Tuesday, October 21, 2014

Trung Cộng hốt hoảng khi Mỹ tính đặtphi đạn sát nách

Trung Cộng hốt hoảng khi Mỹ tính đặt phi đạn sát nách

Đăng Bởi -
Trung Quốc sẽ nhột khi tên lửa Mỹ dựng trước ngõ
Trung Cộng sẽ nhột khi phi đạn Mỹ dựng trước ngõ
Bắc Kinh đã cảm thấy "nhột" khi Mỹ đặt phi đạn ngay trước cửa ngõ. Với cớ bảo vệ đồng minh từ nguy cơ Triều Tiên, Mỹ đã có kế hoạch tiến hành đặt hệ thống phi đạn đánh chặn tại Nam Hàn.
Việc đặt một hệ thống phi đạn phòng thủ tối tân của Mỹ ở Nam Hàn hiện đang được Washington cân nhắc. Phía Trung Cộng nói hành động này có thể kích động phản ứng tiêu cực mạnh mẽ từ Triều Tiên. "Những hành động này sẽ châm ngòi cho sự bất mãn mạnh mẽ từ Bắc Hàn", hãng thông tấn Yonhap của Nam Hàn dẫn lời ông Xu Bu (một quan chức phụ trách tình hình Đông Bắc Á) phát biểu tại Đại học Bắc Kinh hôm thứ 6.
"Mỹ gần đây đã ủng hộ hoạt động liên minh quân sự với Nam Hàn và Nhật Bản để đối phó với mối nguy hiểm hạt nhân từ Bắc Hàn. Mỹ cũng đã tăng cường hiện diện quân sự ở Đông Bắc Á bằng cách  bố trí hệ thống phi đạn phòng thủ ở khu vực này", ông Xu khẳng định.
Đầu vào tháng 10, các quan chức quốc phòng Mỹ đã thông báo Ngũ Giác Đài đang xem xét việc đưa một hệ thống phi đạn phòng thủ tối tân tại Nam Hàn. Tuy nhiên cho đến nay, Seoul vẫn chưa nhận được yêu cầu chính thức nào.
Bắc Kinh luôn khẳng định chính sách của Trung Cộng trong khu vực nhằm tập trung vào ổn định, chứ không phải là tìm cách phi hạt nhân hóa ở bán đảo Triều Tiên. Vào tháng 2, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry kêu gọi Trung Cộng gây áp lực thêm về Bắc Hàn trở lại đàm phán giải trừ hạt nhân. Tuy nhiên, Trung Cộng tạo áp lực không đủ, hoặc không thể tạo được áp lực với Bình Nhưỡng trong việc này.
Theo các chuyên gia, Bắc Kinh có phản ứng tiêu cực với việc Mỹ muốn đưa một hệ thống phi đạn phòng thủ tối tân đến Nam Hàn không phải vì lo ngại phản ứng tiêu cực từ Bắc Hàn. Điểm mấu chốt là Trung Cộng hết sức quan tâm khi đặt một hệ thống phi đạn phòng thủ tối tân của Mỹ trước cửa ngõ.
Trên Hoàn cầu thời báo, nhiều tướng lĩnh Trung Cộng từng khoe việc quân PLA phát triển được tên lửa bắn sang tận Mỹ nhưng với hệ thống hàng rào cao dựng trước cửa nhà thì e rằng ném đá khó qua. 
Không những vậy, hệ thống phi đạn còn có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ các đồng minh của Mỹ tại khu vực là Nhật và Nam Hàn. Điều này sẽ càng giúp Nhật quyết đoán hơn với Trung Cộng trong các tranh chấp trên biển Hoa Đông.

Thà lấy đĩ về làm vợ còn hơn lấy vợ về làm đĩ'..

Thà lấy đĩ về làm vợ còn hơn lấy vợ về làm đĩ'..

