì họ đã nghĩ rằng, một khi mà chiến xa VC vào được trong Thị Trấn, thì dù cho xe cần câu của họ có để trong nhà cũng không còn. Nhưng kết quả là T-54 của VC là Voi mà xe cần câu của họ là Châu Chấu!
Thoát chết nhờ lối tuyên truyền láo của VCGần vòng đai Chi Khu vài chục thước, mấy chiếc T-54 nằm quay đầu ra bất động. Hỏi, thì một chiến sĩ cho biết như sau:
- Dạo đó, khi An Lộc thất thủ, hàng chục chiến xa VC phây phây đi vào và các tay xạ thủ cũng phây phây ngồi hẳn phía trên xe, chúng tôi lúc đó chỉ còn hơn đại đội,núp dưới các hầm hố, không dám bắn trước, nhưng chúng tôi lấy làm lạ, không hiểu tại sao những chiến xa này không khai hỏa, mà chỉ vào đậu đó, xong chạy vòng vòng thật chậm như tìm kiếm rồi quay ra, và...khi chúng quay đầu xe ra, bọn tôi xách M-72 chạy theo hạ hết, thứ này mà bắn vào đứt xích là nằm liền, các trưởng xa và xạ thủ thoát khỏi xe cũng bị chúng tôi hạ luôn, có vài tên bị chúng tôi bắt làm tù binh, và chúng tôi biết, sở dĩ chúng đưa chiến xa vào tận đây mà không khai hỏa vì trước khi vào đây, cấp chỉ huy đã cho chúng biết ‘hiện An Lộc hoàn toàn do quân giải phóng kiểm soát và...làm chủ tình hình’, nên chúng cứ vào, tự nhiên ngồi trên nóc xe như ‘người quân nhân trở về đơn vị’, và chạy vòng vòng là có ý định đi tìm ‘đồng chí’, đến khi tìm mà không gặp được đồng chí nào thì mới lửng thửng quay ra, và khi quay ra thì mỗi chiếc lãnh vài viên M-72 từ mặt hậu, rồi đứt xích luôn, không thể quay đầu lại, bởi thế mà anh thấy những chiến xa quanh vòng đai này phần đông đều quay đầu ra, còn những chiếc khác xa xa thì quay đầu vào, những chiếc này, hầu hết bị lãnh bom và rocket từ phi cơ.
Nghe xong câu chuyện, tôi thầm nghĩ:
- Bọn VC ngoài lối thí quân, nướng quân bằng những đợt tấn công ồ ạt biển người của chúng; mặc cho hỏa lực khủng khiếp từ phi cơ ta ‘làm cỏ’, nay chúng có thêm một lối nướng quân bằng cách tuyên truyền láo với binh sĩ thuộc quyền, bởi chúng không nói láo với quân sĩ của chúng thì anh lính này đâu còn sống đến ngày nay, để kể lại giai thoại ‘Chiến xa VC phây phây vào sào huyệt ta đi tìm đồng chí! Để rồi khi quay đầu ra, vừa khỏi vòng đai thì...nằm đây luôn!’

Trong lúc vui miệng, anh kể lại tôi nghe thêm một vài chuyện khó tin, nhưng tại đây lại...có thật.
Trong thời gian tử thủ, bịnh táo bón rất quýCó những lúc bên ngoài nó pháo rát quá, hầm trú ẩn thì nhỏ, mà anh em lại quá đông, đôi khi muốn đi cầu lại ngại lãnh đạn, nên chúng tôi cứ...’cố nín, cố nín’, đến khi không thể nín được mà bên ngoài vẫn còn pháo, thì dùng lớp trong của cái nón sắt làm cái ‘bô’, xong, đứng ở miệng hầm liệng ra ngoài, có người chỉ mới hai ngày, đã liệng luôn hai lớp nón sắt, nên ở đây, trong thời gian đó, ai có được cái bệnh táo bón là quý hơn vàng, thảnh thơi lắm, mà tóm lại, trong thời gian đó, người nào có táo bón mấy đi nữa, thì cũng phải có một lần ‘liệng nón sắt’.

