Saturday, November 22, 2014

TIỀN GIÀ và TÌNH GIÀ

 TIỀN GIÀ và TÌNH GIÀ
 
 
I-
Trong bữa cơm tối, Chúc Minh nhìn lên tờ lịch trên tường, nói lớn:
 
- Ô, tuần sau là sinh nhật của tui đó nha, quý vị chuẩn bị quà cáp đi là vừa ..
 
Hiển, chồng nàng từ trong bếp nói vọng ra:
 
- Trời đất, gần ăn tiền già rồi còn đòi quà sinh nhật.
 
Cả nhà cười vang vì sự chế giễu của Hiển. Chúc Minh xịu mặt. Hai đứa này chỉ hơn 40, không còn trẻ nữa, nhưng chưa phải là già. Mọi người biết rằng Hiển chọc ghẹo Chúc Minh cho vui thôi chứ anh chàng này nổi tiếng là nịnh vợ: Năm nào sinh nhật cô nàng anh cũng bày tiệc linh đình vì anh ta là chef cook của một nhà hàng Mỹ danh tiếng ở vùng San Diego này.
 
Tôi thoáng nghĩ ngợi về chuyện "ăn tiền già" qua câu nói của Hiển, thằng cháu rể rất dễ thương của vợ chồng tôi. Tiếng Việt thật lạ lùng, cái gì biểu hiện phúc lợi lập tức có chữ "ăn" đi kèm. Từ "ăn đám cưới, ăn đám giỗ, ăn tiệc, ăn chơi .." bây giờ ở Mỹ có thêm cụm từ "ăn tiền già, ăn tiền bệnh, ăn tiền thất nghiệp, ăn tiền SSI .."
 
Những người đi làm như chúng tôi khi về hưu sẽ không dùng từ "ăn tiền già" hay "ăn tiền trợ cấp" mà được gọi bằng "hưởng tiền hưu bổng", tức là tiền mình đóng thuế trong thời gian làm việc, tùy theo mức lương cao hay thấp và thời gian làm việc ngắn hay dài.
 
Tự nhiên tôi cảm thấy cụm từ "ăn tiền già" mang ý nghĩa ngồ ngộ, đặc biệt cho thấy sự đãi ngộ người già, dĩ nhiên, chỉ có ở những quốc gia văn minh, giàu có. Điều này cho thấy rõ nhất sự quý trọng con người, đặc biệt sự quan tâm của xã hội khi biết rằng cuộc sống của họ đã đi gần đến chỗ "the end". Bản thân tôi cũng đang nghĩ ngợi đến ngày nghỉ hưu, lúc đó hai đứa tôi sẽ trở thành hai con khỉ già ngồi chong ngóc thu lu trong nhà nhìn lá rụng.
 
Tự nhiên tôi lại có chút buồn khi nghĩ đến lúc về hưu, nghĩa là đoạn cuối của cuộc đời mình trước khi xuôi tay yên nghĩ. Tiền già tức là số tiền trợ cấp nhỏ cho người già trên 65 tuổi mà trước đó không cần có làm việc hay không, với điều kiện phải có quốc tịch Mỹ. Được biết số tiền này sẽ chênh lệch ít nhiều tùy theo tiểu bang mình cư ngụ và sẽ được đi kèm theo bảo hiểm y tế gọi là Medicare hay Medicaid. Một cặp vợ chồng già mỗi tháng sẽ có $1,440 ($720/người) và vài trăm tiền foodstamp để mua thức ăn.
 
Trước đây foodstamp in trên giấy đóng từng tập nhỏ cỡ tờ vé số, bây giờ chính phủ bỏ vô thẻ, người sử dụng sẽ "quẹt" như quẹt credit card. Số tiền này sẽ giúp cặp vợ chồng già sống ung dung đầy đủ, có thể đi chơi đây đó đôi lần trong năm nếu không phải trả tiền nhà và sức khỏe tốt không đau bệnh chi nặng nề.
 
Trường hợp thứ nhất tôi được biết về khoản tiền già này đối với vợ chồng người bạn ở San Jose là họ chỉ giữ lại $300 cho mỗi người, số còn lại phải phụ với con trả tiền mortgage. Nếu không ở chung với con mướn nhà ở thì hơi vất vả vì mướn apartment một phòng ngủ phải trên dưới $1,000/tháng. Nếu cặp vợ chồng già bạn tôi xin được housing của chính phủ thì tuyệt vì chỉ trả tiền nhà vài ba trăm một tháng.
 
Trong một bài viết về nước Mỹ tôi đọc đã lâu rồi, câu chuyện viết về bà mẹ già ở một mình nhưng quanh năm con cháu chia phiên nhau nghỉ phép về ở với bà, cho nên tuổi già của bà quá đỗi yên vui, vô vàn hạnh phúc! Cụ bà ấy phải được gọi là người hạnh phúc nhất trên đời này. Nếu người ta gọi tuổi trẻ là tuổi hồng, tuổi ngọc, thì bà cụ này phải được gọi là "tuổi hột xoàn" vì được con cháu trân quý, săn sóc chu đáo quá.
 
Trong tháng Tám, viết về nước Mỹ liên tiếp đăng tải hai bài nói về người Mẹ làm tôi xúc động bồi hồi. Đó là bài "Bà mẹ quê" của Philato và "Người Mẹ cô đơn" của Phan.
 
Bài trước là tình cảm của tác giả khi nói về mẹ mình một đời vất vả vì con, đến lúc "ra đi" con không gặp được Mẹ vì còn đang bôn ba cải tạo. Tác giả nghĩ đến kỷ niệm ấu thơ của mình khi sáu tuổi, nửa đêm thức giấc vì đói được mẹ mình cho củ khoai vùi bếp lửa thơm lừng mà theo ông không có bữa ăn nào trong đời ông ngon bằng. Thú thật khi đọc đến đoạn văn đó, tôi cũng cảm thấy trái tim mình thổn thức trước tình yêu mẹ con mà bóng của họ in hẳn lên phên vách nứa bếp lửa bập bùng. Đó là hình ảnh của bà mẹ trong nước không có tiền già.
 
Hình ảnh "Người Mẹ cô đơn" của Phan phải nhờ người dưng (là tác giả Phan) chở dùm đến chỗ trọ mới trong khi các con của bà bỏ lơ bỏ mặc. Bà mẹ này ở Mỹ có tiền già trợ cấp của chính phủ nhưng không có tình cảm mẹ con. Tự nhiên tôi lại nghĩa đến thân phận mình khi về hưu, khi bóng xế đầu non, khi vạt nắng cuối cùng của một ngày vội tắt.
 
Trường hợp thứ nhì tôi được biết về mảng đời thực của một người già ở Little Saigon lần thăm Cali hè vừa qua, làm tim tôi thêm một lần trật nhịp.
 
Buổi sáng hôm ấy, dậy sớm hơn mọi người tôi ra sân quơ vài động tác thể dục. Bỗng tôi thoáng thấy chiếc nón lá trồi lên hụp xuống ở khu vực chứa rác của khu nhà townhouse. Ở miền Đông Bắc mấy chục năm tôi có bao giờ thấy được chiếc nón lá? Tò mò, tôi bước lại gần. Một bà cụ già, già lắm, chắc phải gần tám mươi, bước ra khỏi khu vực thùng rác. Tôi chào. Bà cụ chào lại tôi. Cả hai không nói thêm lời nào. Tôi chợt hiểu khi nhận thấy dưới chỗ chân bà vừa bước ra, lổn nhổn vỏ chai coca, chai bia, nước suối .. trong túi nhựa nylon. Bà cụ giở nón ra quạt cho mát. Mái tóc trắng bù xù và nụ cười dúm dó. Bà cho biết bà đang hưởng tiền già, nhặt thêm vỏ chai kiếm thêm chút đỉnh gởi về bên nhà cho đám cháu con nghèo khổ. Tôi choáng váng vì xúc động, thương cảm cho bà mẹ già, chân tôi như bị ai đóng đinh không bước đi được và nghe tim mình như bị ai trói chặt. Trời ơi, người mẹ Việt Nam nơi xứ người khổ sở đến thế hay sao?
 
Có lẽ cũng vài phút trôi qua, bà khách hỏi tôi:
 
- Cô à, cô có sao không vậy?
 
Tôi vùng thoát khỏi cơn mê, gượng gạo trả lời:
 
- Không sao, thưa bà, tôi từ xa đến chưa quen giờ giấc, thiếu ngủ nên thấy chóng mặt ..
 
Người mẹ già băng qua đường với bao nylon đựng đầy vỏ chai trên tay. Tôi vẫn đứng yên, nhìn bóng bà xa dần, tay chân lóng ngóng.
 
II-
 
Chúng tôi không thể ở lại San Diego để mừng sinh nhật Chúc Minh tuần tới vì đã hết ngày phép. Con nhỏ có vẻ không vui. Tôi nói với nó mai mốt về hưu có thể chúng tôi về Cali ở với chúng nó. Nó mừng rơn, gặng hỏi tôi: Thiệt hông dì? Thế rồi nó nói dì dượng xuống đây, con chừa cái Master bedroom cho hai ông bà, bao ăn ở chỉ charge $500 thôi. Tôi nói ô kê với điều kiện là sáng ăn tôm hùm chiều cháo bào ngư tối đi coi văn nghệ, vợ chồng nó cười ha hả.
 
Đến phi trường L.A. chân tôi tê cứng không bước xuống xe được, ông xã mới vịn tay tôi đỡ xuống xe. Vợ chồng Chúc Minh được dịp la bài hãi:
 
- Trời ơi hai ông bà già tình tứ quá!
 
Tôi cười:
 
- Già thì có tình già chứ, gừng càng già càng cay, mấy đứa bay không nghe người đời nói vậy sao?
 
Suốt 6 giờ đồng hồ từ L.A về đến N.J tôi cứ nghĩ ngợi về chữ "tình già", tựa đề bài thơ mới đầu tiên của Phan Khôi xuất hiện trên báo năm 1932:
 
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa ..
 
.. Ôi tình nghĩa đôi ta thì rất nặng
Mà lấy nhau ắt là không đặng ..
 
Lời thơ ngây ngô như lời nói, đầy đủ "thì, là, mà" nhưng gây sóng gió không nhỏ trong buổi đầu hình thành thơ mới. Người đời thường cho rằng vợ chồng về già chữ tình không còn, sống với nhau về nghĩa. Tôi không biết đúng sai, có điều tôi nhận thấy vợ chồng già tình cảm không còn sôi nổi, bộp chộp như hồi trẻ mà thấm đẫm hơn, sâu lắng hơn. Chắc vì lý do đó ca dao có câu:
 
Con cá làm ra con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi
 
Người xưa không sai chút nào khi dùng chữ "thương lắm". Ủa, vậy người trẻ không "thương lắm" hay sao? Không hẳn là vậy, vợ chồng trẻ yêu nhau đắm đuối say mê nữa là đằng khác, nửa bước không rời. Nhưng chữ "thương lắm" dùng cho vợ chồng già mang một ý nghĩa dài lâu hơn, nghĩa là họ đã trải qua mấy chục năm dài lận đận với nhau, xẻ ngọt chia bùi. Theo tôi, câu hát trên nói về tình nghĩa vợ chồng lúc về già còn mang ý nghĩa cần thiết nữa. Qua rồi tuổi thanh xuân khi con cái đã đủ lông đủ cánh bay khỏi tổ ấm gia đình, chúng nó có vợ có chồng, có con cái, có nhà riêng, thì chỉ còn lại hai vợ chồng già trong cái mà người Mỹ gọi là "Empty nest". Bây giờ ông nhìn bà, bà nhìn ông, cả hai mái đầu đều bạc, nay nóng lạnh, mai nhức đầu .. Nếu không dựa vào nhau thì còn biết trông cậy vào ai
 
Trong tháng 7/2014, bài viết của tác giả Philato "70, chán mớ đời" khiến tôi đọc đến mấy lần vì thấy mình trong đó. Thực là chán quá chừng ở cái tuổi trên dưới 70, nghĩa là tuổi già lãng đãng khi nhớ khi quên, bước cao bước thấp, bệnh hoạn hà rầm ..
 