Chồng Thu Phương chia sẻ chuyện 'vợ' và 'đĩ'. Một trong những câu nói nằm lòng về hạnh phúc và hôn nhân gia đình là 'Thà lấy đĩ về làm vợ còn hơn lấy vợ về làm đĩ'. Dũng TaylorDũng Taylor
(chồng ca sĩ Thu Phương) mới đăng trên Facebook một câu chuyện về tình yêu, hôn nhân và gia
đình với tiêu đề "Lấy vợ về làm đĩ hay lấy đĩ về làm vợ". Câu chuyện đã thu hút  được sự quan tâm của cộng đồng nhờ những triết lý nhẹ nhàng về hôn nhân, không mới nhưng đã nhắc nhở tất cả mọi người về điều quan trọng nhất để có một cuộc sống gia đình hạnh phúc.Mở đầu, Dũng Taylor viết: "Tuy đến Mỹ từ lúc 13 tuổi nhưng tiếng Việt của tôi vẫn tạm ổn. Tôi sống với mẹ từ bé và trời
cho tôi một trí nhớ tương đối khá nên cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in những câu mẹ thường nói trong lúc bà trò chuyện cùng bạn bè hoặc nói với tôi. Một trong những câu nói nằm lòng về hạnh phúc hôn nhân gia đình là 'Thà lấy đĩ về làm vợ còn hơn lấy vợ về làm đĩ'. Sau này tôi mới thấm thía câu nói này khi làm nhân chứng cho những hôn nhân  đổ vỡ. Tôi cũng biết một số ca sĩ có  quá khứ không tốt đẹp nhưng cũng đã an cư lạc nghiệp sau khi lập gia đình tại hải ngoại. Câu nói của mẹ tôi có lẽ khiến tôi càng thấm thía hơn sau khi đọc một câu chuyện cảm  động".Vợ chồng ca sĩ Thu Phương - Dũng Taylor.
"Anh tôi đi lao đông hợp tác ở Đức về cũng có chút tiền để lận lưng. Anh tôi thích sống kiểu châu Âu, được cái vẻ điển trai nên anh nhanh chóng cua được chị. Nói  đúng hơn anh cũng  chẳng phải cưa cẩm gì, chỉ mới vác cưa tới thôi chị ấy đã đổ rồi. Anh yêu chị lắm và muốn đi đến hôn nhân nhưng
chị lại nói rằng "Em thích làm người tình hơn". Anh hỏi chị vì sao, câu giải thích của chị làm cho anh vừa shock vừa thích thú:
- "Em thích làm người tình vì người tình cao sang và sạch sẽ hơn đĩ và chỉ thấp hơn vợ một tí". Đặc biệt là chị không thích trở thành "con vợ".
Thế là anh tôi đi lấy vợ sau hai năm hẹn hò với chị vì anh tôi đã 31 tuổi và muốn lập gia đình. Anh
quyết định lấy cô bạn đồng nghiệp làm chung cơ quan tên là Yến. Khỏi phải nói, anh rất tự hào khi lấy được chị Yến.Vào cái ngày anh nói với chị người yêu cũ lời chia tay, chị đã nói với anh:
-  "Từ trước tới giờ anh ngủ với em bao nhiêu lần rồi anh cứ thế tính tiền mà trả chứ không cần phải ái ngại cho em đâu". Anh tôi sững sờ nghĩ bụng "Thì ra mình đã gặp phải con đĩ... "Anh không nói thêm một lời nào và ra về. Để gột rửa sự ghê tởm anh lấy tất cả tiền dành dụm từ hồi ở Đức về được
khoảng 5.000 USD và 20 triệu đồng đưa cho chị với lời nhắn: "Nếu với người nào em cũng  tính toán như vậy thì nhớ báo trước với họ để họ khỏi shock".
Chị nhận tiền và đọc thư xong cười thật lớn - nụ cười như ngạo nghễ nhưng chua xót. Rồi anh cưới chị Yến. Cả nhà ai cũng vui mừng vì chị rất ngoan và tài giỏi. Thật bất hạnh cho anh tôi chỉ mới lấy vợ được 4 tháng thì chị Yến đã ngoại tình. Anh chán nản nên nhậu nhẹt tối ngày. Cuối cùng họ ra tòa ly dị chấm dứt cuộc tình vẻn vẹn 7 tháng.
Anh chuyển sang kinh doanh. Công việc rất trôi chảy thuận lợi, tiền bạc vô như nước nhưng trong lòng anh vẫn khắc khoải về chị... Tự nhiên anh nói:
- "Không biết giờ này con đĩ đó sống ra sao?".
Tôi trả lời lấp lửng:
- "Muốn biết sao anh không đến tận nơi mà hỏi, hỏi em làm gì?".
Thế là anh tới nhà chị, tần ngần đứng ngoài cửa anh nghe thấy có tiếng trẻ con khóc anh vững dạ hơn gõ cửa. Mở cửa  đón anh là người phụ nữ giống hệt chị nhưng trông có vẻ nhiều tuổi hơn. Anh chưa kịp nói gì thì người phụ nữ đó bảo:
- "Tuấn vào nhà đi em".Chị giới thiệu là chị gái  của chị - chị đã chết vì sinh khó và đau tim.
Hóa ra chị sinh ra đã bị bệnh tim bẩm sinh, không thể sinh con nhưng vì quá yêu anh chị đã cố có con với anh. Không muốn làm khổ anh nên chị đã cư xử như một con đĩ để anh đừng bao giờ nghĩ đến chị nữa. Chị để số tiền 5.000 USD và 20 triệu đồng dành cho con và viết di chúc lại là "Tiền của bố cho". Khắp nhà chị là hình của anh để sau này con biết anh chính là bố nó.Trái đất như sụp dưới chân anh. Anh ôm con lên và khóc. Thì ra bấy lâu nay anh coi vợ như một con  đĩ và đã rước một con đĩ về làm vợ. Giờ đây anh đang đau khổ đến tột cùng, muốn nói gì đó với chị tất cả đều đã quá muộn".