Một giai thoại khác, “Tắm bằng mồ hôi”; vì tại đây, nước rất quí, quí hơn vàng, có khi phải dùng nước tiểu để làm ‘nở cơm sấy’ khi ăn, có nhiều người chịu không nổi phải bịt cả hai lỗ mũi, nhai sơ rồi nuốt vội, như cố ‘tống cơm vào bao tử’ cho xong, để có sức mà...tử thủ, nhưng không dám ăn nhiều, vì nếu ăn nhiều thì trời không cho được cái bịnh táo bón.
Bởi nước quí hơn vàng, nên trong thời gian đó, lúc nào thấy êm, ai muốn tắm thì cử tạ bằng cách bưng một thùng đạn nặng trịch, đưa lên, đưa xuống cho đổ mồ hôi, xong cởi quần áo ra...ung dung ngồi kỳ đất trên da nở ra và rất dễ... ‘tắm bằng mồ hôi’.
Những Hippy và Pidel Castro của An Lộc.Đã hơn 9 giờ tối, trong một công sự chiến đấu, mấy anh em chiến sĩ tử thủ tại đây và tôi, ngồi quanh một cái bàn uống nước trà và...nói chuyện chiến tranh, bàn và ghế ngồi đều là thùng đạn còn nguyên xi, ly đựng nước trà là chuôi của một loại đạn, bằng nhựa, trắng tinh; trông họ như những Trần Văn Trạch, hay như những Hippy Sài Gòn, c ó người râu ria như Pidel Castro, chỉ khác có một điều là, Trần Văn Trạch, Hippy Sài Gòn hay Pidel Castro râu tóc được chính phủ cho nuôi dưỡng, thỉnh thoảng ghé vào tiệm cho thợ cắt, tỉa, xấy, gội, còn những Hippy và Castro ở đây, thì râu tóc của họ được chính...chiến tranh nuôi dưỡng, không cần phải vào tiệm cho thợ cạo sửa, mà trông vẫn Hippy và Pidel Castro như ai!
Ở đây, tôi thấy nếu so theo tỷ lệ thì râu của họ hình như...dài hơn tóc, bởi thường thì thức đêm râu rất mau ra; mà lính An Lộc thì làm gì có chuyện ngon giấc ban đêm? Tôi có một ý nghĩ hơi ngộ nghĩnh là...nếu lính ở An Lộc mà cứ để nguyên râu tóc thế này, rồi hè nhau...hạ san xuống phố thì nhất định...mấy ông Quân Cảnh không chịu đâu?

******

21 giờ 30, hơn 10 trái đạn pháo kích rớt quanh Chi Khu, gây những tiếng nổ chát chúa, vang dội, hơi điện bị cúp ngang, tức thì một người lấy ‘giấy bao đạn, có chất mỡ’, để ở giữa một sợi dây, quấn cứng lại làm... ‘đèn cầy dã chiến’, thêm mấy trái khác tiếp theo, gần hơn. Tôi nhức tim, nhìn lên nóc hầm trú ẩn, một người thảy cho tôi cây M-16 và mấy băng đạn:
- Anh cứ cầm cây này đi, cho anh luôn đó và hãy yên chí, nóc hầm này phải năm quả rớt liền một lúc mới có thể sập.
Tôi cầm cây M-16 trong tay, và lấy lại được bình tĩnh sau câu nói ‘trấn an’ này, và cũng nhờ thấy họ vẫn thản nhiên, ngồi uống trà mà...đàm đạo chuyện chiến tranh.
Một anh khác chen vào:
- Thế này mà ăn nhằm gì, dạo trước ở đây, có một ngày không bao giờ nghe dứt tiếng pháo kích, và ngày đó...7 ngàn quả.

Tôi nghe ớn tận xương sống với con số này, 7 ngàn quả trong một ngày mà họ còn sống đến giờ này, thì bây giờ chưa đầy hai chục trái, tôi còn có triển vọng về được tới Sài Gòn; vì Sài Gòn với An Lộc thì... tôi vẫn thích Sài Gòn hơn, ở đây nhức tim quá!
Tôi chưa ra Quảng Trị, chưa thấy sự đổ nát của thành phố Quảng Trị thế nào, chứ ở đây, con số 7 ngàn đó, với thị trấn điêu tàn này, đã cho phép tôi nghĩ rằng... Mặt trận An Lộc đã lên tới mức... ‘đụng phông của chiến tranh.’

Qua một đêm ngủ chập chờn bởi những tiếng AK nổ lẻ tẻ, những hồi pháo kích inh tai, sáng hôm sau, tôi ra Quốc lộ 13 đón tàu về Lai Khê. Trước khi chia tay, một chiến sĩ nói với tôi:
- Ở đây, bãi đáp duy nhất cho trực thăng là một khoảng dài độ hai cây số, trên Quốc lộ 13, vì hai bên là rừng cao su; trên khoảng hai cây số đó, trực thăng tự do đáp bất cứ ở đoạn nào, nếu vừa đáp mà bị pháo kích thì bốc lên, bay đến chỗ đáp khác, rồi chỗ khác nữa...mình sức người, không thể nào chạy kịp với tàu bay! Muốn đón tàu đi cho được thì phải làm sao gần tàu, mà hể gần tàu thì sợ pháo kích, vì VC chúng chỉ pháo khi nghe tiếng trực thăng đến, nên...chua lắm!