III-
 
- Bộ bà không biết đến thì giờ sao? Sáng đi làm, giờ này gần 12 giờ đêm còn đọc sách?
 
- Nhớ đóng cửa sổ lại, đêm nay chỉ có 42 độ, bà dễ ngươi là bệnh đó nghe!
 
- Nếu bà thấy mệt quá xin nghỉ hưu trước đi, một mình tôi làm gói ghém cũng đủ qua ngày mà ..
 
Đó là những lời ông đã nói với bà cho thấy sự quan tâm âu yếm, nhưng bà chỉ ừ hử cho qua chuyện. Ông lớn tuổi hơn bà, người nghỉ hưu trước phải là ông mới đúng chứ?
 
Thời gian trôi nhanh hơn mình tưởng. Chúng ta chưa kịp hưởng tuổi thanh xuân của mình thì tuổi già hấp tấp đến gần. Tuổi bảy mươi còn toan tính gì được nữa đâu, chỉ mong còn chút vui bên con cháu, Thu đã sang thì mấy chốc Đông tàn?
 
   
Trước Noel đúng một tuần, năm nay, là 40 năm tình chồng vợ của hai đứa tôi. Tôi thấy lòng một chút bâng khuâng. Ôi tình yêu là hơi thở một đời và tình già rộng mở những bao dung cho một thời tàn lụi. Chúng tôi muốn gởi trao đến bạn đọc tất cả sự nồng nàn của tình già vì chúng ta làm sao biết được bao ngắn bao dài thời gian chúng ta còn ở bên nhau đâu?
 
Buổi tối ông thấy khó thở vì tim đập nhanh. Bà hơi lo cứ thức giấc canh chừng ông.
 
- Ông uống thuốc chưa? Uống nước cam không tôi pha cho.
 
- Bà ngủ đi, tôi uống thuốc rồi, chút là khỏi thôi.
 
- Nếu không được khỏe, mai tôi nấu cháo gà với sâm, kỷ tử cho ông ăn nha. Đừng ăn cơm khó tiêu. Nhớ đắp mền cho ấm người ..
 
Tình già vậy đó. Nhưng không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt. Cũng có lúc cãi cọ, khích bác, chế giễu lẫn nhau.
 
- Trời ơi sao ông lụi đụi quá vậy ông già?
 
- Bộ bà không già sao?
 
Có những lúc vì áp lực công việc ở sở, vì những gút mắc vụn vặt của gia đình, vợ chồng già cũng hục hặc với nhau, giận hờn nhau. Nhưng "giận thì giận mà thương thì thương" nên dễ dàng "huề vốn" với nhau lắm.
 
Sở dĩ tình già bền bỉ, theo thiển ý của chúng tôi, là ngoài tình yêu còn có sự quý trọng và bao dung, trên hơn hết là sự nhường nhịn nhẫn nại. Có phải người Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam lớp trước (như tuổi già của chúng ta hiện nay) ít muốn thay đổi, không thích mạo hiểm trong tình trường?
 
Để kết thúc bài viết tôi xin gời đến quý bạn đọc câu ca dao:
 
Anh buồn còn chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.
 
Nhang đã tàn lại được thắp giữa khuya cho thấy sự lạnh lẽo cô đơn biết là chừng nào. Tình già đôi lúc cũng như thế. Tình già, có thể là tình vợ chồng dài lâu ân nghĩa, cũng thể là tình bạn thâm giao, chúng ta hãy cố gắng giữ gìn, sưởi ấm tình nhau.
 
 
Song Lam

Tình Nghĩa, Nghĩa Tình

Tình Nghĩa, Nghĩa Tình

Tác giả: Khôi An
Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1984, hiện là cư dân cuả Bắc California.  Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử tại Intel Cooperation. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của cô là “Vui Buồn Thuở Ấy”. Bài mới viết cho biết thêm cô là thuyền nhân và kể lại câu chuyện xúc động:  Một chuyến tầu vượt biển bị hải tặc săn đuổi và vào lúc tả tơi cùng quẫn hết chạy nổi thì thấy lá cờ Mỹ... 

***
Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hoà. Lúc đó tôi đã nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ. Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho ngươì đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm ngươì bạn đồng thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng"
. . .
Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín ngươì đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được bình an. Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở, tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi ngươì chìm vào giấc ngủ mệt mỏi... 

Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình choàng dậy thì sự hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy ngươì lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt phụt sau khi bác tài công ra lệnh:
- Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!! 
Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay. Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên; và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng thiêng liêng cứu vớt chúng tôi...  

Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc...  Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần này đuợm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:
- ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây"
Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần. 
Bỗng bác tài công và những nguơì trong phòng máy trên cao vụt la lớn:
- Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!
- Tàu gì vậy" Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!
Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ lượn vài vòng rồi...  mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần. 
Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút ngươì đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:
- Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!
Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!

Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà nhà mười mấy tầng, những ngươì lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những ngươì yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới nơi, mỗi ngươì được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm ngươì Việt Nam chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi ngươì đã lên tàu lớn, những nguơì lính Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt. Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút ngậm ngùi... 

Tổng cộng thuyền nhân đuợc cứu từ hai chiếc ghe vuợt biên lên tới gần hai trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyêt định đi chếch qua để cứu chúng tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.

Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi đuợc phép lựa những thứ tạm mặc đuợc để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và đang ở trên tàu Mỹ.

Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước lên tàu.

Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm ngươì chúng tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám, loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ đuợc rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy ngươì ta đang lăng xăng dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám ngươì đông đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là nước giảo của cà phê Việt Nam!

Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực nhọc nhất.

Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã đuợc xem cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng máy nhưng đuợc thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng đuợc cảm giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...  

Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong đồng phục xanh, ai cũng ân cần, vui vẻ. Họ đuà giỡn với con nít, trò chuyện với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James Bond với tựa đề "For Your Eyes Only". Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao, trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưỏng như mình đang trôi trong đêm hoa đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.
. . . 
Như thế đó, tôi đã may mắn gặp đuợc cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình ngươì, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những "sứ giả" trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi.

Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng "xuất khẩu" mà người đi làm bình thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi. 

Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ nhỏ, những câu tục ngữ như "Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo" đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưởng thành một mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như...  có lỗi khi thấy mình càng ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí. 

Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng và đau đớn của nhiều người lớn khi bị "đồng minh Mỹ bỏ rơi". Khi tôi nghe vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi ngươì, nhưng riêng tôi, tôi thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những nguơì dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những ngươì Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.

Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng - hay mong rằng - nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.

Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ "ra đi không có ngày về". Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết - hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết - cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.
. . .
Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa giưã sông và biển" Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm.

Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã duỡng dục tôi. Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với Hoa Kỳ là nghiã...  Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay là ngược lại" Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.

Khôi An.
Muà Giáng Sinh 2008

Friday, November 21, 2014

Do Thái và Tầu Cộng


The Jews and China- Napoleon Bonaparte: "Những ác quỷ Do Thái không phát xuất từ những cá nhân, mà từ bản chất nền tảng của giống dân đó."
(The evils of the Jews do not stem from individuals, but from the fundamental nature of this people
.)
 