Những nỗi buồn khơi dậy

Những nỗi buồn khơi dậy


Hồ Đình Nam


Gần cuối năm, trời London trở lạnh đột ngột và buổi chiều sương mù dày đặc. Tan việc, tôi chọn con đường dài yên tĩnh phía sau để đi về nhà. Con đường rất quen thuộc nhưng không bao giờ tôi nhớ tên, như những con đường thật ngắn ở Huế trong trí nhớ của tôi. Ngày nay, dầu người ta đã đổi tên đường và thay tên trường bằng Nguyễn thị Minh Khai, Trần Phú hay gì gì chăng nữa, với tôi trường Đồng Khánh vẫn nằm kề cận trường Quốc Học và đường Hàn Thuyên vẫn là con đường có quán cà phê cô Dung thuở xưa. London chiều nay là Huế rất đỗi thân yêu của những ngày tháng cũ.
Huế không phải chỉ có lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn, không chỉ có những con đường âm u trong Thành Nội; cũng không hẳn chỉ đẹp vì có dòng sông Hương hiền hòa hay đặc biệt vì nơi có chuyện ngủ đò trên sông nước. Một người khách ở xa đến Huế ăn tô bún bò hay bát cơm hến cay xè những ớt, rồi đi thăm cung điện ngày xưa, rồi hưởng qua những ngày mưa dầm rét mướt triền miên thì làm răng mà đã biết Huế cho được!
Tâm tình người Huế nằm trong tiếng nói mà đa phần là ngôn ngữ của những giọt nước mắt lặng lẽ dành cho những hạnh phúc rất hiếm hoi. Đứa con đi xa nhà trở về, người mẹ Huế mừng cũng khóc, đến khi từ biệt, mẹ cũng đau đớn sụt sùi. Nước yêu thương đó tiết ra nhạt nhòa đôi mắt rồi mới trở thành những giọt lệ chảy từ tốn xuống sau. Những người mẹ Huế không có khăn tay để lau nước mắt. Hãy để yên cho Mạ dùng vạt áo dài che mặt để thấm đi những thổn thức trong lòng.
Người Huế sống rất giản dị. Đa số là những công chức với những đồng lương cố định hằng tháng. Phương tiện di chuyển thường là xe đạp hoặc mô-bi-lét. Và họ không đòi hỏi gì hơn. Thành phần đông đảo hơn cả là sinh viên và học sinh. Sáng tinh sương, ra đường ta chỉ thấy cảnh học trò đi học. Thành phố ngập áo trắng đổ về các trường lớp. Dòng người nối đuôi nhau yên lặng giữa không khí trong lành buổi sớm mai. Bên kia sông, khu tả ngạn, trên con đường Lê Lợi, từ bến đò Thừa Khâm kéo dài lên nhà ga chính, khoảng hơn cây số, ta có thể đếm được các trường Đại học Sư Phạm, Văn Khoa, Khoa Học, Y Khoa, trường Bán công, trường Providence, trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, trường Luật, trường Pellerin. Có thể nói, không ở đâu trên đất nước, thành phần sinh viên thuộc các phân khoa đại học lại chiếm tỉ lệ 100% như ở Huế.
Các cô gái Huế, khách quan do sống tuổi học trò dưới điều kiện kinh tế gia đình như vậy nên mỗi khi đi học về là phải xuống bếp phụ việc cơm nước với mẹ để lo hai bữa ăn chính cho gia đình, vô tình chuyện quán xuyến việc nhà đã trở thành cái nếp. Tôi chưa từng nghe có lời phàn nàn nào của đấng phu quân khi lấy những cô gái Huế làm vợ đã nghi ngờ về lòng chung thủy, về cách cư xử với chồng con, về cách tiêu pha và tài nấu ăn của các bà ấy.
Các cô gái Huế ở vào thế hệ tôi, từ khoảng 1956 tới năm 1963 đã không theo thời gian và những biến đổi chính trị mà phôi pha trong lòng hình ảnh của những Như Bá với “tóc dài thả gió lê thê”, Diệm My, Liên Hà, Thu Sương, Tương Giang “Quân tại Tương giang đầu, thiếp tại Tương giang vĩ, tương tư bất tương kiến…” (Ôi, những mối tình câm thì làm sao mà tương kiến được!). Và vô vàn những giai nhân khác. Các cô gái Huế, cô nào cũng đẹp. Thuộc thế hệ lớp trước, tuy chưa một lần biết mặt mà tên tuổi như in sâu trong trí nhớ những Trà Mi, Hồng Nghê, Trâm Anh, Diêu Tường, Diệu Phước, Đoan Nghiêm… Các Công Tằng Tôn Nữ, Tôn Nữ, các Nguyễn Khoa Diệu… mỗi khi đọc thầm đã thấy đời rất đỗi đáng yêu. (Đêm khuya, sau những thao thức bài vở, tóm lấy bộ Lục Mạch Thần Kiếm của Kim Dung cũng chỉ ước mơ khi chết được phong làm quỷ phong lưu).
Sống từ nhỏ cho đến lớn qua các trường tiểu học Trần Quốc Toản rồi trung học Hàm Nghi, rồi Quốc Học rồi đại học Luật khoa; Huế đối với tôi bao dung như tấm lòng người mẹ đối với đứa con hư. Sau nầy, từ năm 65 bỏ Huế ra đi, mỗi khi có dịp trở về, khi xe chạy qua quận Hương Thủy, lòng tôi đã ấm hẳn và thấy nao nức nỗi vui của một người biết mình sắp được “tắm lại hai lần trong một dòng sông”.
Bạn bè cũ của tôi ở Huế chẳng còn một ai, nhưng tôi đã dẫm lên những bước chân cũ của mình mấy năm về trước khi đi trở lại những con đường không- thay-đổi-với-thời-gian trong khu Thành nội và dọc theo chiều dài con đường Lê Lợi đầy bóng cây ngày cũ. Tôi đã bắt gặp những người cảnh sát già (nỗi lo lắng tuổi nhỏ của tôi vì đi xe đạp không gắn đèn) giờ vẫn còn tại chức. Những người lính già Sư đoàn 1 vẫn còn tại ngũ, hiền lành ôm đứa cháu vào lòng ru ngủ trong khi vẫn mặc quần “xà-lỏn” và trên người khoác chiếc áo trận có thêu phù hiệu xanh hình số 1 màu trắng phía cầu vai.