Tại Quốc lộ 13, từ 7 giờ 30 đến 16 giờ, bao nhiêu lần trực thăng đáp mà tôi vẫn không làm sao chạy theo kịp để đi được, vì lần nào cũng thế, trực thăng đáp, tôi chưa kịp chạy đến thì vì pháo kích, nó đã vội bốc lên bay đến nơi khác, tôi lại quay đầu chạy theo, thì lại cũng vì pháo kích, mà nó cũng bốc lên bay đi nơi khác nữa. Lúc bấy giờ, tôi tưởng mình đã trở thành lực sĩ chạy ‘Ma-ra-tông’.
Đến 17 giờ, tôi đứng chung với một số thương binh của SĐ18BB, họ nằm đây chờ trực thăng đến tải thương, trong đó có vài người đã chết vì vết thương quá nặng, gần đó, một cái mền hoa, trải rộng ra trên mặt lộ, làm dấu cho trực thăng đáp, vì ở đây, nếu dùng khói màu, thì được coi như gián tiếp chỉ điểm bãi đáp cho VC.
Hai trực thăng bay đến thật thấp rồi đáp nhanh xuống. Tôi cũng thật nhanh và may mắn bước được lên tàu, nhưng...cuối cùng phải bước xuống, nhường chỗ của mình để có thể chở thêm một thương binh.
Loại trực thăng này có thể chở tối đa 12người, vậy mà chỉ có hai chiếc, họ đã hốt gọn gần 50 thương bệnh binh, vừa nằm, vừa ngồi. Tàu bốc nhanh lên, những trái pháo kích rơi chậm hai bên quốc lộ, mà tôi tuởng có thể thấy được cảnh ‘Người chết hai lần’. Những người còn lại phải chạy vào rừng cao su, để trốn pháo kích. Tại đây, tôi gặp một xác trực thăng mang cờ VNCH đã cháy hết 70%, quanh đó là bốn bộ xương người còn nguyên vẹn (mỗi trực thăng, phi hành đoàn gồm 4 người, 2 hoa tiêu, 1 cơ khí viên và 1 xạ thủ phi hành, một trong bốn bộ xương nằm sấp trong tư thế của người đang bơi lội...)

Tôi rời nơi đây đi vào sâu hơn một chút, nhìn lên trời, từ đàng xa, những chiếc trực thăng đang bốc lên, hạ xuống và chao mình tránh né phòng không, có lẽ nơi đó đang giao tranh? Và tôi thầm cảm phục lòng gan dạ của phi công VNCH hơn bao giờ hết. Nếu trong quân đội Nhật Hoàng có Phi đội Thần Phong với những hoa tiêu trẻ, đầy gan lì, dám lao phi cơ vào tàu thủy địch, thì trong QLVNCH cũng có những phi công mà số giờ bay hành quân cao hơn cấp bậc, và họ cũng không ngần ngại bay vào giông tố, trên vòm trời đầy lửa đạn phòng không: Bãi đáp bất an ư? Vẫn đáp, vì một đại bàng gãy cánh, sẽ có 10 đại bàng khác cất cánh bay lên, bảo vệ vùng trời quê hương yêu quý, quyết mang bom đạn và xương máu ra để đổi lấy Tự Do, bởi bên cạnh họ, còn có một rừng người cùng chung một chính nghĩa, cùng chung một lý tưởng.
Cảnh tượng những người dân vô tội thương vong nằm la liệt trên Quốc lộ 13 vẫn còn ám ảnh tôi. Một câu mà tôi còn nhớ ‘Đường lối chiến đấu của Chính Phủ ta là...thà để 10 tên giặc chạy thoát, còn hơn bắn lầm một người dân’.