- Tài liệu nầy được tìm thấy trên trang mạng EXPEL THE PARASITE! với tựa đề là "The Jews and China." Căn cứ trên một số hình ảnh trên đầu trang, chúng tôi ước đoán trang nầy là một trong nhiều cao trào công khai bài Do Thái, cụ thể hơn là cao trào Neo-Nazism (xin đừng hốt hoảng), vì logo của trang có trưng một cây Thánh Giá bên cạnh một hình chữ Vạn của Đức Quốc Xã (một lần nữa, xin đừng hốt hoảng). Vì tính cách nhạy cảm của vấn đề, chúng tôi không cung ứng địa chỉ của trang và muốn để độc giả tự ý tìm lấy, nếu muốn. Thay vì thế, chúng tôi sao chép lại nguyên văn tiếng Anh bên dưới phần chuyển ngữ để độc giả tiện tham chiếu.
- Chúng tôi xét thấy phần lớn nội dung của bài viết đáng được chia xẻ với mọi người, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi đồng tình với tội ác diệt chủng không phân biệt của Hitler. Trong một thế giới mà truyền thông bị Do Thái làm chủ và điều hành hơn 90 phần trăm, tiếng nói đối kháng rất cần thiết và đáng được đối xử công bằng, nếu không nói là đáng khuyến khích, miễn sao thông tin đó được xử dụng một cách chọn lọc. Hệ thống truyền thông đó cũng hầu như độc quyền soạn thảo và truyền bá những tài liệu về Holocaust, chẳng hạn.   Nếu thiếu đi những tiếng nói bài Do Thái thì nhân loại sẽ không biết mình đang sống trong một loại thế giới nào ngày nay. Nếu nhắm mắt chụp mủ những tiếng nói bài Do Thái là lầm mưu Do Thái. Bài Do Thái không phải là một tội chính trị ngày nay nếu xét kỹ những gì tập đoàn Do Thái quốc tế đã và đang gây ra cho thế giới, nhất là Hoa Kỳ ngày nay và Việt Nam bốn mươi năn trước đây.
- Cũng như các tài liệu khác, quan điểm của tài liệu đang được chuyển ngữ không nhất thiết phản ảnh quan điểm của người chuyển ngữ. Quyền thẩm định thuộc về người đọc, thích thì xem, không thích thì bỏ qua -   xin miễn bàn.
- Đỉnh Sóng
Phần chuyển ngữ
clip_image002
Điều rõ ràng đối với chúng tôi là Tầu Cộng hiện đại với kỹ nghệ sản xuất khổng lồ, lao động rẻ, và đầu óc giống như nô lệ là một sản phẩm của Do Thái. Lao động rẻ và những nô lệ tự nguyện là giấc mơ Do Thái và Tầu Cộng  hoàn toàn phù hợp với giấc mơ đó.   Lý do duy nhất của kỹ nghệ sản xuất là phát triển (hiện đang chậm lại) ở Tầu Cộng vì bọn Do Thái đang kiểm soát tất cả những quốc gia Tây Phương và đã chuyển sang đó tất cả những việc làm sản xuất của chúng ta.   Khi thấy tất cả những việc làm tập trung vào một chỗ (Tầu Cộng) và rời khỏi bờ biển của chúng ta thì chẳng cần phải một thiên tài mới tiên liệu được vấn đề!Nếu nhìn qua tình trạng kinh tế thế giới ngày nay, bạn sẽ thấy rằng Tầu Cộng căn bản đang sản xuất hàng hóa cho kẻ khác và, đáp lại, chúng ta đang cạn dần những thứ để cung ứng cho họ. Nhờ kiểm soát được Phương Tây, Do Thái đã tạo được một hiện tượng hỗn mang tuyệt đối ở chân trời vì Tầu Cộng cần những quốc gia khác mua tất cả những sản phẩm của họ. Nếu không có một quốc gia nào đủ giàu để mua tất cả những phế phẩm Tầu Cộng thì chẳng bao lâu Tầu Cộng  sẽ không có gì để làm. Bạn không bán hàng cho người khác nếu họ thực sự không có gì để cung ứng cho bạn trở lại. Đó là một nan đề của Tầu Cộng. Tây Phương hầu như đã đi đến chỗ không còn gì để cung ứng. Cứ thử xem chúng ta nhập của Tầu Cộng nhiều hơn bao nhiêu so với số lượng xuất sang họ. Do Thái khó lòng tiếp tục giả vờ rằng Tây Phương hãy còn làm ra của cải.   Đó là lý do tại sao chúng ta có những chương trình kích cầu nầy.   Khi mọi cái gì khác đều thất bại, bọn Do Thái liền in ra những núi tiền khổng lồ để giữ cho nền kinh tế đang sụp đổ được ngoi lên. (Thực ra chúng không in nhiều tiền mặt mà chỉ tạo tín dụng để bơm tiền vào bất kỳ cái gì nằm trong âm mưu lường gạt mới nhất của chúng). In tiền không bao giờ tác dụng được, vì in tiền thực sự không giúp được gì cho nền kinh tế thực sự mà chỉ đưa đến lạm phát lớn lao trong tường lai – nghĩa là “tiền ma” của chúng ta bị giảm giá, và, để kiểm soát lạm phát,   bọn Do Thái chỉ còn cách nâng lãi suất; và đó chính là tự sát kinh tế.  Hãy xem cuốn băng ghi hình Money Masters để nhận thấy hết hệ thống tiền tệ Do Thái hoạt động ra sao.   Cuốn băng dài khoảng ba tiếng và lương thiện về mọi phương diện ngoại trừ không nêu đích danh Do Thái. Tuy thế, đó vẫn còn là một chuyện nhỏ.
“Tầu Cộng đang đi chậm lại.” Đó là câu mà bạn thường xuyên nghe trên truyền hình. Nguyên nhân của chuyện nầy là phần còn lại của các nền kinh tế thế giới đang trong kế hoạch đóng cửa và khi gặp khó khăn tài chánh người ta  có khuynh hướng không mua nhiều nữa. Do đó Tầu Cộng “chậm lại,” thế thôi.Bọn Do Thái và tham vọng ngông cuồng của chúng muốn đô hộ thế giới vốn là một điều bẩm sinh nơi chúng. Làm một ký sinh trùng có nghĩa nô lệ hóa và cuối cùng hủy diệt chủ thể. Đó là thời điểm mà chúng ta đang sống ở phương tây  hiện nay. Trong tư cách là những nước chủ nhà, chúng ta đã bị Do Thái thanh toán. Chúng luôn luôn hủy diệt những quốc gia nầy rồi tìm những quốc gia khác đẻ bám. Tôi nghĩ Tầu Cộng khó lòng là một nước hiếu khách. Chắc chắn là không nếu họ nhận thức ra rằng tất cả những nước mua hàng của họ đều không có gì để cung ứng cho họ trở lại. Đó là lúc sự thể trở nên oái oăm cho bọn Do Thái nầy!
Bọn Do Thái không làm chủ Tầu Cộng (đó là ý kiến cá nhân của tôi; một số người khác có thể nghĩ khác). Chúng có nhiều quyền lợi tài chánh ở đó nhưng rồi ra chúng sẽ không chiếm hữu Tầu Cộng. Mặc dù, phải công bình mà nói rằng bọn Do Thái đang thao túng Tầu Cộng, vì người Tầu Cộng chỉ hiện hữu trong quốc gia của họ bao lâu bọn Do Thái còn giữ cho Phương Tây thoi thóp.Phần hấp dẫn của viễn ảnh sụp đổ toàn cầu do Do Thái gây ra là bọn Do Thái đã tạo ra một tình trạng tự sát cho chính chúng. Nếu chúng cho Tây Phương nổ sập (sụp đổ nhanh), hay Tây Phương chỉ sụp đổ theo qui luật tất yếu (chết chậm), thì cách nào đi nữa bọn Do Thái cũng tiêu ma (như cây chủ và cây tầm gửi), và chúng ta cũng vậy. Đó thực sự là một tình trạng điên rồ mà chúng đã đẩy thế giới vào, và cũng không có một giải pháp nào dễ dàng cho cảnh hỗn mang tài chánh! Điêu nầy cho thấy tại sao bọn Do Thái không tinh khôn như người ta tưởng mà thực ra chỉ là một đám điên rồ bẩm sinh. Chúng không thể không hủy diệt mọi thứ và cuối cùng hủy diệt chính chúng. Điều đó cho thấy hành vi tập thể bẩm sinh của bọn người nầy. Chúng chỉ có thể mưu đồ đến thế trước khi chúng bị tiêu diệt ngay trong ổ của chính chúng.
Nếu chúng là những thiên tài về tài chánh như chúng giả vờ làm thế (và đa số người nghĩ thế), thì tình trạng kinh tế toàn cầu không đến nỗi như thế nầy. Lý ra chúng có thể giữ được một cân bằng khả thi trong những nền kinh tế quốc gia Phương Tây, vì sản xuất, nông nghiệp, và kỹ nghệ dịch vụ, tất cả đều thiết yếu nếu được thăng tiến. Bạn có thể nghĩ rằng biết đâu bọn Do Thái đã quyết định xử dụng các quốc gia Tây Phương trong hai hay ba thập niên nữa thôi, giữ cho chúng ta sống cho đến khi những đầu mối lỏng lẻo của chúng được siết lại, và sau đó sẽ tiêu diệt chúng ta sau khi chúng đã dùng hết khoảng thời gian   đó để nắm lấy quyền kiểm soát cụ thể toàn bộ thế giới. Nếu âm mưu Do Thái là tuyệt đối vi mật thì đó là những gì chúng lý ra đã thực hiện. Khi thời điểm kiểm soát cụ thể toàn cầu nói trên đạt được, và không ai có thể đứng lên chống lại chúng, thì chúng tự do làm bất kỳ thứ gì chúng muốn đối với những sắc dân không phải Do Thái. Theo ngạn ngữ, đó làHELL ON EARTH (Địa Ngục Trần Gian).
Nói thêm về Do Thái
Những người mà Do Thái cho là khôn hình như có thói quen giả định rằng người Do Thái là một sinh vật có đầu óc lành mạnh, thực hiện mọi quyết định của hắn dựa trên những kế hoạch cẩn thận, được suy tính chu đáo. Không gì xa sự thực hơn thế! Thực ra hắn chỉ là một sinh vật ngoài hành tinh, không như tất cả những con người khác của bất kỳ sắc tộc nào, và dứt khoát hắn không lành mạnh chút nào. Đúng hơn, hắn là đồ điên. Hắn hành động dựa trên những bản năng sinh học và những bản năng nầy là hủy diệt, ký sinh và, ngộ nghỉnh thay, tự sát. Người Do Thái lý ra đã tự sát cả trăm lần hay hơn thế nếu chúng không có những quốc gia chủ thể để bám xuyên qua lịch sử! Ngộ nghỉnh thật!
Tất cả những ký sinh trùng đề tự sát. Chúng giết chết chủ thể rồi sau đó chết theo. Bọn Do Thái là ký sinh trùng và chúng không thể hoạch định 100 phần trăm sáng suốt để cai trị thế giới. Ký sinh trùng không thể hoạch định để sinh tồn; chúng dứt khoát không thể. Nếu không còn có cây để bám thì những giây chùm gửi không thể dùng ảo thuật để phát triển khả năng sinh tồn mà không có cây để bám. Ký sinh trùng Do Thái tìm cách nô lệ hóa, giết, và tận diệt mọi người và mọi thứ mà chúng để tay lên! Bọn Do Thái không thể tồn tại mà không có những người khác để hút hết máu.
Hành vi Do Thái luôn luôn là một và có thể tiên đoán được đối với bất kỳ ai truy cứu chúng. Chúng lặp đi lặp lại mãi cùng những biểu mẫu và cùng những lỗi lầm giống nhau. Tất cả những gì mà chúng ta phải làm là nhận thức được lịch sử của chúng để thấy chúng đang ở vào giai đoạn nào trong chu kỳ của chúng. Hành vi của chúng bị lôi cuốn theo bản năng sinh học trên hết, và chính bản năng sinh học đó khiến chúng âm mưu.  


Xin xem toàn tài liệu với phần Anh Ngữ ở địa chỉ:
http://www.dinhsong.net/DS/ChinhTriKinhTe.aspx?ind=81