Chiến tranh xảy ra giữa hai miền Nam-Bắc không thiếu những cảnh tàn bạo, nhưng để mô tả người lính VNCH, Dương Thu Hương trong “Tiểu thuyết vô đề” đã mang thứ hình ảnh dã man thô bạo áp chụp lên kẻ thất thế; và lời van xin của người lính VNCH khi gọi Bắc quân là “Ngài” thì tôi cho đó là những lời tuyên truyền rẻ tiền, xuyên tạc sự thật với dụng tâm xấu. Chữ “Ngài” dùng trong những trường hợp tương tự như vậy xin trả lại cho Dương Thu Hương với thói quen sử dụng ngôi thứ hai đó cho các công hàm, văn thư, công điện ở miền Bắc dưới chế độ cộng sản để gửi tới các viên chức Liên-xô, Trung quốc hoặc các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa khác.
Ngày nay, cuộc chiến huynh đệ tương tàn đã kết thúc, thêu dệt thêm những cảnh xấu xa đó với dụng ý bôi bẩn người bên nầy, bên kia, tôi cho đó không phải là sứ mệnh cao cả của người cầm bút mà là việc của cán bộ tuyên truyền trong thời gian cuộc giao tranh giữa hai miền còn đang tiếp diễn.
Chế độ miền Nam hoàn toàn sụp đổ kể từ 30.4.75. Sự sụp đổ đó, tất nhiên có nhiều nguyên nhân. Theo tôi, nguyên nhân chính do bởi ở miền Nam mức độ tàn bạo đã không đủ để đối phó cho cân bằng với chủ trương sắt máu của phía bên kia. Tổng kết cho thấy từ những năm đánh nhau ác liệt cho đến ngày mất miền Nam, mỗi năm có hơn sáu ngàn (6000) nhân viên xã, ấp nông thôn miền Nam đã bị Việt cộng thủ tiêu, ám sát, vì không đủ lực lượng để tự vệ. Đa số là những cái chết không nhẹ nhàng, thân thể bị chặt ra làm nhiều đoạn hoặc cắt đầu thả xác trôi sông.
Giết người càng nhiều cá nhân ấy càng gây được tin tưởng với đồng chí, với lãnh đạo đơn vị và tạo điều kiện thuận lợi để được kết nạp vào đoàn, đảng. Từ bé, khi cắp sách đến trường với đầu óc ngây thơ non dại đã bị thầy cô nhồi nhét ý tưởng giết người như một lý tưởng: “Hôm qua đơn vị A giết được 8 tên ngụy, hôm nay giết thêm 4 thằng nữa. Vậy tổng số trong hai ngày lùng sục, đơn vị A đã diệt được bao nhiêu tên ác ôn?”
Trong khi đó, miền Nam nói chung, ở Huế nói riêng, thầy cô đã cho chúng tôi học cuốn sách giáo khoa “Tâm Hồn Cao Thượng” của Amicis do Hà Mai Anh dịch. Đó là quyển sách của tuổi thơ, là thứ gối đầu giường của cả thế hệ tôi. Mấy chục năm trôi qua mà tôi vẫn thuộc nằm lòng: “An Di ơi, một ngày kia con sẽ là một người lính như anh con vậy. Nếu con có phải ra trận, con hãy chiến đấu cho hết lòng, vì đó là bổn phận của con. Nhưng nếu kẻ thù của con có bị thương thì con hãy xem đó như một người anh em đáng thương hại…”
Giờ đây, nhớ lại 20 năm cũ, tôi vẫn tin chắc rằng, không một ai- những người vốn là sĩ quan, là lính, là người có liên hệ trực tiếp đến cuộc chiến cũ của miền Nam- lại có cái tiếc nuối rằng: giá lúc đó mình có thể tàn bạo được như những người cộng sản.
Tôi không thể nào quên được những cái chết oan khiên của hàng ngàn gia đình ở Huế trong Tết Mậu Thân. Những hố chôn tập thể, những vành khăn trắng chít vào đầu, tang tóc ngập lụt phố phường đổ nát. Thành nội tan hoang gạch đá gò đống cao thấp. Tôi đã đi qua cửa Thượng Tứ, nhìn thấy một chiếc xe Jeep bị bắn cháy. Trên tay lái còn trơ lại cái sọ người của một quân nhân, nghe nói là Đại úy thuộc Sư đoàn 1. Kề cận tử thi là dấu vết còn sót lại của hai cái bếp nấu ăn với sáu viên gạch và nồi niêu ám khói của lính Bắc quân.  Ở cửa Đông Ba thì mất tiêu mái, chỏng chơ phần dưới lầu Chính Đông cũ. Trên lầu còn xác bốn người lính phương Bắc tử thủ với hai khẩu đại liên phòng không. Chân bốn người đều có khóa buộc chặt vào súng. Tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ ngưỡng mộ sự quyết tử có tính cách mù quáng như vậy.
Cuối cùng thì Huế trút hơi thở vào cuối tháng 3 năm 75. Tôi có nỗi buồn và đau đớn như vừa mất đi một người thân yêu nào đó. Tôi biết chắc là tôi sẽ xa Huế vĩnh viễn, dẫu trong đời có lúc tôi cũng sẽ có điều kiện để trở về chăng nữa. Tôi đã ở trong trại tù cải tạo 7 năm. Suốt thời gian dài lê thê đó, tôi đã nhớ Huế, nhớ đến quãng đời trong sáng thuở còn là học sinh, sinh viên của mình như trước giờ chết tôi đã hồi tưởng lại. Từ năm 85 cho đến nay, tôi định cư tại nước Anh, vẫn không thoát khỏi nỗi nhung nhớ Huế mỗi khi trời se lạnh vào những ngày mưa dai dẳng, trời tối mịt mùng.
Xin tha thứ cho tôi về tội đã khơi lại người và chuyện xưa ở Huế. Riêng tôi, tôi sẽ không tự tha thứ (cho mình) mỗi khi nhớ đến Huế mà lại bỏ sót hình ảnh của anh Huế đứng phát tờ “programme” cho rạp ciné Tân Tân, người mà thường lúc tôi mơ ước được hóa thân để chen lẫn trong đám nữ sinh trường Đồng Khánh vào giờ tan học và hưởng được thứ hạnh phúc không mấy ai có đó.
Và sau cùng là Mụ Mới, chủ đò ở đầu đường hàng Bè gần chân cầu Gia Hội, lúc nào cũng sẵn sàng chận đầu bọn thanh niên lại, để nói: “ Ở Huế ni mà không biết mụ Mới – Văn-Nghệ ở liên gia 86 răng em?”. Chỉ vì câu nói bâng quơ của mụ mà sau đó, tôi đã xuống thăm liên gia 86 nhiều lần trong đời, mỗi khi thấy mình có điều chi thất chí…
Hồ Đình Nam
trích trong “Cuối Đường Phiêu Lãng