Câu nói chí lý này đã thể hiện trong hàng ngũ ta vào dịp Tết Mậu Thân tại Nha Trang. Địch quân đã đặt toàn bộ chỉ huy và hỏa lực nồng cốt, dưới chân tượng Đức Phật trên một ngọn núi, cạnh đó, là ngôi chùa lớn nhất Nha Trang và cũng bị chúng dùng làm công sự chiến đấu. Dây là một cao điểm, có nhiều lợi thế về quân sự cho bọn VC, trong mưu đồ tấn công chiếm thị xã này.
Trong trận này, thay vì ta dùng phi cơ xạ kích tiêu diệt chúng, rồi sẽ xây lại tượng Đức Phật và chùa thì...dễ như trở bàn tay, nhưng vì tôn trọng tự do tín ngưỡng của dân, hơn nữa lúc bấy giờ còn vài vị sư sãi bị chúng quản thúc trong chùa, nên ta phải chiến đấu bằng một chiến thuật cam go hơn, mất nhiều xương máu của quân sĩ ta hơn để không mất chùa, không mất tượng Phật, không mất mấy vị sư sãi của ta và nhất là...không mất lòng dân.
Rồi mới đây, tại mặt trận Tây Nguyên, Thiếu Tá phi công Phạm Văn Thặng, thuộc Phi đoàn 530, KĐ72CT, đã thà chịu chết với phi cơ, chứ không chịu nhảy dù khi tàu anh bị trúng đạn phòng không tại một nơi đang giao tranh ở Kontum.
Đại úy Hiệp là bạn anh, bay theo bảo:
- Mày nhảy dù đi Thặng, tàu mày bị đạn rồi, cánh trái cháy dữ lắm.
Nhưng anh trả lời trong vô tuyến:
- Không được, tao còn bom đạn nhiều quá, nếu nhảy dù thì tàu sẽ đâm vào thành phố này và dân sẽ chết rất nhiều.
Ngồi trong phòng lái, Thặng cắn răng chịu đựng ngọn lửa đữ dội đang đốt cháy thịt da mình, để đưa tàu ra chỗ trống và cuối cùng, anh đã chết, khi con tàu cày trên mặt cỏ và... đâm vào một mô đất cao.
Thử hỏi, còn có cái chết nào ý nghĩa hơn, cao đẹp hơn và hào hùng hơn cái chết đó của người chiến sĩ QLVNCH, để bao người dân khỏi chết?
Và cũng tại mặt trận này, một trường hợp khác tương tự.
Một Thiếu Úy phi công khu trục, cũng thuộc Phi đoàn Thái Dương 530. Khi đang bay hành quân tại căn cứ Delta, tàu bị trúng đạn phòng không và anh bị thương nặng, anh cố đem tàu về đáp ép buộc gần Tân Cảnh, trên một khoảng đất trống (loại phi cơ này khi bị đáp ép buộc, không khi nào bỏ bánh ra mà chỉ đáp bằng bụng).
Khi Thiếu Tá Lê Bá Định, người chỉ huy của anh đến hỏi:
- Mày bị thương, còn tàu thì trúng đạn phòng không, tại sao không chịu nhảy dù cho trực thăng nó cứu, mà lại lết về đáp ở một nơi...quá ghê gớm này, không sợ toi mạng sao?
Anh đưa tay lau những vết máu trên mặt và thản nhiên trả lời:
- Tôi còn bom và rocket nhiều quá, sợ nhảy dù ra tàu sẽ đâm vào quân bạn, hơn nữa, phi đoàn mình còn ít máy bay, mình đem về được cái nào đỡ cái nấy.
Những câu được gọi là Danh ngôn là... Hoa thơm cỏ lạ của các bậc đàn anh trí thức, cũng phải bóp trán suy nghĩ rồi uốn lưỡi 5 lượt 7 lần, còn phải gọt dũa lại cho trơn tru rồi mới dám đem in lên sách báo và trịnh trọng đóng khung cho...người ta đọc, mà so chẳng thấm vào đâu với câu nói chí lý và đúng cảnh hợp tình của người chiến sĩ này.