Thursday, November 20, 2014

Kịch bản Điếu Cày trong ván bài Mỹ trở lại Việt Nam

Kịch bản Điếu Cày trong ván bài Mỹ trở lại Việt Nam
Lữ Giang

Displaying

Ngày 21.10.2014, khi Điếu Cày đến phi trường Los Angeles, người Việt tại vùng Nam Cali đã đón tiếp rất nồng nhiệt.  Nhưng chuyện Điếu Cày đột nhiên được nhà cầm quyền CSVN phóng thích và cho đi Mỹ đã gây khá nhiều thắc mắc đối với dư luận trong cũng như ngoài nước.
Ngày 23.10.2014, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VN là Phạm Thu Hằng cho biết Nhà nước Việt Nam đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với Nguyễn Văn Hải và cho phép xuất cảnh sang Hoa Kỳ “vì lý do nhân đạo”.
Hai đài Việt ngữ của chính phủ Hoa Kỳ thả bong bóng:  Đài VOA ngày 23.10.2014: “Vụ Điếu Cày: Việt Nam dùng tù nhân làm con bài mặc cả với Mỹ?”  Đài RFA ngày 27.10.2014: “Ai đã xây dựng hình tượng blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải?”  Còn nhật báo Cali Today ở San Jose ngày 27.10.2014 đặt câu hỏi: “Trục xuất Điếu cày sang Mỹ: Phải chăng là vụ “buôn người” giữa hai chính phủ?”  Trước đó báo này cho rằng “họ xem việc làm này như là sự nhượng bộ, ngõ hầu Mỹ sẽ cứu xét nguyện vọng gia nhập TPP của Hà Nội”!  Trong khi đó, Điều Cày dọa: “Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế” và “Tôi phải chỉ rõ ra những khuyết tật của xã hội Việt Nam”, v.v.
CHỈ LÀ NHỮNG KỊCH BẢN
Thật ra, không phải chỉ Điếu Cày mới qua Mỹ chân ướt chân ráo, mà rất nhiều “bình luận gia ta” đã từng ở Mỹ gần 40 năm, vẫn tin rằng nhà cầm quyền Việt Nam đang nhượng bộ Mỹ để đổi lấy một số lợi ích về cả chính trị, kinh tế lẫn quân sự.  Nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy những chuyện đã xảy ra giữa Mỹ và Việt Nam trong những tháng gần đây chỉ là những kịch bản đang do cả hai bên cùng đạo diễn để mở đường cho một chính sách mới của Mỹ sắp được thực hiện ở Việt Nam để ngăn chận Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á.  Dân chủ, nhân quyền, TPP… chỉ là chiêu bài.  Trung Quốc từ trên cao nhìn xuống nên thấy rõ hơn:  Tờ “Tầm Nhìn” tiếng Tàu ngày 25.10.2014 đã dẫn tờ “Phượng Hoàng” cũng tiếng Tàu, đặt câu hỏi: “Việt Nam tại sao trở thành con cưng mới của Mỹ, dựa vào họ cũng có thể đối đầu với Quân đội Trung Quốc?”
Cũng giống như lúc trước, khi bỏ cấm vận và lập bang giao với Hà Nội, rồi đây Mỹ cũng sẽ làm ở Việt Nam những điều trái với những gì người Việt đấu tranh đang mong muốn hay đòi hỏi.  Điếu Cày cũng chỉ đóng một vai phụ nhỏ trong những kịch bản đó.
VÀI NÉT VỀ ĐIẾU CÀY
Điếu Cày có tên thật ra Nguyễn Văn Hải, còn được gọi là Nguyễn Hoàng Hải, có bút hiệu là Điếu Cày, sinh ngày 23.9.1952 tại Hải Hưng (Hải Dương – Hưng Yên cũ), con ông Nguyễn Văn Duy và bà Trần Thị Huệ, thường trú tại 57/3-4 Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân cũ), phường 6, quận 3, Sài Gòn, đã có vợ là bà Dương Thị Tân (sinh năm 1958, nay đã ly dị) và ba con là Nguyễn Trí Dũng, Nguyễn Thị Hoàng Yến và Nguyễn Thị Thu Hương (đang ở Vancouver, Canada).
Nguyễn Văn Hải đi bộ đội từ 1971 đến 1976 rồi về làm việc tại Công ty Kim khí Hải Phòng một thời gian, sau đó vào Sài Gòn học nghề sửa chữa điện tử và làm nghề sửa chữa điện tử tại Công ty Dịch vụ Thương mại Sài Gòn. Anh còn hành nghề mua bán bất động sản, nhờ nghề này cuộc sống của anh đi lên.
SƠ LƯỢC CÁC VỤ ÁN ĐIẾU CÀY
Nguyễn Văn Hải bị bắt trưa ngày 19.4.2008 tại Đà Lạt và phát lệnh cấm di chuyển khỏi nơi cư trú.  Ngày 20.4.2008 Công An xét nơi cư trú và làm việc của Nguyễn Văn Hải tại Sài Gòn, tịch thu nhiều dụng cụ và dữ liệu.  Kết quả cuộc điều tra cho biết:
1.- Về tội trốn thuế
Theo bản cáo trạng, Nguyễn Văn Hải và Dương Thị Tân có hai căn nhà ở Sài Gòn, một ở số 57/3 – 57/4 đường Phạm Ngọc Thạch, phường 6, quận 3, và một ở 84D đường Trần Quốc Toản, phường 8, quận 3. Lúc đầu ông cho Công ty Cổ phần Kính mắt Hà Nội thuê hai căn 57/3 – 57/4 đường Phạm Ngọc Thạch kể từ ngày 1.6.1999 với giá 1.200 USD/tháng (gồm nhà và thiết bị), rồi được tăng giá lên dần, từ 1.7.2002 đến 1.7.2005 là 1.400 USD/tháng, từ 1.7.2008 là 1.600USD/tháng và từ 1.7.2010 là 2.000 USD.  Kể từ 2007, hai căn nhà này đã được sang tên lại cho con trai là Nguyễn Trí Dũng.
Căn nhà số 84D đường Trần Quốc Toản, phường 8, quận 3, lúc đầu Nguyễn Văn Hải dùng để ở, đến tháng 2/2006 cho Phan Huỳnh Minh Nguyệt, Lý Thị Tuyết Hạnh và Đinh Lê Hà thuê làm dịch vụ thẩm mỹ với giá 600 USD/tháng.
Trong cả hai dịch vụ cho thuê nói trên, vợ chồng Hải không hề kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập và thuế môn bài.  Theo kết luận giám định của Chi cục Thuế quận 3, tổng số tiền cho thuê hai căn nhà nói trên là 2.816.371.275 đồng.  Tổng số tiền trốn thuế là 441.632.446 đồng.
2.- Về tội tuyên truyền chống phá nhà nước
Theo bản cáo trạng, năm 2001 ký giả Lê Xuân Lập (sinh năm 1958) đang làm việc tại một tờ báo có văn phòng ở Sài Gòn đã gởi đơn cho Hội Nhà Báo Việt Nam xin thành lập “Hội nhà báo tự do” với mục đích giúp đỡ, tương trợ những cộng tác viên không có thẻ nhà báo.  Đề nghị này không được chấp nhận.  Đến năm 2007, Lê Xuân Lập nghỉ nghề làm báo và đệ đơn lên Thủ tướng Chính phủ xin thành lập “Hội nhà báo tự do” nhưng cũng không được phép.
Sau đó, qua trao đổi trên mạng Internet và qua điện thoại, Lập gặp gỡ Nguyễn Văn Hải cùng một số đối tượng khác và thành lập “Câu lạc bộ nhà báo tự do”(CLBNBTD).  Lập được bầu làm chủ nhiệm.  Nguyễn Văn Hải và 2 đối tượng khác được giao nhiệm vụ thiết kế blog CLBNBTD rồi thông báo rộng rãi cho các thành viên sử dụng.
Nhưng sau đó Nguyễn Văn Hải đã tự động thay đổi mật khẩu blog và nhận làm chủ nhiệm blog, loại Lê Xuân Lập ra, đưa bà Tạ Phong Tần (sinh năm 1968 ở Bạc Liêu, một cựu sĩ quan công an) và anh Phan Thanh Hải (sinh 1969 tại Thủ Đức, Sài Gòn) vào phụ trách bài vở và biến thành một cơ quan đấu tranh chính trị, chống đối nhà nước.  Tạ Phong Tần lập blog “Công lý và Sự thật”, sau đổi thành “Sự thật và Công lý”, còn Phan Thanh Hải lập blog “Anhbasaigon”.
Chỉ trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2010, đã có 421 bài đăng trên CLBNBTD, trong đó có 94 bài do thành viên CLBNBTD viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.  Trong số này, 26 bài được coi là “kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác…” (Kết luận giám định số 10/KLGĐ, ngày 15.4.2011).  Ngoài ra, 3 bị can còn lợi dụng các sự kiện chính trị, tổ chức và tham gia các cuộc biểu tình với danh nghĩa chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa-Trường Sa và tẩy chay Olympic Bắc Kinh khi rước đuốc qua Sài Gòn.
Bản cáo trạng còn cho biết Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải đã tham gia đợt huấn luyện do tổ chức phản động “Đảng Việt Tân” tổ chức tại Thái Lan.  Thật ra đây là “Đảng Việt Tân” giả do Công An lập ra, phối hợp với Nguyễn Sĩ Bình ở Bắc California để gài bắt nhóm Luật Sư Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung, nhóm Sinh Viên Thanh Niên Công Giáo Vinh và nhóm Nguyễn Văn Hải.  Lúc đầu Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải chối, nhưng Công An đưa băng ra nên đành câm họng.
DIỄN BIẾN KỲ LẠ CỦA VỤ ÁN
Điều đáng ngạc nhiên là nhà cầm quyền CSVN không truy tố Nguyễn Văn Hải cả hai tội trốn thuế và tuyên truyền chống phá nhà nước cùng một lúc.  Có lẽ những gì nhóm Nguyễn Văn Hải đã làm không quan trọng lắm, nhưng thấy Hải hay quậy nên gài để bắt và cô lập.  Lúc đầu Nguyễn Văn Hải và vợ là Dương Thị Tân chỉ bị truy tố về tội trốn thuế. Ngày 10.9.2008 toà án Quận 3, tuyên phạt Nguyễn Văn Hải 2 năm 6 tháng tù giam, và bà Dương Thị Tân án cải tạo không giam giữ 16 tháng và thử thách 3 năm.
Bị vào tù rồi, Hải vẫn còn quậy. Những tin đấu tranh của Điếu Cày từ trong tù đưa ra ngày càng dồn dập, được đài Á Châu Tự Do (RFA) thổi phồng lên. Tạ Phong Tần và Nguyễn Thanh Hải ở ngoài cũng nhập cuộc, làm cho vụ chống đối ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Ngày 19.10.2010 là ngày ông Hải mãn hạn tù, nhưng thay vì trả tự do, Công An cho lệnh tiếp tục giam giữ.  Mặc dầu hồ sơ vụ án được lập từ năm 2008, đến tháng 9/2011, tức hơn hai năm sau, hai blogger Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải mới bị bắt và bị truy tố cùng với Nguyễn Văn Hải về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” với mục đích giam giữ Điếu Cày lâu hơn.
Ngày 24.9.2012, Tòa án Sài Gòn đã đã mở phiên sơ thẩm, tuyên phạt Nguyễn Văn Hải 12 năm tù và 5 năm quản chế tại địa phương, Tạ Phong Tần 10 năm tù và 3 năm quản chế tại địa phương, và Phan Thanh Hải 4 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.   Cả ba đã kháng cáo, nhưng trong phiên xử ngày 28.12.2012, Tòa Phúc Thẩm đã y án Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần.  Riêng Phan Thanh Hải vì “có thái độ thành khẩn và hoàn cảnh gia đình khó khăn” nên tòa giảm mức án xuống còn 3 năm tù giam.
ĐI VÀO KỊCH BẢN CỦA MỸ
Chúng ta nhớ lại, từ năm 1988 Hoa Kỳ đã cho nhiều phái đoàn đến Việt Nam, được nói là đi tìm người Mỹ mất tích (POW/MIA).  Ông Nguyễn Văn Thiệu là nhà quê, chẳng biết gì về chính trị nên bảo rằng nếu ông ta có quyền thì ông sẽ giải quyết xong ngay!  Ông Thiệu không biết tìm POW/MIA chỉ là “diện”, thương lượng để lập lại bang giao với Việt Nam mới là “điểm”.  Mặc dầu có nhiều tiếng la hét của người Việt chống cộng, ngày 3.2.1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bỏ hoàn toàn cấm vận cho Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai nước, và ngày 11.7.1995 Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Nay những kịch bản như thế đang được diễn lại.  Ngày 23.7.2013 Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đến Mỹ.  Hoa Kỳ và Việt Nam tuyên bố xác lập “quan hệ đối tác toàn diện”.  Ngày 14.12.2013 Ngoại Trưởng Kerry đã đến thăm Việt Nam, đi từ Hà Nội đến Cà Mau.  Đài RFA nhắc lại rằng đây là chuyến thăm Việt Nam lần thứ 14 của ông John Kerry kể từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc hồi năm 1975.  Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki cho biết ông Kerry “nhấn mạnh cam kết lâu dài của Mỹ với khu vực.”
Trong cuộc điện đàm hôm 21.5.2014, Ngoại trưởng Kerry chính thức mời Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thăm Hoa Kỳ.  Ông Phạm Bình Minh đã đến thăm Hoa Kỳ trong hai ngày 1 và 2.10.2014.  Ông Kerry khẳng định “Hoa Kỳ coi trọng vai trò của Việt Nam ở khu vực” và “mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực.”  Còn bà Cố vấn An ninh quốc gia Susan Rice nhấn mạnh “Hoa Kỳ tiếp tục cam kết triển khai chiến lược tái cân bằng ở khu vực.”
Tuy nhiên, nếu muốn xử dụng CSVN để ngăn chận Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á, công việc trước tiên là phải sơn trắng lại, vì lâu nay đài RFA bôi đen quá nhiều rồi.  Kịch bản sơn trắng do “hai ta cùng diễn”.  Năm 2012, Đảng CSVN đã cho bắt khoản 50 người bất đồng chính kiến, năm 2013 chỉ còn 3 người, năm 2014 chưa kiểm được.  Ngoài ra, Hà Nội còn cho phóng thích một số tù chính trị được coi không còn nguy hiểm như Đinh Đăng Định, Nguyễn Hữu Cầu, Vi Đức Hồi, Nguyễn Tiến Trung, Phương Uyên, Trần Tư, Nguyễn Tuấn Nam…
Riêng đối với các thành phần bị coi là “bất trị” như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điều Cày Nguyễn Văn Hải…, nếu thả ra sẽ quậy tiếp nên phải giam cho hết quậy.  Cha Lý bị tai biến mạch máu nảo, đưa vào “nursing home” Nam Hà là xong.  Còn ba người còn lại, phải đưa giam chung với tù hình sự cho chúng nó “xử lý".  Tôi đã từng bị giam ở Trại 5, Yên Định, cách Thanh Hóa khoảng 50cs.  Đây là trại tù đầu tiên của Việt Minh từ 1945, trước gọi là Trại Lý Bá Sơ rồi Trại Lam Sơn, nên biết rất rõ.  Trần Khải Thanh Thủy và Cù Huy Hà Vũ được đưa vào đó để chịu đòn.  Nếu không được đi, Trần Khải Thanh Thủy đã bỏ xác ở đó rồi.  Còn Điếu Cày cho ra Trại số 6, Thanh Chương, Nghệ An, cũng thế thôi.  Nhưng ngày nay thông tin rất rộng rãi, giam lâu hay có chuyện gì không hay xảy ra sẽ bị công luận la ó, nên Hà Nội phải nhờ Mỹ “cứu bồ”, tức rước dùm các “của nợ”!
TỰ CHỌN CON ĐƯỜNG MÀ ĐI
Điếu Cày chưa biết gì về nước Mỹ nên dọa “kiện Việt Nam ra tòa quốc tế” và “chỉ rõ ra những khuyết tật của xã hội Việt Nam”.  Điếu Cày sẽ được đưa lên Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện để trình bày như các cò mồi khác, nhưng những điều anh ta sẽ nói, CIA và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rõ gấp anh ta 10 lần.  Cở như Janet Nguyễn thuyết trình, người ta tưởng con nít đang đọc bài học thuộc lòng.  Như thế mới gọi là kịch bản.  Sau đó Điếu Cày sẽ đi vào con đường của Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt, Cù Huy Hà Vũ, v.v.
Hôm 2.10.2014, Ngoại Trưởng Kerry đã thông báo cho Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh quyết định gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán võ khí sát thương cho Việt Nam.  Một viên chức ngoại giao nhấn mạnh: “Đây là một bước đi rất quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự hợp tác trong tương lai.”
Mỹ đang thay đổi đường lối để biến Đảng CSVN và Việt Nam thành một nút chặn Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á, về cả kinh tế lẫn chính trị.  Mỹ đang đào tạo “thằng con” để thay thế “thằng cha”.  Quan trọng hơn cả, Mỹ đang trấn an Đảng CSVN rằng theo Mỹ không phải lúc nào cũng có nghĩa là mất Đảng.  Đường lối tuyên truyền của đài RFA sẽ thay đổi, ít ra theo chiều hướng của đài VOA.
Những gì Mỹ đã làm năm 1975 khi bỏ miền Nam, hay năm 1994 và 1995 khi tái lập bang giao với Hà Nội, rồi cũng sẽ tái diễn trong thời gian sắp đến, bất chấp người Việt chống cộng muốn gì.  Dân chủ, nhân quyền. TPP… chỉ là chiêu bài.
Những người có thói quen suy nghĩ và hành động theo CẢM TÍNH có căn bệnh rất trầm kha, đó là RẤT SỢ SỰ THẬT, nên thất bại liên tục.  Đừng tự lừa dối mình và lừa dối kẻ khác, phải tự chọn con đường riêng của mình để tìm ra một lối thoát.
Ngày 6.11.2014
Lữ Giang