NHỮNG QUẢ NHO ... DỮ DỘI!

NHỮNG QUẢ NHO ... DỮ DỘI!
 
Nancy Nguyễn

Đất nước tôi, một rẻo đất tẻo teo khốn khó nép mình bên rìa Thái Bình Dương quan năm giông bão, của cả trời đất lẫn nhân sinh, trong suốt gần một thế kỷ, chưa có một ngày đứng gió.

Mỗi một mười năm, là một cơn dâu bể đầy khinh ngạc của kiếp người, của dân tộc. Không cơn dâu bể nào giống cơn dâu bể nào, ngoài một điểm chung duy nhất: niềm đau.

Những người sinh ra vào khoảng năm 20 phải chứng kiến đất nước bị xâm lăng và đô hộ. Một đất nước không chùn bước trước vó ngựa Nguyên Mông, bỗng một ngày trở thành thuộc địa, đó, chẳng phải là một biến cố lớn?

Nhưng chỉ 10 năm sau đó, những người sinh ra thời 30, phải chứng kiến cảnh đau thương hơn nhiều lần: đất nước chia đôi, nồi da nấu thịt. Súng của ngoại bang chĩa vào da thịt người mình. "Xương chất đầy đồng, máu chảy thành sông". "Niềm đau" có là một từ quá nhẹ?

Mười năm sau, hơn hai triệu con người người sinh vào những năm 40 phải gồng gánh nhau, dắt díu nhau bỏ lại nhà cửa ruộng vường, bỏ lại phần mộ tổ tiên để chạy loạn. Dân tộc tôi chứng kiến một cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử. Và nếu không phải do bị cấm cản, cuộc thiên di ấy có lẽ sẽ còn vĩ đại hơn nhiều. Và như thế, dân tộc tôi đã bắt đầu rách bào, chia đôi, bắt đầu viết những trang sử sau đó bằng nước mắt và bằng máu.

Những người sinh khoảng năm 50, ngắn gọn là: một dân tộc, hai định mệnh! Tôi không còn chữ nghĩa nào hơn để diễn tả nỗi bất hạnh cùng cực ấy.

Những người sinh khoảng năm 60, chứng kiến sự sụp đổ của một thể chế, sự tái thống nhất một đất nước, và sự chia đôi vĩnh viễn của lòng người. 40 năm qua đi mà vết cứa vẫn rịn máu tươi. Vết thương lòng chưa thấy ngày se mặt.

Những người sinh khoảng năm 70 có cơ hội chứng kiến cuộc thiên di thứ 2 trong lịch sử. Hàng triệu triệu con người phải mạo hiểm tính mạng bản thân, gia đình, để tháo chạy khỏi quê hương. Đất nước tôi đó, những năm tháng lầm than, kêu trời không thấu, kêu đất chẳng nghe. Dân tộc tôi lạc lõng, bơ vơ như những con thuyền lênh đênh trên biển.

Và những người sinh vào những năm 80, là tôi đây, 10 năm sau "giải phóng", những-tháng-năm-cấm-vận.

Có lẽ ký ức tuổi ấu thơ là những ký ức hằn dấu nhất, ám ảnh nhất của một đời người. Tôi nhớ hoài mẹ tôi, bà đáng ra còn trẻ lắm, mà dáng đã còm cõi, bà bòn từng đồng, lo chạy bữa cho con. Có những ngày trời mưa, mẹ tôi ngồi co ro bên vệ đường, gánh hàng quặn hiu. Bà chẳng lo mình sẽ nhiễm phong hàn, chỉ lo làm sao? cho đủ sống! Có đất nước nào khốn nạn như đất nước tôi? Có bà mẹ nào khốn nạn như mẹ tôi, người mẹ Việt Nam? Tôi lớn lên, mang theo trong tiềm thức vóc dáng mẹ tôi, còm cõi như đòn gánh, co ro như một dấu chấm hỏi. Một dấu chấm hỏi xiêu vẹo trong những ngày mưa.

Tuổi thơ tôi gắn với những ngày mưa Sài Gòn, xoong chảo nồi niêu, có gì ... hứng nấy bởi cái mái tôn nhà tôi ... "đưa ánh nắng vào nhà" (mẹ tôi bảo thế), đêm nằm có thể nhìn thấy trăng sao. Những khi trời trở bão, gió giật từng cơn, tôi sợ sấm sét chui qua lỗ đinh vào nhà.

Tôi nhớ đôi dép cọc cạch, bên trái con trai, bên phải con gái, mẹ tôi bảo dép "uyên ương". Chiếc bên trái là của anh Hai để lại, chiếc bên phải mới là của tôi. Và cả hai chiếc đều vá chằng vá đụp, bằng chỉ bố, mẹ để dành từ quân phục của ba. Quần áo mới chỉ được bận 3 ngày tết, và cũng là của anh hai tôi để lại. Mẹ luôn mua rộng ra mấy tuổi, anh Hai bận chật rồi đến phiên tôi. Quần áo của con trai đấy, nhưng chỉ cần mới, chỉ cần không ... vá đít là đủ hấp dẫn rồi!

Và quả nho, những quả nho ... dữ dội nhất của tuổi thơ tôi. Tết năm đó, chỉ duy nhất tết năm đó, mẹ tôi mua nho Mỹ về biếu nội. Những quả nho mẹ chắt chiu từ gió sương của cả năm trời, gom góp lại để biếu mẹ chồng dịp tết đến. Những quả nho mập ú, căng tròn, hệt như trong phim Mỹ, giống y chang mấy chùm nho ... giả, loại những quán sinh tố trong xóm hay treo làm cảnh. Trời ơi! Dòn! Mọng! Ngọt! Mẹ đã dặn đi dặn lại không được ăn, mẹ còn cất tuốt lên nóc tủ. Vậy mà mấy trái nho như có ma lực, cái đứa tôi như bị thôi miên! Tôi lén trộm một trái. Trời ơi! Ngon! Rồi 1 trái nữa, rồi trái nữa! Từng trái, từng trái một, như một kẻ đã hoàn toàn mông muội, không còn có thể cưỡng lại được sự quyến rũ phát ra từ mấy trái nho. Mẹ sẽ đánh nát tay tội ăn vụng, tôi nghĩ, tay ... vẫn tiếp tục công cuộc ... mưu cầu hạnh phúc. Cảm giác tôi lúc đó vừa hoảng loạn, vừa lo sợ, vừa ... sung sướng , vừa sung sướng, vừa hoảng loạn sợ hãi. Tột cùng của sự hoảng loạn sợ hãi là khi chùm nho của mẹ chỉ con trơ lại cọng. Khốn nạn thân tôi! Rồi tôi sẽ phải sống tiếp phần ... ngày còn lại ra sao đây? Vậy mà mẹ không đánh tôi. Bà chỉ ôm tôi vào lòng ... và khóc, khóc gào lên, khóc trào ra. Khóc như một đứa trẻ. Mẹ tôi đó. Ôm con vào lòng, gào khóc lên như trút hết hơi sinh vào từng tiếng nấc.