Ngày nay, chiến sĩ ta đã chiến đấu thật tuyệt vời, và tinh thần chiến đấu cao độ của họ, đã cho thấy một trường hợp như sau: Tại mặt trận Bình Định Trung Úy Bùi Văn Chấn thuộc biệt đội của Phi Đoàn 118 từ Pleiku bay ra yểm trợ cho Căn cứ Không Quân Phù Cát trong mặt trận này, đã kể lại câu chuyện hết sức cảm động như sau:
Dấu vị trí xác thực của mình để yêu cầu phi cơ xạ kích ngay trên đầu.Một trung đội BĐQ, bất ngờ chạm địch, với quân số VC gấp 5 lần, cách Vạn An 8 cây số về hướng Bắc. BĐQ bị vây quá chặt, không thể mở đường máu mà thoát, và hai bên chỉ cách nhay không đầy 50 thước, trong khi tầm sát hại của bom và rocket từ phi cơ là 300 đến 500 thước.
Trước sau cũng chết, nhưng phải làm sao mình chết 1, VC chết 5. Người Trung đội Trưởng quyết định gọi phi cơ đến đánh, ông phải nói dối với các phi công đang bay trên vùng là trung đội ông ở cách điểm đánh 600 thước (vì nếu gần quá thì phi công sẽ không đánh, sợ trúng quân bạn). Khi phi cơ đến đánh, họ đã mở đường máu ào ra cận chiến với VC, kết quả sau trận này, Trung đội chỉ còn vài người sống sót thoát về, và họ kể lại gương can đảm của ông Trung đội Trưởng anh hùng này.
Nếu tại mặt trận An Lộc cũng như mặt trận Bình Định, đã xãy ra những chuyện khó tin mà có thật như đã kể trên, thì tại mặt trận Tây Nguyên cũng có nhiều giai thoại ly kỳ. Nếu bên bộ binh có những người lính gác giặc, thì bên Không Quân cũng có những người ‘lính gác mây’, mà mới nghe qua ta không khỏi nghĩ rằng đó là một huyền thoại hay ít ra cũng là chuyện hoang đường, bịa đặt.v.v... nhưng đó là chuyện có thật và thật đến 100 phần 100.

Trong những ngày đầu của chiến trường sôi động tại hai Căn cứ Hỏa Lực 5 và 6, hồi năm 1971, hai căn cứ này tọa lạc trên hai ngọn đồi 1001 và 1338, thuộc lãnh thổ tỉnh Kontum, cách tiền đồn Tân Cảnh 9 cây số về hướng Tây Nam. Nơi đây ta đã vận dụng đến mức tối đa phi cơ các loại, nhất là trực thăng và khu trục, loại khu trục cơ A-1 cánh quạt, mà đã một thời KQVN đơn phương đi phạt Bắc.

Trên đỉnh của ngọn đồi Căn cứ Hỏa Lực 5, lúc nào cũng có một đám mây khổng lồ thường trực bao phủ, đám mây này là kẻ thù nguy hiểm nhất cho KQ tại đây lúc bấy giờ. Khu trục, trực thăng, quan sát đã khó khăn yểm trợ cho quân bạn cũng vì đám mây này. Tất cả chỉ nhờ một ngọn gió nào đó, đẩy đám mây kia đi, hoặc mây trống ra một lỗ để KQ có thể chui đôi cánh xuống mà hoạt động, nên những ngày mây che trên đồi, các cấp chỉ huy của KĐ72CT đã lều chõng, lên ăn ở luôn tại tiền đồn Tân Cảnh và thay phiên nhau đứng trên nóc hầm chỉ huy, đặt ống nhòm để “Gác đám mây đó”, xem chừng hễ “nó” trôi đi hoặc có một lỗ trống, là liên lạc về Pleiku cho phi cơ lên đánh ngay.
Thiếu tá Võ Ý, Trưởng phòng Kế Hoạch Hành Quân KĐ72CT đã nói với tôi:
- Mày xem, lính KQ chính hiệu như tao mà từ hôm lên đây đến nay, thời gian đứng trên nóc hầm “gác mây” nhiều hơn thời gian ngồi trên mặt đất, mà khốn nạn, đám mây kia lúc nào cũng ngũ trên đdỉnh đồi, có một lần tao thấy thương ông Tướng Triển quá chừng (Tướng Triển lúc bấy giờ là người chỉ huy trận này). Ồng đang ngồi trên nóc hầm chỉ huy vừa uống trà, vừa gác mây, thấy đám mây trên đỉnh đồi vừa trôi đi nơi khác, ổng mừng quá, đánh rơi chén trà vội kêu tao liên lạc cho Pleiku “cất cánh”, nhưng...sau vài phút, một tảng mây khổng lồ khác, lớn hơn lại ùn ùn kéo đến thế chỗ đám mây trước rồi...nằm ngũ luôn tại đây không chịu đi.
Tôi hỏi lại:
- Thế ra ông Tướng Triển cũng phải gác mây nữa sao?
Thiếu tá Ý trả lời:
- Đứng trên nóc hầm chỉ huy dể gác mây và thức đêm đối với ông Tướng này còn nhiều hơn tụi tao.
Thiếu tá Ý nói tiếp:
- Bởi đã cam khổ, ngọt bùi có nhau nên sau đó khi quân ta đại thắng, trong một buổi họp báo tại BCH/QĐII ổng đã tuyên bố: Nếu không có KQ, thì ta đã mất hai Căn cứ Hỏa Lực 5 và 6.