Wednesday, November 19, 2014

"DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM CỦA GIÁO SƯ STEPHEN YOUNG"

"DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM CỦA GIÁO SƯ STEPHEN YOUNG"
 

Nhà văn Dương Thu Hương

Anh Stephen thân mến,
Tôi vừa nhận được bài báo của anh, đã đọc ngay và bây giờ, viết thư này.

 
Trước hết, chân thành cảm ơn anh về tất cả những gì anh đã làm cho công cuộc chung. Tôi nhắc lại một lần nữa rằng nếu như trước đây, cuộc chiến tranh Mỹ-Việt để lại cho hai dân tộc nhiều mất mát và hối tiếc thì ngày nay, tôi hy vọng chúng ta có một cuộc hợp tác lâu dài, cần thiết, căn để và tốt đẹp. Vì lẽ giản dị, giờ đây, quyền lợi của chúng ta đồng nhất và những nghiệm sinh trong quá khứ đã bảo đảm cho chúng ta hiểu nhau hơn, có thể đi đến những thỏa thuận một cách dễ dàng hơn.
Bài viết của anh công phu, nhiều điểm đánh trúng vào tâm lý cộng đồng người Việt trong nước, trước hết là các điều khoản bảo đảm cho tài sản của họ. Đây là một hiện thực vô cùng phức tạp mà nếu không giải quyết một cách khéo léo, chúng ta sẽ không lôi kéo được dân chúng. Muốn hay không, phải hiểu rằng một số đông cán bộ, sĩ quan cấp trung của quân đội cũng như công an được hưởng lợi từ sau tháng 10 năm 1954 và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nói cụ thể, họ được phân phối nhà ở, mà số nhà này giành giật từ những gia đình làm việc cho các chính quyền cũ. Nếu bây giờ đòi hỏi tất cả phải trả lại thì họ sẽ co cụm lại với bọn cầm quyền cho dù chúng thối nát và bán nước. Đây là lý do đầu tiên tôi phản ứng với chính sách của đảng Việt tân. Các bài viết của họ nhan nhản khẩu hiệu: “Giả nhà cho chúng ông!”. Cũng vì chính lý do này mà tôi đã tuyệt giao với toàn bộ gia đình nhà tôi ở Mỹ. Ông bác tôi là nhà thầu lớn. Tài sản của ông mất cho cộng sản không thể kể hết, ngoài tiền vàng và kim cương ở ngân hàng còn có bốn ngôi nhà nhiều tầng và các loại máy giá hàng triệu đô-la dùng trong việc xây đập chắn nước. Tôi không thể làm hả lòng mọi người nếu không đòi lại được số gia sản đó. Nhưng tôi biết chắc chắn ấy là điều bất khả. Anh và tôi, những người tranh đấu cho dân tộc của mình, vì lợi ích của dân tộc, chúng ta phải hy sinh tình riêng. Như thế, tôi nhắc lại, chúng ta phải tạo ra sự an toàn về mặt tâm lý cho đám đông và bài viết của anh đã đạt được mục đích ấy. Phổ biến một cách rộng rãi và công khai là hợp lý.
Tuy nhiên, song song với bài viết này, chúng ta cần chuẩn bị một chính sách cụ thể để tóm bắt bọn cầm quyền, không chỉ trên phương diện con người mà còn phải thu hồi ráo riết tài sản mà chúng đã cướp của dân chúng. Như thế, cần phải phân chia đám đông thành nhiều lớp và phải có chính sách thích hợp với từng lớp người đó. Ví dụ, không thu hồi nhà của những người bình thường và giá trị tài sản trung bình nhưng phải có chính sách thuế đặc biệt với những kẻ chiếm đoạt những ngôi nhà gía 2000 (hai nghìn) cây vàng như loại nhà của Trần bạch Đằng hoặc Lê nguyên Hãn, con trai vợ cả Lê Duẩn. Tóm lại, phải làm một sự Lọc lựa chính xác và phải có các Biện pháp hiệu lực. Những kẻ biển thủ tài sản quốc gia phải được xử một cách công khai và tuyên truyền rộng rãi, càng rộng rãi càng tốt. Thế kỉ 20 là thế kỉ tiêu biểu cho các cuộc cướp giật khổng lồ. Ở tất cả các nước chậm tiến, đặc biệt là châu Phi, bọn vua chúa, bọn tướng lĩnh, bọn độc tài đội lốt dân chủ... đều thả sức vơ vét tài nguyên lẫn tài sản quốc gia rồi sau rốt chạy trốn khỏi biên thùy, sống vương giả với tiền ăn cắp. Lũ cầm quyền cộng sản cũng không nằm ngoài mưu tính ấy. Chúng đã chuẩn bị cho cuộc tháo chạy từ lâu. Thế nên, sự vô hiệu lực một cách triệt để các hành vi cướp bóc này là hành động đầu tiên lấy lại lòng tin cho dân chúng. Đồng thời đó cũng chính là lời cảnh cáo cho những người cầm quyền tiếp theo.
Về mặt chính trị, việc anh nêu rõ tên Hoàng Trung Hải trong số bè lũ thân Tầu của chính phủ cũng có nghĩa như một sự mở cả: Hoặc là chúng phải gạt bọn này khỏi hệ thống cầm quyền, hoặc là lực lượng đối lập sẽ hành động. Tôi nghĩ đây là một biện pháp khá thẳng thắn. Nhưng chúng ta không thể ngồi chờ câu trả lời của chính quyền Hà nội. Theo tôi biết, hai vụ thủ tiêu nhân sự vừa rồi chứng tỏ đám thân Tầu đang chuẩn bị quyết liệt để bảo vệ miếng ăn của chúng. Chúng hiểu rõ rằng, nếu có sự thay đổi, tất thảy bọn Ngụy Hán, những kẻ kí kết hội nghị Thành Đô, những kẻ kí việc bán mỏ Bô-xít...đều phải xử công khai trước nhân dân. Đương nhiên với những chánh án và thẩm phán có năng lực và uy tín chứ không phải bọn quan tòa chuyên ăn cướp và ăn của đút lâu nay làm lâu la cho chúng. Chớ quên rằng kẻ cầm quyền Hà nội có thể ngu dốt trên phương diện quản lý kinh tế, nhưng trong việc đàn áp nhân dân và bảo vệ quyền lợi của bản thân thì trái lại, chúng cực kì nhạy cảm và đầy thủ đoạn. Anh đừng hy vọng tìm thấy ở lũ này thứ tướng lãnh cao bồi dở như Nguyễn cao Kì hoặc gã chơi gái om sòm kiểu Nguyễn văn Thiệu. Để đánh gục bọn này, không thể chơi trò múa gươm của Công tử con nhà giàu mà phải dùng võ Lục lâm. Sự thích ứng với hoàn cảnh cụ thể, biện pháp hiệu lực với thời điểm cụ thể là hai điều kiện mấu chốt trong chính trị. Xưa thế, mà nay cũng thế.
Điều tối quan trọng giờ đây là phải tìm được các biện pháp thực thi tối ưu để có được một sự đổi thay.
Sự đổi thay này, tôi xin nhắc lại, là vô cùng khẩn cấp, cho cả các anh và cho cả chúng tôi.
Việc anh nêu tên 61 đảng viên ký kiến nghị là việc nên làm, sự khích lệ đáng kể với cộng đồng người Việt trong nước. Nhưng không có sự khích lệ nào đủ làm cho một đám đông đứng dậy, phất cờ khởi nghĩa. Con số 61 là con số quá bé nhỏ so với trên 90 triệu dân. Nó là con số Khởi đầu (Initial), không phải con số Phát triển (Développé) và Hiệu Ứng (Efficacité). Nó đòi hỏi phải có sự Hỗ trợ mạnh, thậm chí bạo liệt. Tuy nhiên, số người này có thể coi là Hạt nhân cho một sự Vận hành (Déclencher) thuộc về Lực lượng bề mặt (Apparence). Đặc biệt là các nhân vật có tư cách kêu gọi và huy động binh lính như tướng Nguyễn trọng Vĩnh, tướng Lê duy Mật.
Thứ nữa, các nhân vật có thể có ảnh hưởng rộng rãi đối với tầng lớp trung gian vì họ đã từng tham gia vào bộ máy cầm quyền, có thể nêu vài tên như Đào xuân Sâm, Trần đức Nguyên, Vũ quốc Tuấn, Tô Hòa, Lữ Phương, Hồ Uy Liêm, Huỳnh tấn Mẫm, Đỗ gia Khoa, Đào công Tiến, Nguyễn hữu Côn...
Hoan nghênh, cổ võ tinh thần phản kháng của họ nhưng chớ nên quá tin vào năng lực cũng như phạm vi tác động của họ. Dù chỉ là Lực lượng bề mặt, họ cũng chưa thể trở thành một lực lượng cần và đủ. Theo tôi biết, khởi sự, họ định cổ võ 2000 người ra đảng. Họ cũng đã thu thập được lời cam kết của 100 người quyết định kí kiến nghị. Nhưng đến phút chót, 39 người rút lại chữ kí, nên chỉ còn 61. Và hai nghìn người hứa ra đảng cũng rút lại với lý do: “Làm thế cũng chẳng được tích sự gì”. Tôi không ngạc nhiên.
Từ ba chục năm nay, tôi chưa từng nghĩ đến khả năng cách mạng hoa hồng, hoa nhài hay bất cứ thứ hoa gì gì đó ở Việt nam. Bởi vì, ở những xứ mà bóng ma Khổng tử đã ngự trị, không có trí thức, chỉ có quan lại. Quan lại, nói nôm na là lũ chó quanh quẩn trong sân của kẻ cầm quyền. Con số 61 người kể trên là những người yêu nước mãnh liệt và tinh thần quốc gia đã khiến họ thắng lướt được sự tòng phục cố hữu đối với kẻ cầm quyền chính thống.
Nói cách khác, họ là những người đang tập sự làm Trí thức, cho dù họ có kiến thức (Lettré). Châu Á chưa bao giờ có một đội ngũ trí thức (L’intelligentsia) theo quan niệm của châu Âu. Cũng vì thế, người phương Tây thường có sự Hiểu nhầm, hoặc Những quan niệm lệch lạc khi đánh giá xã hội châu Á. Người Mỹ cũng như dân châu Âu tin rằng một khi giai cấp trung lưu hình thành thì cùng với họ, tư tưởng dân chủ cũng hình thành và phát triển theo.