Năm tháng qua đi, cuộc đời mang lại cho tôi thừa mứa. Giờ tôi muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua. Tôi ngán đủ thứ, chả muốn ăn gì, chỉ còn ăn được mỗi nho. Bởi với nho, tôi không ăn bằng trực giác, mà thưởng thức bằng mùi vị của ký ức. Và vì với nho, tôi mua được một vé đi tuổi thơ. Hai mươi mấy năm trôi qua, ký ức vẫn chưa ráo mực. Mỗi lần ăn nho, tôi thấy mình bé lại, và được một bàn tay vô hình kéo tuột về thủa ấy, những-năm-tháng-cấm-vận.

Tôi chỉ là một cá nhân, một cá thể, trong một tập thể những con người thế thệ 8x. Và chỉ là 1 thế hệ, trong nhiều thế hệ con người. Nhưng nói như một nhà văn Nga: "Cây đời có hàng triệu chiếc lá, và nói về một chiếc lá, là cũng đang nói về hàng triệu chiếc lá khác".

Cứ mỗi mười năm, con Tạo quái ác xoay vần, là dân tộc tôi lại được gán cho một định mệnh mới. Tôi đã nghe rất nhiều người bảo tôi "thời em sướng rồi, thời của anh khổ lắm", còn tôi, tôi chỉ thấy thời nào cũng khổ. Và chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào. Cái nào cũng "đặc thù" và cái nào cũng "nhất"!

Người mình khổ quá, đất nước mình đau thương quá. Phải không mẹ? Phải không anh?.
Facebook Nancy Nguyen
 alt
 

Tàu RFA Argus lên đường đến Tây Phi

Tàu RFA Argus lên đường đến Tây Phi


Đứng trước nguy cơ của nhân loại, 2 thằng Nga - Tàu có xứng với danh xưng là
2 cường quốc hay không ?
Trong lúc Hoa Kỳ, Anh quốc luôn tình nguyện ra sức ngăn đông dẹp tây hết trừng quân ISIL đến trị dịch bệnh ABOLA, đứng trước ngọn sóng dồn dập thì hai đứa ấy vẫn ngậm tăm, chỉ chuyên lo tỉa lông cho mình ???




Tàu RFA Argus lên đường đến Tây Phi


 
WEST AFRICA / ENLAND - Hơn 700 trăm nhân viên quân đội của Anh Quốc đã có mặt trên tàu Argus đi đến Sierra Leone, để giúp quốc gia này thành lập trung tâm điều trị và cơ sở đào tạo. Argus dự kiến sẽ đến Sierra Leone sau 1 tháng hải hành. Được biết RFA Argus là bệnh viện hải quân có 100 giường bệnh, 3 phi cơ trực thăng. Anh Quốc không phải là nước đầu tiên triển khai quân đội đến Tây Phi. Hồi tháng 9 Tổng Thống Barack Obama đã tuyên bố: 3.000 binh sĩ Hoa Kỳ sẽ được đưa đến Tây Phi thực hiện nhiệm vụ y tế, giúp đỡ điều trị, và ngăn ngừa bệnh dịch Ebola. Nước Úc hiện nay cũng đang tranh luận xem, liệu có nên gửi các chuyên gia quân sự đã được đào tạo, đến Tây Phi hay không. Liên Hiệp Quốc đã thành lập một ngân qũy khoảng gần $ 1 tỷ mỹ kim, nhằm tài trợ cho các nhu cầu cần thiết nhất để ngăn chặn dịch bệnh Ebola.

 


 

Monday, October 20, 2014

Tập dịch cân kinh

Tập dịch cân kinh
Đức Ông Hoàng Minh Thắng


***

A Very Simple Exercise to Heal the Heart
Qigong for Relaxation: Rocking

Saturday, October 18, 2014

VUA TRẦN NHÂN TÔNG

VUA TRẦN NHÂN TÔNG
 








TRẦN NHÂN TÔNG         

KIỀU VĂN  


ÔNG VUA ĐẠI VIỆT ĐẦU TIÊN XUẤT NGOẠI
 
Trong lịch sử nước ta thời phong kiến, việc một ông vua đi chu du ra nước ngoài như trường hợp của thượng hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308) thật hiếm thấy.
Năm 1301, dưới triều Trần Anh Tông, nước Chiêm Thành muốn tăng cường tình hoà hiếu với Đại Việt, cử một đoàn sứ bộ ra yết kiến vua và triều đình ta ở Thăng Long. Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ lâu vẫn thích được “đi cho biết đó biết đây”, liền nhân dịp này muốn đi du ngoạn Chiêm Thành một chuyến. Thánh ý của thượng hoàng đương nhiên được sứ bộ Chiêm Thành nhiệt liệt hoan nghênh.
Trần Nhân Tông được mời tới kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành (thuộc tỉnh Bình Định ngày nay) và ở lại cả nửa năm trời để tìm hiểu phong tục tập quán và nền văn hoá Chàm. Ông rất có thiện cảm với đất nước Chiêm và rất mến vua Chiêm là Chế Mân.
Tình giao hảo của hai vị vua đã đạt tới tột đỉnh. Trần Nhân Tông hứa gả con gái của mình là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Đáp lại, Chế Mân hứa tặng vua Trần hai châu Ô, Lí (Bình – Trị – Thiên ngày nay).
Năm 1306, lời giao ước được thực hiện. Công chúa Huyền Trân trở thành hoàng hậu Chiêm Thành, và nước non Đại Việt mở rộng thêm hàng ngàn dặm vuông.
Cuộc xuất ngoại của thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đưa lại cho quốc gia Đại Việt một mối lợi không nhỏ!
 