17 giờ, 18 giờ, rồi...19 giờ vẫn không nghe tiếng của trực thăng đến. Và... đêm đó tôi ngủ lại trong rừng cao su An Lộc. Sáng hôm sau thật sớm, một hợp đoàn trực thăng tải đạn đến An Lộc, và tôi về lại Lai Khê bằng một trong những trực thăng thênh thang đó.

Khi về Biên Hòa, tôi vẻ lại một bản đồ chỉ chỗ phi cơ trực thăng lâm nạn, trình lên Đại tá Tường, Sư đoàn Phó SĐ3KQ, và kết quả là nội nhật ngày hôm đó toán tìm cứu của SĐ3KQ, đã lên An Lộc đem bốn bộ xương người về.
Rồi khi về đến Sài Gòn, tôi cũng trình luôn chuyện “Người lính Không Quân tử thủ An Lộc 68 ngày không lãnh lương”, sau đó, Ban Quân pháp Không Quân (Thiếu tá Thư) làm mọi thủ tục và...Binh nhất Lê Nhâm Thình cũng đã trở về lại với gia đình Không Quân.
Thượng sĩ Nhất Lưu Văn Giỏi

Sunday, September 21, 2014

Trung Tuong NGO QUANG TRUONG

http://www.youtube.com/watch?v=D81EtWIQKxU&feature=player_detailpage

http://www.youtube.com/watch?v=D81EtWIQKxU&feature=player_detailpage#t=202

<iframe width="640" height="360" src="//www.youtube.com/embed/D81EtWIQKxU?feature=player_detailpage" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>

ts=1411067783&cl=75831451&plid=AAUDjjS375Q5AUNp&md=1&fexp=916104%2C921416%2C927622%2C930666%2C931983%2C932404%2C934030%2C935677%2C942471%2C944906%2C946013%2C947209%2C950202%2C952302%2C953801%2C955402&asat=video&csipt=watch%2Cwatch7ad&vw=640&rendering=software&vh=480&vq=auto&cbrver=11%2E0&hasstoryboard=1&tsphab=1&idpj=%2D9&next%5Fid=D81EtWIQKxU&referrer=http%253A%252F%252Fwww%2Eyoutube%2Ecom%252Fwatch%253Fv%253D0q8LuoY3KmE%2526feature%253Dyoutu%2Ebe&el=detailpage&tspfdt=56&volume=100&tspne=0&cr=US&debug%5FsourceData=&ad%5Fstl=0%2E744&debug%5FplaybackQuality=large&ad%5Fv=LSWuPQxyF3Y&debug%5FvideoId=D81EtWIQKxU&len=640&w=811&cosver=6%2E1&sidx=0&fmt=135&ad%5Fflags=1&debug%5Fdate=Sun%20Sep%2021%2000%3A37%3A37%20GMT%2D0700%202014&cbr=IE&stageFps=10&slots=sst%7E0%3Bsidx%7E0%3Bat%7E2%5F2&cpn=DnG5IUO%5FPGbFrDNa&cver=as3&fvid=GBLUtsofhp8&ad%5Flen=91%2E858&sdetail=rv%253A0q8LuoY3KmE&nsidf=887&skip=1&feature=related&nsiabbl=126851&hl=en%5FUS&videoFps=0&tpmt=675&at=2%5F2&nsivbbl=596734&cos=Windows&droppedFrames=887&ad%5Fsys=AdSense&screenh=1080&debug%5FflashVersion=WIN%2015%2C0%2C0%2C152&cfps=0&pixel%5Fratio=1&screenw=1920&playerw=1067&art=1%2E526&playerh=638&cid=4781166&ad%5Fid=45261158650&scoville=1&sourceid=yw&pd=0&mt=0&ldpj=%2D31&mos=0&vis=0&c=WEB&ptk=rumblefish%5Fcdbaby&ei=3HweVK2KB8TPrAanpoCQAw&lact=188679&h=608&afmt=140&of=CcNAJG1jnAyo9UU8pYPRKg&allowed=1%5F2%2C1%5F2%5F1%2C1%5F1%2C1%5F3%2C2%5F2%5F1%2C2%5F2%2C2%5F1%2C2%5F3&decoding=software&sst=0&ad%5Fevent=4