Suy nghĩ của các anh dựa trên mô hình cuộc cách mạng tư sản phương Tây. Giai cấp tư sản nảy sinh trong lòng chế độ phong kiến và trở thành kẻ đào mồ cho giai cấp quý tộc cũ. Theo lô-gic ấy, các anh tin rằng giai cấp trung lưu hình thành trong các xã hội chậm phát triển sẽ trở thành lực lượng đối nghịch, sẽ đào thải dần dần bọn cầm quyền cũ và thay thế họ. Các anh nhầm lẫn một cách trầm trọng. Bởi, có những quy luật chung cho nhân loại và có những điều KHÁC BIỆT THẬM CHÍ ĐỐI NGHỊCH phân cách họ. Không hẳn cái gì đúng với phương Tây cũng đúng với phương Đông.
Ông Peter Navarro, tác giả cuốn “Chết dưới tay Trung Quốc” đã nhận định một cách chính xác rằng giai tầng trung lưu Trung quốc có thể ăn Big-Mac và đi xe hơi Mercedes nhưng không hề có một chút khái niệm nào về dân chủ. Để làm sáng tỏ hơn ý kiến của ông Peter Navarro, tôi phải nói rằng giai cấp trung lưu ở các nước cộng sản là đám nha lại may mắn trong nghề con buôn, hoặc liên kết với con buôn. Hoặc là, vế thứ hai, đám con buôn may mắn trong cuộc kết hôn với bọn cầm quyền. Muốn trở thành kẻ có tài sản, cuộc “ Làm tình” này là không thể tránh được. Giai cấp mới giàu phải chia chác lợi nhuận và được tận hưởng sự bảo trợ của những kẻ trong tay có súng. Vả chăng, đa số bọn mới giầu cũng là bọn nằm trong Thái ấp (Fief), Lãnh địa của cường quyền.
Thế nên, hy vọng giai tầng này đứng lên chống lại “Liên minh vàng ngọc” của họ là điều khờ khạo. Giai cấp tư sản phương Tây chống lại tầng lớp quý tộc vì họ là con đẻ của một nền văn minh mà mấy ngàn năm trước đã từng có Nền dân chủ thành A-ten. Giai cấp ấy được hình thành trong một quá trình thông thường, tiệm tiến và hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế. Quá trình này hoàn toàn khác quá trình tạo dựng lớp trung lưu trong các xã hội ở giai đoạn cuối của chủ nghĩa cộng sản bao gồm ba đặc tính sau đây:
1 – Về mặt danh nghĩa chính thức là cộng sản độc quyền. Nhà nước cụ thể là nhà nước cảnh sát.
2 - Trên thực tế các chính phủ này ngoài tính cực quyền còn mang tính Mafia đột khởi, khi mà hệ thống cộng sản chủ nghĩa trên toàn cầu đã tan rã, lý thuyết cộng sản Utopie đã sụp đổ. Và đặc biệt: Đạo đức Utopie cũng sụp đổ theo. Điều này vô cùng hệ trọng vì các chính thể này từng thống trị dân chúng trong một thời gian dài với thứ Đạo đức Utopie (nối tiếp thuyết Đức trị, Lễ trị của Khổng tử), cho dù thực chất đó chỉ là thứ đạo đức giả, nhưng với hệ thống tuyên truyền theo kiểu Hitler, với chính sách ngu dân kèm theo một cách ráo riết, thứ Đạo đức Utopie này đã từng có thời hiệu nghiệm. (Tôi xin phép được giải thích thêm về nhóm từ Đạo đức Utopie. Phải thừa nhận rằng không thiếu những trí thức cánh tả ở phương Tây bị quyến rũ bởi Tính chất tuẫn đạo của chủ nghĩa cộng sản nên đã tình nguyện đi theo nó. Chỉ đến khi thực tế đập vào mắt họ, họ mới thức tỉnh. Có thể đơn cử nhà văn Pháp Andrei Gide làm ví dụ. Hoặc như gián điệp Phạm xuân Ẩn ở Việt nam. Đó là những người giữ một tư cách cá nhân trong sạch, không tham tiền, không tham gái, thậm chí có thể hiến dâng toàn bộ tài sản cá nhân cho cách mạng. Ông Phạm xuân Ẩn, chỉ đến khi ra Hà nội, tiếp xúc trực tiếp với bộ máy cầm quyền cộng sản mới vỡ mộng mà thôi.)
3- Các thuộc tính của Phong kiến phương đông chưa bao giờ hết hiệu lực trong các xã hội này.
Thế nên, áp dụng những quy luật lịch sử thuộc về ba thế kỉ trước ở phương Tây với các xứ chậm tiến ở phương Đông giờ đây là hoàn toàn lầm lạc.
Nói như vậy, phải chăng không hề có lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở Trung quốc?
Có!
Thiên an môn là ví dụ điển hình.
Nhưng tỉ lệ vài ngàn người trên một tỉ rưỡi dân Trung hoa là một thứ muối bỏ biển. Cũng như giờ đây ở Việt nam, con số 61 người kí kiến nghị yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi chính trị trên 90 triệu dân Việt nam là một thực tế đáng nhục và đáng buồn. Các cuộc biểu tình chống Tầu ở Việt nam được thực hiện do sinh viên và một số ít những người có hiểu biết nhưng chưa kịp, hoặc chưa có điều kiện để trở thành giai cấp trung lưu, có tài sản. Nói tóm lại, họ là thứ quả quá hiếm hoi và họ chưa thể trở thành một lực lượng đáng tin cậy.
Vì sao?
Vì tư tưởng dân chủ chỉ có thể hình thành khi có con người dân chủ, mà loại người đó chưa là cư dân chính thức trên các vùng đất này.
Bây giờ, để hiểu rõ Tinh thần Trung quốc, làm con tính đơn giản sau:
1- Hãy so sánh con số những người tham gia biểu tình đòi dân chủ ở Bắc Kinh với con số những sinh viên Trung hoa, được ăn học ngay trên đất Mỹ nhưng hoàn toàn bị điều khiển bởi tinh thần quốc gia và chủ nghĩa Đại Hán. Đám người “trẻ trung”này đã phản ứng ra sao để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc vĩ đại của họ?
2 - Hãy so sánh con số những người Trung hoa quyết tâm đi theo nền dân chủ với đám Tin tặc mũ đỏ, Hắc khách đến từ lục địa của Mao trạch Đông. Theo tư liệu của ông Peter Navarro thì Tin tặc Mũ đỏ của Trung quốc đã thâm nhập vào NASA, lầu Năm góc và Ngân hàng thế giới, đã tấn công Phòng công nghiệp và An ninh của bộ thương mại Mỹ dữ dội đến mức Bộ phải vứt bỏ hàng trăm máy tính bị hỏng, đã copy sạch ổ cứng của dự án Chiến đấu cơ kiêm Oanh tạc cơ F-35 của hãng Lokheel Martin... Hiện nay Trung quốc có hàng trăm trường đào tạo tin tặc để dạy ma thuật cho những phù thủy trẻ tuổi, một lực lượng khổng lồ đã, đang và sẽ tấn công toàn thế giới.
3 - Hãy điều tra xem trong đám dân Tầu tị nạn chính trị trên đất Mỹ, có bao nhiêu phần trăm dissident thật sự và bao nhiêu phần trăm Lính Nằm vùng? Đừng quên rằng Khổ nhục kế là sáng tạo của người Trung hoa chứ không phải của người Mỹ. Từ nhiều thế kỉ nay, chiến thuật đó đã được sử dụng đi sử dụng lại một cách linh hoạt và vô cùng hiệu quả.
Vậy thì, với sự thực không thể bác bỏ như đã nêu, có thể kết luận rằng tư tưởng dân chủ đủ sức mạnh chinh phục hay chính chủ nghĩa Đại Hán mới là Tư tưởng Lớn (Noble idéal), Tư tưởng Chính thống (Idée orthodoxe de vieille souche), tư tưởng thống trị (La pensée écrasante) trên tuyệt đại đa số gần một tỷ rưỡi dân Trung quốc hiện nay?
Thêm một ví dụ nữa, trong cuốn sách của ông Peter Navarro có nhiều đoạn nói về cảnh những công nhân Trung quốc bị bóc lột thậm tệ, sẵn sàng ngủ gục bất cứ nơi đâu sau giờ làm việc. Phía sau những nhận xét này là mối thương tâm. Tôi hiểu cảm xúc ấy vì nó là điều hiển nhiên trước những cảnh đau lòng. Thế nhưng, cũng chính những người công nhân khốn khổ ấy sẽ sẵn sàng trở thành đội quân tàn bạo nhất khi được điều động đi xâm chiếm các lãnh thổ khác. Đó là một thực tế không thể chối bỏ. Đó cũng là MỘT HIỂN NHIÊN. Họ là hậu duệ của những tên lính Trung hoa thời xưa, chỉ vì húp thêm một bát cháo đã bị Tào Tháo hạ lệnh chém ngang lưng nhưng cũng chính họ là bọn côn đồ khát máu và bọn vơ vét tham tàn nhất một khi vượt khỏi biên thùy. Hãy nhìn lại những chùa chiền bị cướp bóc và phá hủy ở Tây Tạng. Đâu phải bọn vua chúa Bắc Kinh thực hiện các hành vi man rợ ấy, đó là dân con của chúng, những người Trung hoa không dám chống cường quyền nhưng phóng chiếu toàn bộ bản năng hiếu sát lẫn sự tham tàn, độc ác của họ lên đầu “Thiên hạ”. Ngoài biên thùy, Vua chúa và Dân đen Trung hoa trở thành khắng khít vì hai bên có một mục tiêu chung. Chiến lược ĐỔ LỬA RA NGOÀI là chiến lược có từ ngàn năm, một thứ Màn thầu đặc biệt của dân Tầu. Điều này, chắc chắn người Việt chúng tôi biết rõ hơn người Mỹ. Cần phải đưa thêm một con số: Trong cuộc thăm dò ý kiến của bộ trưởng bộ quốc phòng Trung quốc cách đây không lâu, trên 95 phần trăm dân Trung quốc nhất trí: “Đánh lũ chó Việt nam để thu hồi lãnh thổ!” Chỉ có trên 4 phần trăm người không trả lời hoặc không đồng ý. Như thế đủ hiểu, sức mạnh Truyền thống lớn đến đâu.
Thế nên, Stephen thân mến, tôi nói điều này mà không sợ làm anh phật ý, nếu anh có nghĩ đến Cách mạng Hoa nhài, Hoa hồng, Hoa tuy-líp... như một cách vui chơi, hoặc làm đẹp ngôn từ thì tôi đồng ý. Nếu là một ý nghĩ nghiêm chỉnh (như niềm sung sướng nghiêm chỉnh và chân thành của dân Pháp, những người từng nhảy cỡn lên vào Mùa xuân Arabe) thì xin anh bỏ ý nghĩ ấy đi. Bởi vì, đó chính thực là một thứ Utopie. Ngày xảy ra cuộc cách mạng Hoa nhài, khi nghe đám dân Pháp hò hét, tôi có nói với họ: “Chớ nên cười quá sớm! Đó là kinh nghiệm của tôi”. Đến khi thành quả cuộc cách mạng rơi vào tay đảng Islam, họ đã phải thú nhận: “Chúng ta mừng hụt”. Tôi lại xin cung cấp cho anh thêm một tư liệu của năm vừa rồi, theo điều tra thì trên 70 phần trăm những người Tunisi làm việc trên đất Pháp từ vài thập kỉ nay bỏ phiếu cho đảng của Islam. Điều đó có nghĩa gì? Hố thẳm trong óc não con người là nơi sâu nhất, khôn dò. Tunisi là nước có đường biển thông thoáng, là đất nước cởi mở nhất với phương Tây trong toàn khối Arabe, hàng nghìn năm có quan hệ thương mại với châu Âu, vậy mà phản ứng của họ còn bảo thủ đến như thế, huống hồ Việt nam, mảnh đất bị kẹp dưới nách của Trung hoa, hàng nghìn năm sống trong thứ ao tù nước đọng? Với một thực tiễn đáng buồn như vậy, làm sao có thể tin được một sự chuyển hóa “nhung lụa, hòa bình” ở Việt nam?
Vì cái thực tiễn ấy, tôi xin nhắc lại với anh, chỉ có một con đường có thể đưa đến thay đổi ở Việt nam. Con đường ấy không có hoa hồng, hoa nhài và các thứ hoa khác. Còn muốn bước chân đến vườn hoa thì phải chờ kết cục ở một ngày nào đó, khi con Rồng phương Bắc bị đâm nát. Nếu Bắc Kinh còn phẳng lặng, ắt các Kinh đô nước khác phải tan tành, bởi vì Trung hoa đã được tạo dựng trên xác chết của các dân tộc khác, biên giới của họ hiện nay rộng gấp năm lần đất đai gốc là vì nó thâu gộp các xứ sở bị họ tàn sát và đồng hóa. Cái phương cách sinh tồn này đã thấm đẫm trong nếp nghĩ, nếp sống của người Hán và trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của họ. Chủ nghĩa Đại Hán không thể ra đời ở một xứ như Thụy sĩ hoặc Nay-uy. Chủ nghĩa Đại Hán phải ra đời ở một miền đất mà các cư dân sống trên đó phải được vũ trang bằng những thứ vũ khí đặc biệt về mặt tinh thần. Tính cách đặc thù này là một HẰNG SỐ, nhưng trong một thời gian khá dài, nó đã được ngụy trang, chôn cất tạm, hoặc giấu diếm, bởi vì trong thời gian này, người Trung hoa cùng khốn, họ rơi vào cảnh nô lệ, bần hàn. Hiện nay, Trung hoa đã trở thành cường quốc trên toàn cầu, do đó tính cách Trung hoa đang được khai triển với một ý chí mãnh liệt, thậm chí điên rồ.
Tôi xin dẫn vài ví dụ:
I – Ông Trần ngọc Vượng, từng có thời gian giảng dạy tại đại học Bắc kinh và đang tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu văn hóa Trung quốc cho biết: Trong cuốn tiểu thuyết viết theo lối khảo cứu, đề xuất luận điểm, có tên Lang Đồ Đằng (Tô tem sói), tác giả Khương Nhung của Trung quốc xác định thuộc tính có tính chất căn tính của người Trung quốc là sói tính. Sói là con vật ranh mãnh, thủ đoạn, độc ác, thâm hiểm nhất của thảo nguyên, bình nguyên và cao nguyên. Người Trung quốc đặt căn cước của mình khởi đi từ đó. Mấy năm liền, người Trung quốc in đi in lại cuốn tiểu thuyết này, cổ vũ Tính chiến đấu, tinh thần Quật cường của đồng bào họ.
2- Theo lời kể của một phóng viên Pháp vừa đi New York về thì hiện nay, tại New York, có Restaurant Trung quốc treo tấm biển: Không có nĩa! Anh hãy nhờ cảnh sát ở New York tìm xem địa chỉ chính xác của Restaurant này ở đâu?. Một thông báo như vậy đồng nghĩa với lời tuyên bố rằng ở đây, nền văn hóa cầm đũa là kẻ thống trị. Ba mươi năm trước, chắc chắn những người Trung hoa nhập cư phải là những chủ nhân lịch sự tuyệt vời, họ sẽ ân cần mang dao, nĩa đến tận bàn một ông khách da trắng khi ông này lóng ngóng chưa quen dùng đũa. Nhưng bây giờ, gió đã xoay chiều, và họ tuyên bố thẳng thừng: kẻ nào không biết cầm đũa thì cút đi chỗ khác.
3- Những thập kỉ trước đây, người nhập cư Trung hoa ở Paris được tiếng là cần cù, nhũn nhặn. Nhưng vào thập kỉ cuối cùng, từ năm 2000 trở lại đây, thái độ của họ đã đổi thay. Khi tiền của người Tầu đủ mua các công ty, các hãng lớn thì họ cũng mua luôn từng khu phố để làm nơi cư ngụ. Cuộc mua bán này diễn ra với quy mô rộng lớn và rầm rộ khiến dân Pháp lo ngại. Dù chính phủ không có chỉ thị chính thức, nhiều chính quyền quận có phản ứng. Theo tôi biết, vào những năm đầu thế kỉ mới, chính quyền quận 3 (khu Marrais) ở Paris cố gắng hạn chế cuộc mua nhà đất của người Tầu nhưng không có hiệu quả. Ngược lại, giờ đây khi ông Tầu nào muốn mua một cửa hàng, mà chủ nhà không muốn bán, họ thuê du côn đến gây sự, đập phá, quấy rối dưới các hình thức khác nhau và sau rốt, chủ nhà đành phải đóng cửa hàng, bán lại. Nước Pháp suy đồi đến mức khi một sinh viên Việt nam viết bài tố cáo chính sách xâm lấn biển của Trung hoa thì liền bị giáo sư phụ trách gọi lên yêu cầu chấm dứt ngay hành vi phản kháng, nếu không sẽ bị buộc thôi học. Tôi có nói chuyện này với một bà giáo sư đại học Paris 7, bà ấy đáp lại: “Chúng tôi có một nước Pháp của De Gaule và một nước Pháp của Pétain. Tôi ngờ rằng nước Pháp thời hiện tại là nước Pháp của Pétain! ”
Chủ nghĩa quốc gia là thứ khát vọng mãnh liệt nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử loài người. Nếu như trước đây hơn nửa thế kỉ, thanh niên Đức bị cuốn vào chủ nghĩa phát-xít của Hitler như bông bồ công anh cuốn theo chiều gió, thì giờ đây các thế hệ Trung quốc sẽ còn bị cuốn vào chủ nghĩa Đại Hán với một sức mạnh điên rồ trăm lần hơn nữa. Bởi vì, chủ nghĩa phát-xít Đức là khát vọng quốc gia mới tạo lập, còn chủ nghĩa Đại Hán là thứ cây cổ thụ, sau những năm tàn úa giờ đây xanh tươi trở lại, nguồn sống của nó được dung dưỡng thâm sâu gấp bội phần. Thêm nữa, Trung quốc là phương Đông, phương Đông muôn vàn bí hiểm với phương Tây. Chúng tôi đây, những người Việt nam khốn khổ hàng nghìn năm chiến đấu chống lại họ, ăn uống, phong tục cận kề mà còn không hiểu được họ, huống hồ các anh, những người Mỹ? Vì thế, mới có câu: “Thâm như Tầu”. Hoặc là “Bụng người Tầu, còn lâu mới biết”. Nhớ lại thời cách đây vài thập kỉ, khi mỗi tuần, người ta giết hàng nghìn con trâu rồi mang móng sang bán bên kia biên giới, không ai hiểu vì sao. Dân chúng còn thì thào: ” Người Tầu mua móng trâu làm thuốc chống ung thư”. Rồi sau đó vài tháng, lại có chiến dịch đào rễ hồi, rễ quế bán cho “ các thầy thuốc Tầu”. Ba năm sau, dân các vùng biên giới đói vàng mắt, miền xuôi phải đem gạo và ngô cứu tế, lúc ấy mới rõ người Tầu không chế thuốc men nào hết, họ chỉ có một mục đích là phá sạch kinh tế các tỉnh phía bắc Việt nam mà thôi.
Người Mỹ các anh, bắt một ông tổng thống ra trước tòa xin lỗi dân chúng, chỉ vì ông ta trót nhảy lên bụng một cô thư kí Nhà trắng rồi nói dối, nghĩa là các anh coi Sự trung thực là phẩm tính cốt yếu mà bắt buộc mọi người, trước hết là các nhà lãnh đạo phải có. Với tâm thế ấy, các anh làm sao hiểu được người Tầu, một dân tộc đã viết ra cuốn Phản kinh?...
Để anh rõ chi tiết, tôi xin trích vài dòng của người đang dịch cuốn Phản kinh ra tiếng Việt, giáo sư Trần ngọc Vượng:
... “Cuốn thứ hai tôi cũng đang dịch mang tiêu đề Phản kinh, tức là Cẩm nang, bí kíp của những thủ đoạn chính trị và người ta quảng cáo cuốn sách là: Lịch đại thống trị giả - Mật như bất ngôn- Dụng như bất tuyên kì (Tạm dịch: Bộ kì thư mà kẻ thống trị ở tất cả các nơi phải giữ bí mật - Làm theo nhưng không nói ra, không công bố). Bộ sách này được một nhân vật đỗ tiến sĩ đời Đường viết ra, sau đó tìm cách dâng cho vua rồi trốn biệt, về sau không ai biết ra làm sao. Ngay đến cái tên của tác giả cũng là điều kì bí. Tôi mua bộ sách này lần đầu vào năm 1998, lúc tôi dạy ở đại học Bắc kinh. Đọc tên tác giả, tôi hơi ngỡ ngàng vì chưa biết chữ ấy bao giờ. Nghĩ mình là người nước ngoài, học tiếng Hán có hạn chế, ai dè hỏi các giáo sư Trung quốc cũng không ai biết. Hai ba hôm sau, kỉ niệm 100 năm đại học Bắc kinh, gần 10 xe chở các chuyên gia đại học Bắc Kinh ra Đại lễ đường Nhân dân, giáo sư Phó thành Cật cầm chữ trên tay đi hỏi cũng không ai biết. Cuối cùng, ông về tra Trung quốc đại từ điển, ra tên này nằm ở phần đuôi của chữ ghép. Phiên âm Hán-Việt phải đọc là Nhuy. Cái tên này còn chưa có trong thư tịch Việt nam, chỉ đọc theo nguyên lý thôi. Thật lạ!
Bộ sách được cất trong kho chứa sách của triều đình, nhưng thi thoảng lại lọt một phần nào đó ra ngoài nên đời Minh, Thanh đều có chỉ dụ cấm tàng trữ, đọc cuốn sách đó. Mãi tới năm 1998, lần đầu tiên nó được in ra, mà lại in ở nhà xuất bản Nội Mông cổ, theo kiểu in để thăm dò. Nói vậy để biết đó cũng là loại bí kíp kì thư. Kiểu bí kíp ấy, Trung quốc rất có truyền thống nên tôi muốn giới thiệu để chúng ta, nhất là giới chính trị, hiểu họ hơn....
(Trích cuộc phỏng vấn của báo Người Đô thị với giáo sư Trần ngọc Vượng)
Ông Trần ngọc Vượng đã gõ cửa một loạt các cơ quan nhà nước có chức năng và trách nhiệm nghiên cứu chính trị và văn hóa. Không nơi nào trợ cấp cho ông dịch cuốn cẩm nang quý báu này. Vì giới cầm quyền cộng sản Việt nam muốn giữ lòng trung với Mẫu quốc. Dịch Cẩm nang, tức phơi bầy bộ mặt Lang sói của kẻ cầm quyền phương bắc, cũng có nghĩa gián tiếp tố cáo thân phận nô bộc và phản bội tổ quốc của chính họ. May thay, hiện nay cuốn sách vẫn đang được dịch, nhờ tài trợ của một doanh nhân.
Cuốn Phản kinh là bằng chứng đầy thuyết phục cho tính cách độc đáo Trung hoa. Một hiện tượng cũng độc đáo tính Trung Hoa không kém là nhân vật Dịch Nha. Dịch Nha là đầy tớ của Tề Hoàn Công, một ông vua thời Đông Chu.
Một ngày, Tề Hoàn Công đùa bỡn Dịch Nha, nói rằng:
Ta đây, món ngon vật lạ trên rừng, dưới biển đều đã nếm đủ. Chỉ có mỗi thịt người là chưa biết đến mà thôi.
Ngay hôm sau, Dịch Nha dâng cho vua một mâm thịt ngào ngạt hương thơm. Tề Hoàn Công thưởng thức một cách khoái trá, sau đó hỏi:
- Thịt gì mà ngon vậy?
Dịch Nha đáp:
- Thịt người.
Tề Hoàn Công hốt hoảng:
- Lấy đâu ra?
Dịch Nha đáp:
- Bẩm chúa công, đó là thịt đứa con trai cả của thần, nó vừa đầy ba tuổi. Vì chúa công chưa bao giờ được dùng thịt người nên thần thịt nó cho chúa công xơi.
Quả nhiên, Dịch Nha trở thành sủng thần, cùng với Thụ Điêu và Khai Phương, khuynh loát triều đình sau khi Quản Trọng chết. Đây là lời của Tề Hoàn Công nói với Quản Trọng khi ông tể tướng này can vua chớ nên gần gũi bọn nịnh thần:
Dịch Nha làm thịt con cho tôi ăn, thế là yêu tôi hơn yêu con, còn nghi ngờ gì nữa?
Một kẻ, vì cuộc đầu cơ chính trị, tự tay giết con đẻ của mình, lại tự tay xào nấu thành món ngon tuyệt vời để dâng vua nếm, kẻ đó là sản phẩm độc nhất vô nhị trên toàn cõi đất. Ngoài Trung quốc, không một dân tộc thứ hai nào trên hành tinh này có được. Thời xưa, các bộ tộc man di có tục ăn thịt người, và ngày nay, cũng có những Kẻ ăn thịt người do Hiện tượng Lại giống, hoặc bọn ăn thịt người do kích thích của ma túy, những kẻ còn duy trì bản năng dã thú ở mức độ quá cao. Nhưng đám người man dã này không thể so được với Dịch Nha vì Dịch Nha Chống lại Tính người không phải do bản năng dã thú mà do sự tính toán kĩ lưỡng. Vì Mưu lợi mà có thể Hủy diệt tính người, đó là đặc sản Trung quốc. Cũng như vì muốn tăng cường thể lực, họ có món óc khỉ sống của bà Thái hậu Từ hy. Cái đặc tính này bộc lộ trên nhiều phương diện. Ngay trên các địa bàn thuần túy tình cảm và đạo đức, người Trung hoa cũng có lối thể hiện độc đáo của họ. Ví dụ, có thể bàn về tình hiếu đễ. Dân Tầu vẫn tự hào được dạy dỗ bởi đức thánh Khổng và thường khoa trương các món hàng Truyền thống của họ. Tuy nhiên, chính ngay trên cái địa hạt đầy tinh thần đạo đức này, cũng có thứ gì đó khiến ta Dựng lông tóc, sởn da gà. Xin anh hãy đọc lại chuyện “Vì mẹ nguyện chôn con”, in trong cuốn Thái Ất tử vi năm Quý Tỵ 2003 do Vương Dung Cơ luận giải (P.O Box 9585 – Fountain Valley. CA 92728-9585). Nội dung được ca ngợi: Muốn có đủ thực phẩm nuôi mẹ, chồng yêu cầu vợ đào huyệt để chôn sống đứa con sáu tuổi để bớt đi một miệng ăn! Hình mẫu này, được tuyên truyền, phổ biến như món Dầu cháo quẩy trong các quán bình dân.
Thế giới của các anh được định vị bằng các luật. Trung hoa chưa bao giờ sống theo luật, cho dù có cả một trường phái mang tên Hàn phi tử. Luật chỉ làm cho vua và vì thế, đổi thay theo một cái gật đầu hay vẫy tay của vua. Vả lại, từ hàng nghìn năm nay, nền văn hóa vĩ đại của Trung hoa vốn được nuôi dưỡng bằng nhân cách đúp: Người ta có những tư tưởng đẹp đẽ và cao siêu của Lão và Trang để mơ mộng và ngâm ngợi (để nhìn lên cung trăng) và giờ đây, để làm lóa mắt đám trí thức ngoài biên giới. Họ có một hệ thống đạo đức dưới nhãn hiệu Khổng Khâu lẫn Mạnh tử để rao giảng, dậy dỗ (để rọi sáng đường đi dưới ánh mặt trời), và giờ đây, để chiêu dụ tâm lý những cư dân thuộc các nền văn minh khác. Nhưng cuộc sống thường hằng diễn ra cả ban ngày lẫn ban đêm lại được nuôi dưỡng bằng món Bánh bao chấm máu người, và vì là cuộc sống thường hằng nên con người cứ việc tuân theo mà không ai nói năng gì hết. Nhà văn Lỗ Tấn, một cách vô thức đã phản ánh trung thành tính cách dân tộc của ông. Lịch sử Trung hoa đã được nuôi dưỡng với món BÁNH BAO CHẤM MÁU đặc biệt ấy, và nó sẽ tiếp tục phát triển với cùng nguồn dinh dưỡng đậm đà bản tính dân tộc, cho dù hình thức biến thái đi.
Với tất cả những gì đang diễn ra hiện nay, tôi nghĩ các anh không còn nhiều thời gian nữa. Tôi không tin rằng các anh chần chừ cho đến lúc tất cả đám dân Trung hoa buôn đồ cổ ở New York tuyên bố thẳng thừng là thành phố này từ nay thuộc về họ, và rằng đội quân thứ năm của Hoàng đế Trung hoa nhất tề đứng lên, khẳng định các anh, những người mang dòng máu bình thường của nhân loại, còn họ, những kẻ mang Máu Rồng, nên họ có quyền thu hồi lại lãnh thổ vốn thuộc về người da đỏ, những tổ tiên có cùng sắc da vàng như họ (Tôi nhắc lại ý chính trong một bài báo của người Trung quốc trên Internet cách đây gần một thập kỉ). Không có sự điên rồ nào được coi là điên rồ hoặc là đáng kinh ngạc với người Trung hoa, một thứ người đã thịt con đẻ của mình như thịt gà hay thỏ, hạng người ấy không gì không làm được.
Tôi tin rằng các anh sẽ tìm được biện pháp hiệu lực trong thời gian ngắn nhất, trước khi mọi sự trở nên quá muộn màng. Dân tộc các anh là dân tộc tiêu biểu cho khát vọng tự do của nhân loại, các anh có đủ phẩm chất và tư cách để Hành động.
Hành động, để cứu chính nước Mỹ trước hết, và sau đó, cứu cả các dân tộc có nguy cơ bị nghiền nát dưới bánh xe của bọn Tần thủy Hoàng thời hiện đại. Đó chính là Lý tưởng cho người Mỹ ngày hôm nay.
Chúc anh chị vui và khỏe.
Khi nào có dịp ghé Pháp thì nhớ báo cho tôi.
Dương thu Hương.

Paris, ngày 30 tháng 10 năm 2014