TRÚC LÂM ĐỆ NHẤT TỔ 
 
Chữ “Nhân” trong niên hiệu Trần Nhân Tông quả vô cùng xác đáng với vị vua giàu lòng nhân ái này. Tìm hiểu mối tương quan bên trong giữa đức “dũng” của vị nguyên thủ quốc gia, một trong những thủ lĩnh của cuộc kháng chiến thần thánh chống Nguyên Mông – tên Hung Nô của cả loài người ở thế kỷ XIII – với đức “nhân” của vị “Trúc Lâm đệ nhất tổ”, người khai sáng nên “Phật giáo cho người Việt Nam”: đó là một đề tài mang tầm vóc rất lớn về triết học và nhân văn, đòi hỏi có những công trình nghiên cứu sâu rộng.
Tuy nhiên, xét đại lược thì vua Trần Nhân Tông là tổng hoà của ba phẩm chất căn bản của một Bồ Tát chân chính: đó là Bi – Trí – Dũng. Những phẩm chất ấy cũng thiết yếu với những con người chủ trương “hữu vi”, nhập thế theo Nho Giáo.
Lịch sử còn ghi một hành vi rất cảm động, nêu bật tinh thần “khắc kỉ, vị tha” của Trần Nhân Tông:
Năm 1284, khi giặc Nguyên do bọn Toa Đô, Thoát Hoan cầm đầu, kéo sang xâm lược nước ta lần thứ hai, quân dân nhà Trần không chống nổi, Hưng Đạo Vương bị bại trận phải thu quân về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tông rất lo lắng, bèn ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Đông (Hải Dương) cho vời Hưng Đạo Vương đến mà nói rằng:
- Thế giặc to như vậy mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm chịu hàng đi để cứu muôn dân?
Hưng Đạo Vương hiểu thấu lòng vua, đáp:
- Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng còn tôn miếu, xã tắc thì sao?...
Chỉ một câu nói ấy thôi cũng đủ cho thấy Trần Nhân Tông là một ông vua có lòng nhân đức, đã thấu hiểu chân lý “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quý nhất, chế độ xã hội là thứ yếu, vua là nhẹ).
Trần Nhân Tông còn ban một chiếu chỉ đầy nhân đức khác. Nhân hai năm liền trong nước xảy ra nạn đói, nhiều người nghèo khổ phải bán mình làm nô tì cho những nhà giàu có. Vua xét thấy việc mua bán người chỉ là việc vạn bất đắc dĩ, không thể đánh sòng với việc mua bán nhà cửa, ruộng đất, tài sản được. Chiếu chỉ của vua quy định rõ: tất cả những người đã bán mình làm nô tỳ đều có quyền nộp tiền cho chủ để chuộc lại tự do. Luật này chỉ áp dụng cho “người” mà không áp dụng cho tài sản, ruộng đất.
Trần Nhân Tông mỗi khi đi ra ngoài kinh đô, gặp bọn gia đồng của các vương hầu, thường đều gọi chúng lại ân cần hỏi:
Chủ các cháu ở đâu?
Và ngài răn các vệ sĩ, cấm không được cầm roi đuổi chúng để dẹp đường, mà cứ để mặc chúng đi lại hoặc chơi đùa. Ngài không thích dùng cái “uy thiên tử” làm mất niềm vui của bầy con trẻ ấy. Thậm chí ngài còn dạy tả hữu một sự thực đáng lấy làm suy nghĩ:
Ngày thường thì trẫm có thị vệ, tả hữu, nhưng khi quốc gia lắm hoạn nạn thì chỉ bọn chúng (tức bọn gia nô, kẻ thường dân) là có mặt giúp rập trẫm mà thôi!
Sở dĩ vua nói vậy, vì trước đây trong lúc kinh thành thất thủ, chính ngài đã rơi vào cảnh lạc lõng bơ vơ, nếu không có những kẻ thường dân ra tay giúp đỡ thì không hiểu số phận của ngài sẽ ra sao?
Tấm lòng của vua Trần Nhân Tông đối với nhân dân thì thế, còn đối với giặc thì sao?
Trong trận Tây Kết (Hưng Yên) năm 1285, bị quân ta tấn công dữ dội, quân Nguyên địch không nổi, hai tướng Toa Đô và Ô Mã Nhi phải đem quân lên bộ chạy ra phía biển. Nhưng khi chạy đến sau một dãy núi thì chúng gặp phục binh nhà Trần đổ ra đánh. Toa Đô bị trúng tên chết tại trận. Ô Mã Nhi thoát thân chạy vào Thanh Hoá rồi lẻn xuống một chiếc thuyền con bơi ra biển trốn biệt về Tàu.
Khi các tướng Trần đem đầu Toa Đô về nộp, vua Trần Nhân Tông vô cùng xúc động khi nhìn thấy thủ cấp viên đại tướng dũng kiện và rất trung thành của nhà Nguyên, ngài đã buột thốt lên một lời cảm thán:
Làm bầy tôi nên như người này!
Đoạn vua cởi áo ngự bào của chính mình ra trang nghiêm đắp lên đầu viên tướng giặc rồi sai các quan dùng lễ nghi mai táng Toa Đô hết sức tử tế.
* * *
Sau khi nhường ngôi cho thế tử (Trần Anh Tông), Trần Nhân Tông xuất gia đi tu đạo Phật ở núi Yên Tử (thuộc Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh ngày nay), lấy đạo hiệu là Trúc Lâm đại sĩ, pháp danh là Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài nghiên cứu sâu sắc đạo Phật Ấn Độ và bỏ nhiều công phu biên soạn và nhuận sắc lại lý thuyết Phật Giáo cổ điển rườm rà và nhiều tư biện, tạo thành một thứ “Phật Giáo của người Việt Nam” giản dị, gần gũi con người hơn: Thiền phái TRÚC LÂM. Sở dĩ có tên Trúc Lâm vì tại núi Yên Tử có một rừng trúc rất quý (nay hãy còn) là một cảnh trí lý tưởng để các thiền sư đến đó đàm luận về đạo Phật và tham thiền nhập định.
Từ cương vị một ông vua, Trần Nhân Tông trở thành một vị Phật sống, thành Trúc Lâm đệ nhất tổ 1, thành nhà hiền triết, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam, của phương Đông, chủ trương “Tam giáo đồng nguyên” (Nho – Phật – Lão cùng nguồn gốc).
Trước khi mất, Trần Nhân Tông dặn dò Pháp Loa tất cả các việc về sau, rồi bỗng nhiên đang ngồi ở am Ngoạ Vân mà hoá. Pháp Loa thiêu xác ngài, lấy được hơn 3000 hạt xá lị (hạt tro của thân xác sau khi thiêu) mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư.
Tương truyền khi mang hộp xá lỵ về kinh, vua Anh Tông thấy những hạt này rất lạ mắt, có ý ngờ đấy không phải tro xác Nhân Tông. Các quan nhân đó xin bắt tội Pháp Loa đã lừa dối vua. Nhưng lúc đó hoàng thái tử Mạnh mới lên 9 tuổi đứng hầu bên cạnh chợt thấy có mấy hạt xá lỵ bay vào ống tay áo của mình. Thái tử bèn lấy ra, đưa cho mọi người xem. Người ta bèn kiểm lại số hạt xá lỵ trong hộp, quả nhiên thấy thiếu mất mấy hạt này. Anh Tông tận mắt chứng kiến sự huyền diệu ấy, xúc động đến phát khóc, tưởng như phụ vương đang tại thế, đang nhìn rõ tất cả tâm địa từng người. Pháp Loa vì thế mà được minh oan.
Có lẽ trước đây, một thi sĩ lỗi lạc nhưng ẩn danh đã lánh mình trong cô tịch của núi thiêng Yên Tử, và trong một thời gian dài đã trước tác nên những thi phẩm Nôm bất hủ về danh sơn Yên Tử. Khi trở về cõi tiên cõi phật, hồn thiêng của đấng thi nhân đã nhập vào người trần thế để truyền lại thế gian những vần thơ tuyệt tác và thâm thuý, trong đó có những vần thơ cảm thán về vua Trần Nhân Tông như sau:
Từ bỏ đài son điện ngọc ngà

Cung tần mĩ nữ, chốn kiêu xa
Linh sơn Yên Tử vua Trần đến
Kinh đô, thành cũ mỗi bước xa...
Non xanh cắt tóc dứt trần duyên,
Vua đến nơi đây để nhập thiền,
Không phải trốn đời và yếm thế,
Cứu đời, nhập thế với Phật, Tiên.



GIÁC NGỘ ĐẠO PHẬT CHO TRƯƠNG HÁN SIÊU

Rất đông các nho sĩ (đệ tử của Nho Giáo chính thống) thời phong kiến ở nước ta theo quan điểm “nhất nguyên”, chỉ tôn thờ Nho Giáo mà bài xích Phật Giáo, Đạo Giáo, và sau này, Gia Tô Giáo.
Việc các vua Lý và Trần chấp nhận Phật Giáo phải chăng là sự mẫn cảm, sáng suốt của trí tuệ Đại Việt? Nếu Nho Giáo là khuôn vàng thước ngọc để tổ chức xã hội, thể chế hoá mọi phạm trù của đời sống thì Phật Giáo đặt nền móng triết học cho phần “hồn” của con người. Trong đời sống tinh thần và văn hoá của dân tộc ta, Phật Giáo đã tỏ ra có sức hấp dẫn lạ thường, bởi nó thoả đáp nhu cầu tình cảm và tâm linh của mọi tầng lớp nhân dân.
Vua Trần Nhân Tông là người sớm “ngộ” Phật Giáo. Thế nhưng một văn thần của ngài là Trương Hán Siêu, tác giả của “Bạch Đằng Giang phú” nổi tiếng, lại là người kịch liệt bài bác Phật Giáo. Nhân Tông hiểu rằng, sở dĩ Trương Hán Siêu có thái độ đó, chẳng qua vì ông ta chưa có “cơ duyên” để ngộ đạo mà thôi! Nhà vua bèn tìm cách tạo cho Hán Siêu một “cơ duyên”... Ngài không hề gò ép, chỉ cử Hán Siêu đến làm giám tự, trông coi chùa Quỳnh Lâm (ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay).
Thế rồi không hiểu vì khung cảnh thanh nhã của nhà chùa, hay vì điển quang của đức Phật phóng ra phổ độ chúng sinh, đã soi sáng cả tâm thức của nhà nho, dần dần Hán Siêu thấy mình đổi khác... Ông bắt đầu đọc những trước tác uyên thâm của Phật Giáo. Trí huệ của ông ngày càng được mở rộng khiến ông có tầm nhìn bao quát hơn, triệt để hơn về vũ trụ, về nhân sinh và về phương pháp giải thoát những nỗi đau khổ của con người. Ông được chứng kiến những con người đã trở nên thiện lương hơn, sống nhẹ nhàng thanh thản hơn khi đã “ngộ” những giáo lý sâu xa của đạo Phật. Ông thấy và ông hiểu được vì sao “chúng sinh” ơ’ khắp mọi miền trong nước hành hương nườm nượp tới các chùa chiền, không hề do mệnh lệnh, chỉ dụ của một triều đình nào, mà chỉ vì tiếng gọi của tâm linh họ. Ông thực sự cảm phục tính hiền lương, cao nhã và những hành vi bác ái, vị tha của những người theo Phật Giáo. Rốt cuộc, Trương Hán Siêu đã “ngộ” Đạo.
Ông đã chân thành “tự phê phán” thái độ và quan điểm hẹp hòi, cực đoan của mình trước đây: không biết gì hơn ngoài Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc Sử... của Trung Hoa. Ông viết một câu thơ không khác gì một lời sám hối:

Đời lênh đênh trước, khác nay.
Thân nhàn mới biết trước ngày lầm to!
(“Dục Thuý Sơn”, Trần Văn Giáp dịch)

Những nho sĩ tiếp thụ cả Phật Giáo như Trương Hán Siêu không ít. Và lịch sử đã xác nhận: ở hai triều đại Lý, Trần, Phật Giáo được đặc biệt coi trọng bên cạnh Nho Giáo, nhiều ông vua đã tu Phật (Lý Công Uẩn, Lý Huệ Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông…). Đó cũng chính là hai triều đại lập nên nhiều chiến công hiển hách, đánh bại được cuộc xâm lược của nhà Tống, đặc biệt là ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông.