Wednesday, March 25, 2015

Nhận diện đao phủ bức tử Việt Nam

Nhận diện đao phủ bức tử Việt Nam

Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội
2015-03-25    
          

“Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ.”-Albert Camus.

TC tuyên bố chủ quyền ở VN

Hiện vẫn còn một nước tên là Việt Nam nhưng cái tên chưa đủ để minh chứng rằng nước chưa mất. Việt Nam bây giờ cũng như một cây cổ thụ ngàn năm tuổi đang bị lưỡi cưa máy đốn hạ, lá trên cây dù chưa rụng hết nhưng dưới gốc thì thân gỗ đã bị xẻ làm muôn mảnh đem bán để ghép thành cái tràng kỷ kê chỗ ngồi cho nhiều nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Đám người này đã sốt sắng dâng lên đám đầu lĩnh Trung Cộng bữa đại tiệc với món chính là máu thịt của đất nước Việt Nam.
Chi tiết quan trọng nhất khiến người ta nghi ngờ rằng VN đã mất chủ quyền lãnh thổ vào tay Trung Cộng đã thể hiện trong một sự kiện chấn động khiến thế giới sửng sốt và bất bình nhưng nhà cầm quyền VN thì im lặng chấp nhận.
Tại cuộc họp báo ngày 8/3/2015, ông Vương Nghị - Bộ trưởng ngoại giao Trung Cộng đã lớn tiếng tuyên bố với thế giới rằng việc Trung Cộng xây các đảo đá trên biển Đông là xây trên sân nhà của họ và chỉ trích kịch liệt những ai phản đối hành vi này của Trung Cộng. Và cái phần mà Trung Cộng khẳng định là „sân nhà“ ấy, lại đang là lãnh hải của VN có lịch sử từ lâu đời và đã được công ước quốc tế đương nhiên thừa nhận.
Tuyên bố trên của Trung Cộng gây bàng hoàng và phẫn nộ cho những người công tâm và am hiểu lịch sử vấn đề. Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về biển Đông tại Học viện Quốc phòng Australia khi trả lời phỏng vấn của RFI đã không che giấu sự bất bình: “Tôi vô cùng kinh ngạc khi đọc thấy ý kiến của Ngoại trưởng Trung Cộng đưa ra vài hôm trước ngày kỷ niệm 27 năm cuộc tấn công của Hải quân Trung Cộng vào tàu hậu cần Việt Nam ở khu vực quan Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) ngày 14/3/1988. Nhận xét của ông Vương Nghị vừa thô bạo, vừa ngạo mạn.”
Dù liên tục lấn chiếm VN từ biên giới đến biển đảo, nhưng đây là lần đầu tiên TQ dám ngang ngược tuyên bố biển Đông là sân nhà. Việc Trung Cộng xây dựng những chuỗi đảo nhân tạo trên lãnh hải VN rõ ràng là hành động xâm lược, là bàn đạp để Trung Cộng thôn tính VN.
Trước sự xâm lược trắng trợn đó, trách nhiệm tối thiểu của nhà cầm quyền VN là phải lập tức phản đối mạnh mẽ trước hết trên lĩnh lực ngoại giao, đồng thời vận dụng các lực lượng quân sự, chính trị , sức mạnh quốc tế để buộc Trung Cộng trả lại chủ quyền lãnh thổ.
Nhưng sự ngược đời đã xảy ra. Sau tuyên bố của Vương Nghị, đến tận hôm nay VN vẫn không lên tiếng phản đối. Càng lạ lùng hơn là cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao VN dự định tổ chức vào ngày 12/ 3/2015, ba ngày sau tuyên bố của Trung Cộng lại bị xóa bỏ.

Lộ trình đao phủ bức tử VN

Trước sự im lặng chấp nhận của VN, Trung Cộng đã nuốt trọn phần còn lại của con mồi. Phần đầu đã được tiêu hóa xong từ những năm trước đây, khi những nhà cầm quyền VN từ cấp địa phương tới Trung ương đã hăm hở giao đất rừng dọc biên giới mà hầu hết là những vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng cho Trung Cộng thuê và quản lý tới 50 năm theo phương thức người Trung Cộng tha hồ tung tác trong đó.
Thiếu tướng Nguyễn Kim Khoa - chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội cho biết trên báo Đất Việt ngày 18/6/2014 : Qua khảo sát ở một số nơi, đã thấy có 19 dự án được các địa phương cấp phép cho thuê tới khoảng 398.374 ha đất rừng dọc biên giới Việt - Trung, đặc biệt là những vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng. (Trong khi đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ báo là 10 tỉnh).
Mức giá mà VN cho Trung Cộng thuê đất rừng biên giới rẻ mạt đến mức không tưởng tượng nổi: nhiều nơi Trung Cộng chỉ phải trả 2,75 đ cho mỗi mét vuông đất mỗi năm! (Theo đại biểu QH Trần Việt Hưng(Hòa Bình) – báo Thanh niên đưa tin ngày 12/6/2010)
Nhận định của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng thực sự các cấp chính quyền đã bán rừng và dồn đất nước VN vào tình trạng tự sát, khiến VN mất đi vùng lãnh thổ quan trọng nhất về quốc phòng an ninh.
Mặc dù vậy, cho đến nay không một ai phải chịu trách nhiệm về những hành vi có thể coi là bán nước và phản quốc này.
Cùng trên lộ trình các cấp chính quyền VN để ngỏ cửa cho những kẻ xâm lược VN, họ còn tạo điều kiện đặc biệt dễ dàng cho người Trung Cộng vào kinh doanh, sản xuất, trốn thuế, thuê đất trồng lúa, rau quả, thuê mặt nước nuôi tôm cá... lập những đặc khu Trung Cộng như ở Vũng Áng – Hà Tĩnh và nhiều nơi. Song song với những chính sách về chính trị, ngoại giao và quốc phòng, an ninh, những chính sách về kinh tế thương mại đã giết chết nền sản xuất của VN và biến VN thành thị trường tiêu thụ hàng rởm và hàng độc hại của Trung Cộng. Không những nền kinh tế chính trị và văn hóa của VN bị bức tử mà cả VN đang bị biến thành một bệnh viện khổng lồ trong đó chen chúc những người dân đang chết dần mòn vì hóa chất độc hại của Trung Cộng.
Trong tình thế ấy, thay vì bảo vệ đất nước và nhân dân, nhà cầm quyền VN đã liên tục dùng mọi lực lượng từ văn hóa tư tưởng, báo chí truyền thông tới công an và côn đồ để ngăn chặn, vu cáo, mạt sát, khủng bố, đánh đập, bỏ tù, bao vây về kinh tế, cắt cả nguồn sống của những ai dám bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ tự do dân chủ và phản đối Trung Cộng xâm lược. Đến các cuộc dâng hương tưởng niệm những người đã hy sinh trong những cuộc chiến bảo vệ đất nước chống Trung Cộng tàn sát cũng bị nhà cầm quyền cho các lực lượng công an, dân phòng, dư luận viên và côn đồ ngăn cản.
Với những hành động có hệ thống, nhất quán trong nhiều năm như vậy, dư luận có quyền nhận định rằng nhà cầm quyền VN đã có quyền lợi chung với đám đao phủ Trung Cộng đang bức tử đất nước VN.
Để dẹp tan dư luận, Bộ trưởng quốc phòng VN – lại có những hành động bất chấp sự thật, trách nhiệm và và lương tâm khi khẳng định rằng “quan hệ Việt Trung vẫn phát triển tốt đẹp” và coi việc xâm lược của Trung Cộng chỉ là “mâu thuẫn gia đình”. Hơn thế nữa, Ngày 31/12/2014, vị này còn lớn tiếng răn đe và kết tội rằng người VN ghét Trung Cộng là một việc nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước cũng như quan hệ giữa hai quốc gia. (theo tinphapluat.com)
Dù không muốn thừa nhận sự thật đau lòng, người VN cũng không thể không nhận thấy dù cái tên VN còn đó, nhưng hồn nước thì đã bị nhiều nhà cầm quyền cộng sản làm tay sai cho Trung Cộng giẫm đạp mỗi ngày. Tung hoành trên mảnh đất này là dòng máu phản trắc đớn hèn đã được tiêm vào động mạch của vô số nhân vật trong các bộ máy quyền lực. Đó thực sự là đám tay sai của Trung Cộng, núp dưới chiêu bài Đảng cộng sản VN, lấy chủ nghĩa Mác Lê nin và ý thức hệ xã hội chủ nghĩa mà nhân loại đã lên án là tội ác chống lại loài người làm bức màn sắt che cho những tham vọng, quyền lợi nhóm, để chĩa họng súng độc tài vào người dân, biến VN thành một “nhà tù” khổng lồ đàn áp bất cứ ai dám phê phán, ngăn cản con đường bán nước của chúng.
Người VN trong tình thế đó, là những con gà bị trói chặt, dao đã kề cổ. Ai cam tâm im lặng, chịu đi nhặt cơm thừa canh cặn, tung hô khen ngợi đám tay sai bán nước, tiếp tay cho bọn xâm lược, hoặc tiếp tục vắt kiệt máu mỡ mình nuôi bộ máy cầm quyền phè phỡn trên xương máu nhân dân thì sẽ được tồn tại.
Nhưng thế có phải là cuộc sống con người?
Người VN đã tê dại. Đã lạc mất linh hồn, Đến mức số đông đã mặc kệ mọi sự, cam chịu dao kề cổ và trong khi đang kê chiếc cổ gầy dưới lưỡi dao đao phủ , người VN cũng tương tự nhà cầm quyền của họ, chỉ dám mơ tới một con dao đao phủ cùn hơn để cứa cổ mình lâu chết hơn, chứ không dám mơ tới việc phải làm gì để thoát khỏi lưỡi dao ấy. Không ít người do không am hiểu tình hình nên đã trở thành độc ác, đứng về phía đao phủ bức tử VN, a dua mạt sát những dân oan hoặc những đồng bào đã không quản nguy hiểm đấu tranh cho quyền lợi của đất nước và cho cả chính họ.

Mất nước là bởi nhà cầm quyền VN


000_Hkg9812263.jpg
Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.

Trung Cộng thực sự rất ngang ngược, tham lam và đã dùng nhiều thủ đoạn đối với loài người trên thế giới này. Không ngẫu nhiên khi có nhiều tài liệu khoa học thống kê, phân tích về những thủ đoạn thâm hiểm, tàn bạo của nhà cầm quyền cộng sản Trung Cộng và một trong những cuốn sách rất nổi tiếng đã được xuất bản mang tên “Chết bởi tay Trung Cộng” của hai giáo sư kinh tế học Perto Navarro và Greg Autr đã cảnh báo loài người về những tham vọng và hiểm họa mà Trung Cộng mang tới để các nước đối phó.
VN “đã chết bởi tay Trung Cộng”! Nhưng khốn khổ khốn nạn ở đây là cái chết do VN tự chuốc lấy. Chết chỉ vì nhà cầm quyền cộng sản đã bằng mọi giá, thà hy sinh lãnh thổ, danh dự, đất nước, nhân dân chứ không chịu mất Đảng, mất thể chế cộng sản.
Họ yêu Đảng, yêu Mác Lê nin, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đến thế kia ư?
Hoàn toàn không. Ở trong bộ máy, họ biết quá nhiều hành vi bỉ ổi độc ác của nhau và của thứ chủ nghĩa này. Họ gắn bó chẳng qua thể chế ấy, chủ nghĩa ấy là một cỗ xe bọc thép mang vũ khí hạng nặng bảo vệ hữu hiệu nhất cho băng cướp tham nhũng tha hồ lừa bịp và cướp bóc người dân. Thế giới đã chứng minh cỗ xe cộng sản càng lăn đi càng chất chồng tội ác. Sự sợ hãi bị mất tất cả đã khiến nhà cầm quyền gắn với thể chế cộng sản như mạng sống. Họ đã lựa chọn con đường hy sinh đất nước và nhân dân để giữ chế độ độc tài nhằm bảo vệ cho giai cấp thống trị tha hồ cướp bóc.
Đó cũng là điều mà Trung Cộng đã rất khôn ngoan tận dụng để thao túng đám cướp bóc này. Đám này còn rất sốt sắng thực hiện mưu đồ nhập VN vào Trung Cộng trong năm 2020 theo như cam kết của Hội nghị Thành Đô 1990. Tham vọng vĩ cuồng mang hơi hướng Mao Trạch Đông của Tập Cận Bình cộng với và sự nôn nóng muốn rảnh tay nên giao đất sớm cho Trung Cộng của đám bán nước VN, nay đã về đích trước 5 năm so với kế hoạch?!
Albert Camus nói: “Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ”. Khi nhà cầm quyền hoặc người VN đứng về phía đao phủ , thì chính họ đang hái quả trên ngọn cây nhưng lại dùng lưỡi cưa xẻ nát thân cây đã dung dưỡng họ.
Xét những động thái khác thường qua tuyên bố của Trung Cộng và sự im lặng chấp nhận của VN, dư luận không thể không nhận ra VN đã nằm gọn trong cái mõm tham lam của TQ. Cánh tay của nước Mỹ dù mạnh nhưng đã bị khước từ bởi chính nhà cầm quyền VN không những chỉ đứng về phía đao phủ mà còn là tay trong cho đao phủ. Nước Mỹ và khối các nước văn minh hiện giờ chỉ còn chứng kiến những cú đong đưa cầu lợi của VN đang được điều khiển bởi đầu não Trung Cộng mà thôi.
Nhưng chính Trung Cộng cũng đang phải đối diện với nguy cơ sụp đổ trong tương lai gần bởi chính những khối ung thư nội bộ của họ. Sự phát triển nôn nóng bất chấp danh dự và thủ đoạn của nền kinh tế Trung Cộng đương nhiên sẽ mau chóng phá vỡ cái vỏ chật chội lạc hậu của thể chế chính trị phi tự nhiên theo ý thức hệ cộng sản đã bị loài người tẩy chay. Việc cộng dồn những tội ác chống lại loài người mà nhiều thế hệ nhà cầm quyền Trung Cộng đã làm với người dân của họ và thế giới cũng sẽ đến ngày “tức nước vỡ bờ”, chưa kể những chấn động mạnh mẽ của cuộc tranh giành quyền lực phe nhóm đang diễn ra dưới vỏ bọc “đả hổ diệt ruồi” tại Trung Cộng.
Sự sụp đổ ấy đương nhiên sẽ kéo theo sự tan vỡ bi thảm trong một ngày không xa của thể chế cộng sản VN đã tự nguyện nộp mình vào tay Trung Cộng thay vì thức thời đón nhận những cơ hội của Cách mạng Nhung VN, tự cải cách thể chế, đồng hành với quyền lợi của toàn dân tộc.
Và dẫu nước VN có mất về tay Trung Cộng, những người gắng gỏi vì đất nước và người dân VN không tuyệt vọng. Cuộc đấu tranh đòi thoát khỏi thể chế cộng sản để cứu nước, đem lai toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, tự do và nhân quyền cho người VN dù khó khăn nhưng là một cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ. Nhà cầm quyền không bao giờ có thể tiêu diệt hết được những người yêu nước yêu công lý và yêu tự do.
Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

Nhà giàu Trung Cộng học làm người sang

Nhà giàu Trung Cộng học làm người sang

  • 25 tháng 3 2015
Thí sinh Hoa hậu Trung Cộng 2014 học cách ứng xử từ giáo viên trường Seatton (Ảnh Darcy Holdorf)

Năm người phụ nữ Trung Cộng ngồi thẳng lưng trên ghế, túi xách tay hàng hiệu để ở dưới chân, tập trung lắng nghe một phóng viên ảnh của tạp chí Tatler của Trung Cộng giảng về cách tạo dáng như thế nào ở nơi công cộng. Anh đang nói về cách trang điểm, ánh sáng....
Căn phòng được trang trí giấy dán tường Pierre Frey và các học viên nhâm nhi trà pha trong bộ ấm chén Bernardaud. Tay cầm sổ, họ đang ghi chép những điều nên và tránh làm trước ống kính máy ảnh.
Khóa học “Cách tạo dáng thanh lịch trước ống kính” là một trong những lớp của Viện Sarita, một mô hình hiện đại của trường nghi thức xã giao châu Âu cung cấp dịch vụ cho người mới giàu Trung Cộng.
Những lớp khác do trường thực hiện là ở quận Sanlitun hiện đại của Bắc Kinh, gồm các lớp dạy dỗ trẻ em, kiểu cách ăn uống tao nhã và cách phát âm tên các thương hiệu nổi tiếng.

'Giàu nhưng quê'

“Phần lớn các khách hàng của tôi từng có những lúc bối rối khi ra nước ngoài hay khi ăn tối bàn bạc chuyện làm ăn. Họ tới đây vì họ muốn học cách ứng phó tốt hơn,” bà Sara-Jane Hồ, một phụ nữ ăn mặc hết sức chải chuốt và là người thành lập trường, ngồi trong phòng khách bày toàn đồ nội thất cổ nhập từ Pháp, nói.

“Chủ yếu là học cách ứng xử trong môi trường quốc tế,” bà Hồ nói. Bản thân bà từng học nghi thức xã giao ở Viện Villa Pierrefeu-Thụy Sĩ, một trong những trường hàng đầu về nghi thức trên thế giới.
Cho tới nay, bà đã thu hút được vài trăm người Trung Cộng giàu có tới học. Bà sẽ mở một chi nhánh ở Thượng Hải vào tháng Năm.
Với 190 tỷ phú và hơn hai triệu triệu phú thì Trung Cộng chỉ thua Mỹ về số lượng cá nhân có giá trị tài sản lớn, theo nghiên cứu của tạp chí Forbes và Boston Consulting Group.
Trong số này, nhiều khối tài sản đã phát triển nhanh song song với nền kinh tế mới mở rộng của Trung Cộng và với các cơ hội kinh doanh cấp số nhân. Một số nhà giàu mới nổi thì không có mấy kiến thức, ít được đào tạo về cách cư xử trong trong các hội nghị kinh doanh quốc tế và những lúc giao tế.
“Đất nước này đã quá cô lập trong 30 năm qua,” bà Hồ nói. “Nhiều người đã trở nên giàu có trong một thời gian quá ngắn. Sự thay đổi đã tạo rất nhiều sức ép đối với cá nhân.”
Kết quả là các doanh nhân nhận thức được rằng họ quá vụng về, thô lậu trước các đối tác Tây Âu hoặc Châu Á.
Sự khéo léo tế nhị có thể làm các giao dịch kinh doanh được dễ dàng hơn. “Chỉ đơn giản như biết cách sử dụng thành thạo dao, dĩa trong bữa ăn cũng có thể giúp tăng lợi thế để giành hợp đồng rồi,” James Hebbert nói. Ông là đại diện của Seatton, một trường chuyên đào tạo về nghi thức xã giao ở Trung Cộng.

Khát vọng 'lột xác'

Những học viên học mọi thứ về cách dùng trà Anh. (Ảnh Seatton)

Các khách hàng tham dự lớp học nghi thức giao tế ở Trung Cộng bao gồm các quan chức chính phủ, trẻ em được du học ở nước ngoài, các bà vợ sẽ phải tiếp trọng khách và những người thích du lịch nước ngoài.
“Với phạm vi đào tạo rộng này thì nhu cầu là rất lớn,” Hebbert nói. Khách hàng của ông lúc đầu chủ yếu là tài xế hãng Rolls Royces muốn ăn mặc cho đúng cách, sau đó là tầng lớp trung lưu mong muốn có kinh nghiệm về lối sống ở Anh.
“Chỉ trong vài năm tôi chứng kiến một sự chuyển đổi thực sự về khách hàng. Người Trung Cộng đi du lịch ngày càng nhiều. Họ trông thấy cái lợi thế lớn của việc hiểu biết quốc tế."

“Lần tới, khi đi Milan và ăn tối ở một khách sạn sang trọng thì tôi có thể tự tin nói với chồng tôi là không nên cầm dao ăn như cầm dao găm,” một học viên khóa dạy phép xã giao Tây Âu nói. Người muốn ẩn danh này dự khóa học với James Hebbert ở Thượng Hải.
Hebbert tính phí 20.000 nhân dân tệ (3.243 USD) một khóa buổi chiều cho nhóm 10 người.
Khóa được ưa thích nhất của Viện Sarita mang tên “Làm chủ tiệc”, có phí 100.000 nhân dân tệ (16.216 USD) trong 12 ngày. Khóa học này dạy khách hàng các kỹ năng từ cách tiếp chuyện xã giao ban đầu cho đến cách dùng rượu vang với đồ ăn.

'Bất lịch sự'

Thí sinh Hoa hậu Trung Cộng 2014 được một chuyên gia trường Seatton đào tạo. (Ảnh Darcy Holdorf)

Giới truyền thông và ngay cả Chủ tịch Trung Cộng đã phê phán một số du khách Trung Cộng về cách cư xử khi ra nước ngoài.
Trong chuyến đi tới Maldives, ông Tập Cận Bình đã khuyên công dân Trung Cộng nên “văn minh hơn nữa khi đi du lịch nước ngoài.”
Với hơn 100 triệu người Trung Cộng đi du lịch trong năm 2014 thì việc ứng xử thô lỗ đã bị bêu xấu khá nhiều trên báo chí quốc tế. Những điều tệ nhất từng được nhắc tới là du khách Trung Cộng làm hỏng mặt tượng Ai Cập, té nước sôi vào tiếp viên hàng không và đái bậy.
Trong tháng 10, Cục Du lịch Quốc gia Trung Cộng đã ra hướng dẫn nghiêm ngặt về cách cư xử khi đi du lịch.

Cuốn cẩm nang 64 trang cảnh báo các du khách Trung Cộng là không được tiểu tiện trong bể bơi, không ăn cắp áo phao trên máy bay và không dẫm giầy dép lên bệ xí bệt. Các hình phạt về những hành động như vậy bao gồm phạt tiền người hướng dẫn du lịch và liệt vào sổ đen những du khách thô lỗ.
“Người Trung Cộng thiếu cách cư xử lịch lãm. Đây không chỉ là điều cha mẹ dạy bảo. Tôi luôn ngạc nhiên khi nhiều người giữ cửa cho tôi đi qua khi ở Paris. Điều này không bao giờ xảy ra ở Trung Cộng,” Yue-Sai Kan nói. Gương mặt người Mỹ gốc Hoa này là người dẫn chương trình TV và là tác giả cuốn Nghi thức giao tế cho người Trung Cộng hiện đại.
Cuốn sách của bà rất ăn khách tại Trung Cộng, với hơn 3 triệu bản đã được bán ra. Ngày nay, bà Kan giảng về nghi thức xã giao và đào tạo các thí sinh Trung Cộng cho đợt thi Hoa Hậu Hoàn Vũ.

Di sản Cách mạng Văn hóa?

Trong khi một số điều bị những người phương Tây coi là thô lỗ xuất phát từ vấn đề văn hoá (quan niệm về khoảng không công cộng và riêng tư ở Trung Cộng là rất khác) thì những thói xấu khác lại bắt nguồn từ thời Cách mạng Văn hóa, thời mà tất cả những gì tinh tế, tao nhã đều bị đánh giá là tư sản và bị chà đạp tàn tệ.
“Thử nghĩ khi bạn đang phải tranh cướp giành giật thức ăn thì bạn còn nghĩ gì về khoảng không riêng tư được nữa,” bà Hồ giải thích.
Cái có thể bị coi là bất lịch sự ngày nay với người mới tới Trung Cộng như xô đẩy, chen lấn khi xếp hàng, nói to hoặc ngoáy mũi nơi công cộng thì đa số người Trung Cộng lại coi là bình thường.
Tuy nhiên, với việc Trung Cộng mở cửa và giao lưu với thế giới thì dân chúng ngày càng hiểu họ bị nước ngoài đánh giá họ như thế nào.
(Ảnh Seatton)

Bộ mặt mới

Để tách mình ra khỏi tiếng xấu này, nhiều người thuộc giới thượng lưu mới đang tìm sự tao nhã lịch thiệp ở các trường nghi thức xã giao. Đồng thời họ cũng đang tìm cách hành xử đẹp như tạo một thước đo mới cho biểu tượng của địa vị cá nhân.
“Người Trung Cộng hiểu rằng vị thế của họ là một cường quốc lớn nhất thế giới đã đưa họ vào một hoàn cảnh buộc họ phải học hỏi những nền văn hoá và cách cư xử ở các nước khác nhằm tạo thuận lợi cho quan hệ chính trị và kinh doanh,” Viviane Neri, lãnh đạo Viện Villa Pierrefeu viết trong một email.
“Trước đây, đó là việc sở hữu một xe hơi to,” Hebbert nói. “Ngày nay, người giàu đang đi tìm một cái gì khác để tạo sự khác biệt.”
Bài gốc tiếng Anh đã được đăng trên BBC Capital.

Tuesday, March 24, 2015

Người con gái ‘lập dị’ của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu trải lòng về cha mẹ

Người con gái ‘lập dị’ của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu trải lòng về cha mẹ

A- A A+ ‹Đọc›

Tiến sĩ Lý Vỹ Linh (sinh năm 1955), là con thứ 2 của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu, đã không kết hôn và sống bên bố mẹ đến những giờ phút cuối cùng.

Một trong những tấm ảnh rõ ràng hiếm hoi của tiến sĩ Vỹ Linh .
Một trong những tấm ảnh rõ ràng hiếm hoi của tiến sĩ Vỹ Linh .
Tiến sĩ Vỹ Linh hiện là giám đốc viện khoa học thần kinh quốc gia Singapore. Suốt nhiều chục năm qua, bà không hề được nhắc đến nhiều như 2 người con trai của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu là thủ tướng Lý Hiển Long hay giám đốc Singtel Lý Hiển Dương. Thậm chí, người phụ nữ này còn không mấy khi xuất hiện trong những tấm ảnh gia đình Thủ tướng.Là một người phụ nữ cô độc suốt cuộc đời, bà Vỹ Linh sống và phụng dưỡng cha mẹ đến giây phút cuối cùng. Sau khi cha mất, bà đã gửi tạp chí Straitstimes những bức thư bà từng viết từ năm 2011 đến nay, bao gồm toàn những gạch đầu dòng ngắn gọn, nói về cha mẹ và cuộc đời mình.

Tiến sĩ Lý Vỹ Linh và ông Lý Quang Diệu.
Bố tôi là một người nghiện công việc- Cả gia đình tôi ở trong bệnh viện khi bố phải đặt stent động mạch vành, không ai nói với ai lời nào, không phải vì căng thẳng đâu, đơn giản vì chúng tôi rất bận.- Bố tôi ngồi trên giường bệnh, ông vẫn lúi húi bên chiếc laptop, mẹ tôi kiểm tra giấy tờ, còn tôi cũng ngồi giải quyết những công việc tại viện.- Nếu ai đi qua nhìn thấy 3 người chúng tôi như vậy, chẳng ai nghĩ rằng bố tôi sắp phải phẫu thuật tim. Năm ấy, ông 73 tuổi, ca phẫu thuật là lý do không đủ lớn để ông ngừng làm việc.- Tôi chưa từng thấy ông thể hiện cảm xúc, ông luôn nhẫn nhịn để đối đầu với thử thách.- Ông chưa từng hoảng sợ, bố tôi nghĩ hoảng sợ sẽ ảnh hưởng không tốt đến tư duy.-  Để chèo lái một đất nước, sự đanh thép là cực kỳ cần thiết, và ông đã làm điều đó 31 năm.- Trong gia đình, tôi và cha tôi đều có tính khí rất mạnh, thế nên không phải lúc nào quan hệ của bố con tôi cũng tốt đẹp.

Một tấm ảnh hiếm về 2 cha con thủ tướng.

- Thật ra, mỗi khi chúng tôi cãi vã, trận chiến đó sẽ kéo dài đến lúc người kia chịu thua thì thôi.- Năm 2002, tôi đã bỏ nhà đi sau một trận cãi lộn với bố.- Bố luôn muốn tôi ngừng tập tạ, có lẽ vì ông thấy tôi bị gãy xương quá nhiều lần.- Có lần bố gọi tôi vào phòng làm việc, ông bảo tôi sẽ bị liệt nếu còn tập luyện nặng, nếu tôi còn sống cùng ông thì phải dừng ngay việc đó lại.- Thế nên tôi bỏ nhà đi luôn, thật ra là tôi đến nhà anh Long (thủ tướng Lý Hiển Long) ở.- Năm ấy tôi 47 tuổi.-  Thế mà 1 năm sau, tôi nói với bố là sắp đến Hawaii để thám hiểm núi lửa, ông chỉ nói đúng 1 câu "Cẩn thận đấy".

Tiến sĩ Vỹ Linh cùng cháu gái.
Gia đình tôi thích sống kiểu thanh đạm- Mặc dù gia đình khá giả, nhưng bố mẹ dạy dỗ 3 anh em tôi phải thật tiết kiệm.- Nếu 1 trong 3 đứa mà để vòi nước vẫn nhỏ giọt hoặc điện vẫn sáng khi ra khỏi phòng thì sẽ bị phạt rất nặng.- Khi đi công tác nước ngoài, bố tôi toàn tự giặt quần áo, ông bảo chi phí giặt đồ khách sạn tốn kém quá, tiền công để giặt một cái áo đắt đúng bằng mua một cái mới.- Mẹ tôi rất giỏi việc thay chun quần áo, vì bố tôi chỉ thay chun thôi chứ không mua đồ mới.- Căn nhà gia đình tôi ở xây dựng từ 100 năm trước.

Bà Lý Vỹ Linh (trái) trong một giải đấu karate quốc gia năm 1979.

-  Tôi có 3 cái đồng hồ Casio, 1 cái Seiko bố cho từ 40 năm trước, 2 cái Tag Heuer cực đắt tiền của anh Long và Dương tặng. - Nhưng tôi chỉ đeo đúng 1 cái casio, tôi không bao giờ tháo nó ra, có đêm tôi làm rơi nó ở đâu đó quanh nhà, thế là tôi phải lấy cái khác ra đeo thì mới ngủ được.- Tôi có một bọc váy mua từ 20 năm trước, nhưng chỉ mặc 3 trong số đó, không có gì hợp với tôi hơn áo phông và quần ngố.

Bà Vỹ Linh phát biểu tại đám tang mẹ.

Sống một cuộc sống không hối tiếc- Bố tôi có một cuộc sống trọn vẹn, phong phú và đầy ý nghĩa.- Khoảng 20 năm trước, bố mẹ tôi có nói với tôi về chuyện lập gia đình, ông bảo mặc dù có con gái sống cùng cũng vui, nhưng khi bố mẹ mất thì tôi sẽ cô độc lắm.- Tôi trả lời "Thà như thế còn hơn mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân vô vị".- Tôi chưa bao giờ hối tiếc về quyết định của mình.- Trước đây bố mẹ tôi hay đi công tác hoặc du lịch cùng nhau.- Sức khỏe bố tôi xuống dốc từ ngày mẹ qua đời, trước đây ông ấy khỏe lắm.

Thủ tướng và 3 con trong đám tang bà Kha Ngọc Chi năm 2011.

- Từ ngày mẹ mất, tôi hay đưa bố đi công tác nước ngoài cùng mình, ông có vẻ cũng thích thế lắm.- Bố tôi rất thích đi du lịch, ông cho rằng đi du lịch sẽ học được điều mới đem về cho Singapore.- Năm 2011, sau khi mẹ mất không lâu, ông cùng tôi đi công tác vòng quanh thế giới trong 16 ngày.- Tôi biết bố rất buồn vì mẹ qua đời, nhưng ông không bao giờ thể hiện điều đó. Năm ngoái, ông có nói với tôi là "đối tác làm ăn" lâu dài và uy tín nhất của ông chính là mẹ.- Sau tang lễ của mẹ, ông tập luyện thể thao điên cuồng, tôi đã phải ngăn cản vì sợ ông bị kiệt sức.- Vị thế đã thay đổi, hồi xưa ông cấm tôi tập thể thao, giờ đến lượt tôi cấm ông, nhưng tôi thấy buồn vì điều đó.- Khi đối mặt với bệnh tật, tinh thần và suy nghĩ của bố tôi rất hợp với bài thơ của Robert Frost:"Rừng tối đen và sâu thẳmNhưng tôi còn một lời hứaVà còn hàng dặm dài phải đi trước khi ngủVà còn hàng dặm dài phải đi trước khi ngủ"


Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1117525#ixzz3VLXPpscb doc tin tuc www.xaluan.com

Wednesday, March 11, 2015

"Theo Vận Nước Nổi Trôi"

Buổi ra mắt Bút ký của bà Thảo Hoàng
tại Hội Trường VNCR, lúc 11:00am ngày 29.3.2015
 
~~~~~~~~~~~~
Bút ký "Theo Vận Nước Nổi Trôi"
của bà Thảo Hoàng                                                                                            Bài của Bích Huyền

Biến cố năm 1975 đã xua đuổi người ta ra khỏi quê hương yêu dấu, lang bạt khắp bốn phương trời. Dù có an cư lạc nghiệp nơi xứ người nhưng những người ra đi vẫn mang nặng hai điều: Chia ly và mong ước trở về. Mong ước trở về có nghĩa là vẫn còn lưu lạc. Như vậy thật sự chỉ còn có những cuộc chia ly. Chia ly với ngư...ời. Chia ly với cảnh. Chia ly với đất. Rồi thời gian trôi qua vì tình quê hương người ta trở lại. Có thể trở về nơi chốn cũ bằng chiếc vé máy bay nhẹ tênh, mà cũng có thể trở về với một hành trang tư tưởng nặng trĩu, qua chính ngòi bút của mình, trải dài trong từng trang giấy như bà Thảo Hoàng đã ghi lại dòng đời của mình trong tác phẩm: Theo Vận Nước Nổi Trôi.


Chúng ta sẽ cùng tác giả đến tỉnh Thái Bình, một thành phố khang trang với cánh đồng ruộng lúa mênh mông, bát ngát, bãi biển trong xanh. Đó là quê ngoại của bà Thảo Hoàng, làng Lễ Nghĩa. Nơi đây, Cuộc sống người dân có một cuộc sống an hòa. Trồng dâu, nuôi tằm, kéo tơ …thu nhập thêm cho ngân sách gia đình. Bà thuộc gia đình buôn bán, trung lưu. Nhưng nạn đói năm Ất Dậu, rồi tiếp theo đó là chiến tranh Thế giới lần thứ 2 chấm dứt 1945, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống dân miền Bắc trong đó có tỉnh Thái Bình. Người dân rời bỏ làng quê tản mát khắp nơi. Gia đình bà Hoàng tản cư lên Hà Nội...
Mỗi một con người hình như ai cũng mang trong hồn mình quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, nơi một thời lớn lên trong mái ấm gia đình. Quê hương nhỏ bé, êm đềm nhưng giàu những hình ảnh, kỷ niệm của quá khứ. Là một phần thịt xương, một cái gì thiêng liêng nhất trong lòng. Nào đã hết, biến cố 1975 ập tới. Bà đã lênh đênh tám hướng trên biển với bao hiểm nguy, tưỏng chừng như tuyệt vọng . Nhưng cuối cùng được đặt chân lên một quần đảo thuộc Indonesia, vùng đất tự do. Sau đó định cư tại Pháp, học lại và xây dựng sự nghiệp tại Pháp, trước khi sang MỸ.
Trước những ngày xẩy ra biến cố bi thảm 1975, đất nước của chúng ta, nói rõ hơn, miền Nam của chúng ta dường như đã được báo trước bằng những tín hiệu đau thương. Không, không phải chỉ là những tín hiệu. Mà đó là điều mà chúng ta cảm nhận được, trong văn thơ của miền Nam sau 1954, và hôm nay thấp thoáng trong những trang sách Theo Vận Nước Nổi Trôi, bà Thảo Hoàng đã viết. Đó là sự thật, sự thật người ta nhìn thấy hàng ngày. Sự thật trong ngay chính gia đình tác giả.
Cuộc chiến tranh, dù thế nào cũng phải kết thúc. Và với những gì đang diễn ra, nó khó có thể kết thúc một cách bình thường. Hiểu như vậy, nhưng người ta cũng không thể tưởng tượng được nó sẽ chấm dứt như thế nào. Trước đó hai muơi năm, người ta trải qua cái lần chiến tranh bằng cuộc chia cắt đất nước. Hàng triệu người đã phải rời bỏ miền Bắc ra đi khởi đầu từ Hà Nội. Cái giấc mơ người ta mang theo trong lòng là sẽ có ngày trở lại. Trở lại Hà Nội, không phải chỉ như một thành phố người ta yêu mến. Mà cuộc trở lại ấy còn có ý nghĩa hàn gắn lại đất nước, chắp nối lại giềng mối, quá khứ, tiến tới tương lai.
 
Tôi yêu cái thật, cái giản dị trong văn phong của bà Thảo Hoàng. Cuốn sách này có thể giúp cho những ai muốn tìm hiểu vế đất nước, con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Trong ý tưởng ấy, tôi trân trọng giới thiệu tác phẩm với quý vị độc giả, những người còn yêu chữ nghĩa Việt Nam, yêu quê hương Việt Nam xa cách muôn trùng…Bích Huyền Cali tháng 2-2015

Saturday, March 7, 2015

Đọc tản văn của Khuất Đẩu

Đọc tản văn của Khuất Đẩu

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-03-07  
         
 Đọc tản văn của Khuất Đẩu Phần âm thanh Tải xuống âm thanh  
5875673175_089c1e85a5-622.jpg
Nhà văn Khuất Đẩu
Courtesy Dung Tran Huu
 
Vào giữa năm 2010 trên trang mạng Talawas xuất hiện tác phẩm “Những tháng năm cuồng nộ” được người đọc nhanh chóng yêu thích không những do đề tài cấm kỵ được một cây viết đang sống trong nước khai thác mà bởi chính phong cách riêng của tác phẩm đã khiến nó được tìm đọc và lan truyền.

Viết chỉ để mở lòng

Tác giả quyển sách là nhà văn Khuất Đẩu. Ông không sống bằng nghề viết văn và theo như ông tự nhận, ông viết chỉ để mở lòng ra cho vơi những chất chứa, như con tầm tự phải nhả tơ. Mặc dù khó khăn chúng tôi cũng may mắn tìm ra địa chỉ của ông và được ông cho biết:
“Tôi bữa nay đã 75 tuổi rồi, bị thoái hóa cột sống cho nên ngồi cũng không được lâu mà tay chân một phần bị tê nữa. Bị tim mạch và tuột huyết áp cho nên những lúc ngủ không được, khó ngủ quá trằn trọc rồi buồn buồn nên viết vậy chớ thật ra tôi cũng ngưng lâu rồi không thể viết được như trước. Bây giờ mà viết cái gì dài dài một chút thì không viết nổi, đó là thứ nhất, thứ hai tôi nhận thấy một điều thế này bây giờ trên Internet bài vở nó nhiều lắm, lượng thông tin nó khủng khiếp lắm. Lúc đầu mỗi một chữ một câu hay một tác phẩm nào đó xuất hiện thì tác động lớn lắm nhưng bây giờ thì độc giả người ta cũng quen thuộc nhàm chán rồi nên thấy rằng bây giờ mình viết dài thì người ta cũng ớn đọc.”
Những tản văn ngắn mới nhất của ông không phải là các sản phẩm chặt đầu chặt đuôi cho vừa với chiếc hộp Internet từ yêu cầu của người đọc hôm nay như ông nói, nhưng chúng thật sự là những tác phẩm tiêu biểu của một ngòi viết sắc sảo có cái nhìn soi rọi và chuẩn xác của một người đã thông qua hết nẻo đời và mọi diễn biến xã hội được ngòi bút ấy biểu cảm một cách tinh tế.
Khuất Đầu có một phong cách viết dí dỏm và trong từng câu chữ của ông tuy nổi lên các phê phán rất mạnh mẽ nhưng sự hiểm ác không hề có. Chiếc roi dư luận được ông xử dụng thành thạo và chừng mực, chừng như ông sợ người bị đòn sẽ đau, kể cả kẻ ấy là Đảng, một thế chế mà ông đã minh họa từng chi tiết trong “Những tháng năm cuồng nộ” nhiều năm về trước.
Giả sử, Đảng được sinh ra trong một gia đình nào đó, có nghĩa là một sinh vật hẳn hoi, thì chẳng biết Đảng đực hay cái. Đảng không có chim, cũng không có bướm, vậy mà trong 85 năm, Đảng sinh ra đến hàng triệu đảng viên. Đảng hơn cả mẹ Âu Cơ, sinh đẻ cứ như cua, cá. Mà cua cá thì anh cứ việc xơi, chứ đảng viên, đụng vào là bỏ mẹ.
-Trích Sinh Nhật Buồn
Trong ngày sinh của Đảng, ông lẩm nhẩm tính lại những gì Đảng đã làm trong 85 năm qua và kết luận: Sinh Nhật Buồn!
“Sinh Nhật Buồn
Đang ngồi chờ cạo mặt ráy tai ở một quán hớt tóc đầu con hẻm, bỗng nghe lệnh của tổ dân phố phát ra oang oang trong loa phóng thanh: Để mừng Đảng mừng xuân, mọi nhà đều phải treo cờ tổ quốc!
Chợt nhớ ra ngày mai, mồng ba tháng hai là ngày sinh của Đảng. Và Đảng 85 tuổi. Như thế cũng đã gần thượng thọ rồi. Đảng hơn tôi 10 tuổi. Nếu là trong giới viết lách, có thể gọi thân mật bằng anh, rủ nhau đi cà phê tán gẫu. Nhưng Đảng, không phải là người, không hình thù mặt mũi, chỉ “văn kỳ thanh chứ bất kiến kỳ hình”, có muốn nâng ly chúc mừng cũng không biết chúc ai.
Nhưng Đảng cũng không phải là ma. Đảng có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ. Gần, thì tổ trưởng dân phố, công an khu vực. Xa, thì chủ tịch tỉnh, chủ tịch nước. Chót vót là tổng bí thư.
Đảng là một tổ chức chính trị trùm cả nước. Cái bóng của Đảng to đến nỗi trông lên chỉ thấy Đảng chứ không thấy Trời.
Sức mạnh của Đảng thì khỏi phải nói. Nào đánh Pháp, đuổi Mỹ. Ơn Đảng còn hơn cả ơn Chúa. Nhưng Đảng cũng là một cái gì chưa trọn, cứ phải xây dựng hoài mà chưa xong. Đảng cũng thối tha không kém, nên cứ phải làm trong sạch mãi.
Giả sử, Đảng được sinh ra trong một gia đình nào đó, có nghĩa là một sinh vật hẳn hoi, thì chẳng biết Đảng đực hay cái. Đảng không có chim, cũng không có bướm, vậy mà trong 85 năm, Đảng sinh ra đến hàng triệu đảng viên. Đảng hơn cả mẹ Âu Cơ, sinh đẻ cứ như cua, cá. Mà cua cá thì anh cứ việc xơi, chứ đảng viên, đụng vào là bỏ mẹ.”
Khuất Đẩu tuy biết “đụng vào là bỏ mẹ” nhưng không đụng lại không được. Ông lấy ngay một cụ bà cũng là đảng viên trong suốt 85 năm ấy để so sánh và ông thấy rằng Đảng đã đánh cắp ngày sinh nhật của cụ bởi ngay ngày hôm nay cụ không còn ai chung quanh để hát “Happy Birthday” vì mọi người đều bận mừng sinh nhật Đảng còn cụ thì hom hem ngồi nhớ lại thành tích tù đày bầm dập của mình.
nhungthangnamcuongnokd-400.jpg
Bìa tác phẩm “Những tháng năm cuồng nộ” của Tác giả nhà văn Khuất Đẩu. Courtesy photo.

“Trong số hàng triệu đảng viên, có nhiều người cùng tuổi với Đảng. Nghĩa là Đảng mới chào đời đã kịp sinh con, như cụ bà Phạm Thị Trinh, cũng đã 85 tuổi Đảng (101 tuổi đời). Đảng thì lớn mạnh vẻ vang, còn cụ thì tù đày bầm dập. Cùng tuổi với Đảng nhưng chẳng được ai chúc mừng, kể cả con cháu.
Vậy thì Đảng là cái gì mà mọi nhà đều phải treo cờ, đến nỗi, hơn 50 năm trước, Trần Dần phải kêu lên: Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà/ chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Lá cờ mà sau đó ông gọi là lá cờ trừ ma.
Người ta bảo Đảng bây giờ cũng như cái xác trong lăng kia, chỉ chờ ngày chôn thôi. Tôi thì tôi không dám tin như vậy. Chẳng những thế tôi còn đâm ra sợ Đảng như nhân vật của Kafka, có thể đang hóa thân thành một con gì đó hơn cả con sâu. Bởi thế, cứ tới ngày sinh của Đảng thì tôi (và 85 triệu người không Đảng) lại buồn. Còn buồn hơn chiều chủ nhật buồn nằm trong căn gác đìu hiu!”

Hình ảnh của diệt vong

Nếu Đảng vô hình nhưng khuynh đảo mọi thứ trong xã hội thì con dê tuy là một vật nuôi cho thịt nhưng lại có những thứ mà Khuất Đẩu cho rằng sẽ có lợi hơn những gì mà hơn ba triệu đảng viên đang cắm cúi làm. Con dê tượng trưng cho sự sinh tồn còn Đảng lại là hình ảnh của diệt vong. Có lẽ vì thế mà Khuất Đẩu hớn hở chào năm con Dê có chút gì đó hy vọng, niềm hy vọng nối liền những hy vọng khác trong nhiều năm qua vào ngày đầu năm như mọi người Việt Nam thường có
“Chào cụ dê!
Trời đã bớt lạnh. Nắng đã ấm. Cụ dê đã lại gõ móng đứng trước thềm năm mới. Trông cụ vẫn cứ sung như 12 năm trước. Bộ râu dê của cụ không cần vuốt vẫn cứ quặp vào một cách kiêu hãnh.
Lénin cũng có một bộ râu nổi tiếng như cụ, cũng được thần tượng một thời, nhưng nay xác thì nằm lạnh lẽo trong lăng, còn tượng thì bị dân Mông Cổ và Ucraina kéo đổ.
Nghiêng trời lệch đất như Hitler, ăn ảnh với bộ râu “cứt mũi”, cuối cùng cũng tự sát với người tình già. Còn bộ râu đã từng làm nhột một cô cháu họ Nông xem ra còn tệ hơn nữa.”
Từ cụ Dê, Khuất Đẩu liên tưởng đến cụ Đảng. Cũng đáng gọi bằng cụ lắm chứ vì năm nay cụ ấy đã được 85. Nhưng thay vì xây dựng một cộng đồng dê ngày càng đông đúc hơn thì cụ Đảng lại xây lăng! Có lẽ vì thế khi cụ Dê chết người ta vẫn tận thu được từng tế báo nhỏ nhất trong cơ thể cụ.
“Khi cụ chết, người ta không xây lăng, mà trước hết lấy máu cụ hòa với rượu làm ra “dâm dương tửu”, tin rằng còn hiệu nghiệm hơn cả Viagra. Ngoại trừ lông và cứt, xác cụ được chế biến thành ra tái dê, lẫu dê, dê hon, dê nướng…để rồi được an táng một cách thơ thới trong các nhà mồ kêu óc ách.
Nghiêng trời lệch đất như Hitler, ăn ảnh với bộ râu “cứt mũi”, cuối cùng cũng tự sát với người tình già. Còn bộ râu đã từng làm nhột một cô cháu họ Nông xem ra còn tệ hơn nữa.
-Trích Chào Cụ Dê
Các nhà chính trị của ta cái máu dê thì ít mà máu tham thì nhiều. Báo chí trong luồng và ngoài luồng chỉ phanh phui những kẻ lương thì chẳng bao nhiêu mà giàu hơn cả Thạch Sùng. Chưa thấy đồng chí X., đồng chí Y. nào thả dê bậy bạ ngoài anh Nguyễn Trường Tô tép riu. Mà nếu có mó dái dê thì cũng không đến nỗi bị đá hậu hộc máu như mó dái ngựa. Kim Quốc Hoa, báo Người Cao Tuổi, trong năm ngựa lại mó dái ngựa, chẳng những bị đá văng khỏi chức chủ bút, còn bị truy tố ra tòa.
Vậy thì, cụ dê ơi, Chúa ban cái sức sung mãn cho cụ, nếu không làm cho đời sướng hơn thì cũng không làm cho đời khổ hơn. Cụ rất xứng đáng được học tập. Các nhà chính trị Việt Nam, nên noi gương cụ, làm tình chứ không làm tiền.
Làm tình thì có chết thằng Tây đen nào đâu, chứ làm tiền thì chết dân nhiều lắm đó.”
Trong các tản văn ngăn ngắn của Khuất Đẩu không phải chỉ nói chuyện chính trị mà trong đó còn lắm chủ đề mà ngày nay ít người khai thác. Khao khát tìm tới cái đẹp thực sự của văn chương, Khuất Đẩu rất thành công trong thao tác đánh thức tính thẩm mỹ và triết học qua câu chuyện “Nam mô Chiếc áo cà sa” của ông.
Một nhà sư nghèo trụ trì trong một ngôi chùa còn nghèo hơn ông. Gia tài vỏn vẹn một chiếc áo cà sa mà ông mặc tới mặc lui trong nhiều năm. Do lo sợ mặc nhiều chiếc áo có thể hư hỏng, tối đi ngủ nhà sư treo nó lên vách. Một đêm, khi bị truy đuổi một cô gái làm tiền chạy vào chùa, cô ấy đã quơ chiếc áo cà sa khoát lên người để trốn sự truy bắt. Kết quả là cô thoát và nhà sư thì bị dằn vặt một cách thánh thiện, sự dằn vặt của bậc hiền minh.
“Cụ run rẩy đặt mấy ngón tay lên lớp vải vàng ố vì đã quá cũ. Thường thì nó nhạt nhạt, lạnh lạnh. Nhưng giờ, như nó vừa được hơ lửa, nóng đến bỏng tay. Áo nóng hay tay mình nóng? Cụ ngơ ngác tự hỏi. Nó đã được cái gì trăng trắng cuộn tròn vào mình, khít rịt từ đỉnh đầu cho đến gót chân, đã từng nghe máu chạy dưới da, từng hít cái hơi son phấn nồng nàn, nó nóng là phải. Đó là cái mùi của tội lỗi. Còn mình? Mình cũng có tội chứ không à? Sao không nhào tớí mà ngăn nó laị? Cùng lắm thì cứ đè nó ra mà lột, đến tuổi này thì còn sợ gì cái trăng trắng đó nữa! Nhưng như thế thì ác quá! Nó sẽ bị công an lôi đi đưa vào những trại giáo dưỡng như nhà tù. Con nó ai nuôi, cha mẹ nó ai săn sóc?! Giá như hôm nay có đức Phật, chắc ngài cũng để cho nó mượn áo mà thôi. Có phải vì thế mà chiếc áo trở nên ô uế đâu. Khi hành đạo chính ngài đã nhặt nhạnh từng miếng vải vụn trên đường đi, kết thành một tấm vảỉ lớn quấn quanh mình. Chẳng thịt da nào là có tội. Cũng chẳng quần áo nào là đáng khinh. Không chừng chiếc áo vừa rồi đã làm nên ơn phước vì cứu được một người. Như thế cũng là công đức.
Sư cụ bình tĩnh nhặt lên, vuốt lại cho thẳng thóm, ướm thử lên ngực, ngần ngừ một lúc rồi treo lại trên vách.”
Khuất Đẩu cho biết ông không phải là nhà văn, ông chỉ viết do bức xúc khi nhìn thấy sự vật. Những hình ảnh thật ấy gây phản ứng cho tâm hồn, rồi ông viết:
“Thực ra mà nói với anh tôi thấy mình không phải là một nhà văn nhà viết gì cả. Trước kia tôi dạy học, sau 75 thì “mất dạy”! Tức là không cho dạy vì lý lịch, thì tụi tui cũng sống vớ va vớ vẩn cho nó qua ngày. Nhưng cảm thấy mình là một người dân, có những điều bức xúc thì mình phải nói vậy thôi. Không làm được việc gì to lớn hơn thì mình chỉ nói cái gì nếu được một hai người hiểu năm ba người biết thì đó là điều quý.”
Ngòi bút của Khuất Đẩu đáng gọi là đa dạng, ông có thể khiến người ta cười không dứt nhưng không ít lần làm người đọc trầm ngâm. Riêng về cách ghi lại những cảm xúc thì ông đáng gọi bậc thầy.
Cảm xúc là nguồn mạch văn chương, thiếu nó thì không một tác phẩm nào có thể bám được vào bậc tam cấp dẫn lên tượng đài tôn sùng cái đẹp. Diễn tả cảm xúc qua một buổi chiều đối với Khuất Đẩu thật muôn hình vạn trạng. Ông nhìn thấy chiều qua lăng kính vạn hoa và bên kia là những gì tuy thấy nhưng nhà văn vẫn lo vì sắp mất.
“Chiều chiều…
Chiều, cũng là lúc mà cô dâu mới về nhà chồng, len lén ra ngõ sau, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều!
Một lần ngó đến những chín lần đau, đủ biết các cô dâu ngày xưa vất vả và cô đơn biết chừng nào. Ta có thể tưởng tượng cô vừa giã xong cối gạo, hay vừa bắc nồi cơm lên bếp, lấy cớ ra sau bờ mương bẻ một vài bẹ môn, hay xé một miếng lá chuối. Cô chỉ loáng thoáng nhìn về những bờ cây xanh xanh đó, ngọn đồi nho nhỏ đó, nơi mẹ cô cũng đang lặng lẽ đi xách nước tưới rau hay đang vo gạo nấu cơm. Nơi có con chó già trung hậu lúc nào cũng ngúc ngoắc đuôi khi thấy cô về. Nơi cha cô đang nằm trên võng hát nghêu ngao chờ bữa tối.
Đó cũng là lúc những thửa ruộng trước nhà vừa bừa xong, mặt ruộng phẳng như gương lênh láng mây trời. Chín hay mười người quần đen nón trắng, xếp thành một hàng dài nghiêng nghiêng vừa cấy vừa hế hò hê. Tiếng hò của bà già trầu thợ cả, của các mẹ các thím nheo nhóc con cái đùm đề, của các cô học việc mười lăm, mười bảy… không qua một trường lớp thanh nhạc nào, vẫn trong vắt, cao vút.
Là lúc, khói thổi cơm chiều từ các mái nhà tranh lơ lửng bay lên, mang theo mùi rơm rạ, sau đó là mùi cá kho đậm đà hay mùi mắm cua chua dịu nhỉu.
Là lúc, mẹ đặt gánh hàng lên thềm nhà, hối: lấy cho mẹ gáo nước, đi con. Rồi nghe mẹ uống ừng ực, nước chảy qua hai hàng răng đen, chảy xuống cằm trước khi rơi xuống cái áo đang ướt đẫm mồ hôi.
Là lúc ở chân trời tím nhạt, tháp Bánh Ít, tháp Cánh Tiên ngã màu nâu thẩm, đột nhiên trở nên cao lớn hùng vĩ. Đâu đó vọng lại tiếng ru hời hời nghe như tiếng buồn vang trong mây của một dân tộc mất nước.”
Người xa quê đọc bài “Chiều chiều” của Khuất Đẩu khó cưỡng lại nỗi lòng mênh mông nhớ thương một mảnh đất đã nuôi dưỡng mình bằng những buổi chiều ký ức kia. Chiều trong bất cứ trạng thái nào qua ngòi bút của ông cũng làm người ta ngây ngất…
“Chiều lên. Chiều xuống. Chiều về. Chiều nào cũng gợi cho ta một nỗi buồn nhè nhẹ. Nhưng hai tiếng chiều rơi, nghe rất tây, lại cho ta thấy vẻ đẹp vĩnh cửu của đất trời. Cái màu vàng của nắng lúc này nhạt dần, mỏng và nhẹ, nhưng vẫn là một màu không phai như màu hồng của hoa anh đào khi lả tả rơi.
Những buổi chiều không một tiếng còi xe, không một tiếng máy nổ ấy, giờ đây không còn ở chốn làng quê yên ả.
Vẫn biết không cứ mãi đi sau cái cày, không cứ lọc cọc với chiếc xe bò, không cứ giậm chân một chỗ nhìn cuộc tiến hóa ầm ầm lướt qua, nhưng sao vẫn cứ thấy tiếc. Tiếc mùi khê khê của rơm rạ khi dùng đun bếp, tiếc mùi bùn của thủa ruộng đang cấy. Và nhất là thấy tiếc cái tiếng hế hò hê mênh mang. Như Trần Tế Xương thấy tiếc con sông Lấp ở Nam Định mà thèm nghe một tiếng gọi đò.
Cái tiếc ấy đúng là đứt ruột khi tuổi đã xế chiều.”
Nhà văn Khuất Đẩu đang vào tuổi mà ông gọi là tiếc đứt ruột, nhưng dù sao thì nhà văn cũng yên tâm vì những tản văn ngăn ngắn của ông đã có dịp tới rất nhiều người đọc trong và ngoài nước.
Bên trong, người ta đọc ông để bớt nỗi đau của người không được nói.
Bên ngoài, người ta đọc ông để nhớ rằng mình vẫn còn những “Chiều chiều” bên kia bờ đại dương để nhớ mà về…

Tuesday, January 27, 2015

Cây thuốc lạ của người từng bị hư thận

 
Cây thuốc lạ của người từng bị hư thận
 
 
Bị hư cả hai quả thận, tiền bạc lại không có, anh Ngô Sĩ Lạc ở thôn Nguyên Trang, xã Sơn Nguyên (huyện Sơn Hòa) cứ ngỡ mình sẽ sớm lìa khỏi cuộc đời. Trong hoàn cảnh bế tắc, anh tìm uống thuốc nam và hết bệnh nên hăm hở chia sẻ cây thuốc lạ lùng này với nhiều người, mong giúp họ tìm lại được sức khỏe.
Cây thuốc nam lạ
Năm 1993, anh Ngô Sĩ Lạc mắc bệnh thận. Căn bệnh này suýt nữa thì cướp đi mạng sống của anh.
“Tôi điều trị ở bệnh viện tại Phú Yên, vô bệnh viện TP.Hồ Chí Minh rồi ra bệnh viện ở Vinh, Nghệ An. Bác sĩ đều nói cả hai quả thận bị hư, tôi phải ghép thận, nếu có tiền”.
Anh Lạc làm gì có tiền, có thận để mà ghép! Năm 1984, từ Diễn Châu (Nghệ An), anh đến huyện miền núi Sơn Hòa lập nghiệp. Rồi anh đi bộ đội, sang chiến trường Campuchia. Bị bệnh sốt rét hành hạ, anh Lạc xuất ngũ một năm sau đó.
Trở về Sơn Hòa, anh lập gia đình. Hai vợ chồng mưu sinh trên rẫy. Đến khi anh Lạc ngã bệnh, vợ chồng anh phải chuyển nhượng 1,5ha đất rẫy để chạy chữa, thuốc thang. Không có tiền ghép thận, anh đành buông xuôi, mặc cho số phận.
Anh được đưa về nhà và bị căn bệnh quái ác hành hạ, dẫn đến phù, co rút hai chân, không thể đi được. Khi đó, người đàn ông sinh năm 1967 này yếu đến mức được vợ và bạn dìu hai bên, cũng không còn sức để đứng lên.
Cứ ngỡ mình sẽ chết thì ngày nọ, anh Lạc hay tin ở Tuy Hòa có một người đào vàng bị hư cả hai quả thận, bệnh viện “chê”, trả về.
Rồi bệnh nhân đó uống thuốc của một người dân tộc thiểu số ở Phú Túc (Krông Pa, Gia Lai) và khỏe mạnh trở lại.
Như người sắp chết đuối vớ được cọc, anh Lạc nhờ em trai lên Phú Túc, lặn lội tìm người đàn ông kia để mua thuốc.
“Em tôi mua được 2 khúc cây, mỗi khúc dài khoảng nửa mét, to bằng cổ tay với giá 150.000 đồng, về nhà vạt mỏng, rang vàng hạ thổ rồi nấu sôi kỹ để tôi uống thay nước.
Đêm đó, sau khi uống hết ấm thuốc đầu tiên, tôi rất mệt, nhưng sáng hôm sau thì thấy đỡ nhiều.
Tôi liền bảo em lên Phú Túc mua thêm thuốc. Uống đúng một tháng thì khỏe, tôi đi siêu âm lại, bác sĩ bảo: Thận không có vấn đề gì” – anh Lạc tươi cười kể về chuyện mình đã thoát khỏi bệnh một cách kỳ diệu.
Cay thuoc la cua nguoi tung bi hu than
Cây thuốc đã được bào nhỏ – Ảnh: Y.LAN 
Chia sẻ niềm hy vọng
Khỏi bệnh, anh Lạc vô cùng tò mò muốn biết cây thuốc gì đã giúp mình bước qua “cửa tử” nên đem khúc cây đến gặp nhiều người dân tộc thiểu số sống ở địa phương để tìm hiểu.
Tuy nhiên, tất cả đều lắc đầu, chẳng biết đó là cây gì. Bởi vì trước khi bán thuốc cho gia đình anh Lạc, người đàn ông ở Phú Túc đã chặt cây thuốc ra thành từng khúc và trên cây không còn một cái lá nào, vì vậy, người ta không thể “nhận diện” được.
Khỏe mạnh trở lại, anh Lạc tiếp tục làm rẫy và mua cây thuốc “trữ” trong nhà. “Mỗi lần lên Phú Túc, tôi mua từ 1 đến 2 triệu đồng tiền thuốc để dành trong nhà, ai cần thì tôi chia lại cho họ” – anh Lạc cho biết.
Cách đây 3 năm, anh Cao Văn Thìn ở thôn Nguyên Trang, đồng hương với anh Lạc, mắc bệnh sốt rét, sau đó tiểu ra máu rất nhiều. Anh Thìn đến bệnh viện khám thì được khuyên nhập viện để điều trị.
“Lúc đó vợ tôi cũng bệnh, đang lúc mùa màng mà gia đình lại neo người nên tôi không nhập viện. Anh Lạc hay tin, đưa cho tôi một khúc cây, bảo về sắc uống thử.
Tôi uống vào thấy đỡ, nước tiểu trong trở lại. Công nhận cây đó hay, cách sử dụng cũng rất đơn giản” – anh Thìn kể.
Anh Thìn cho biết sau khi uống hết 4 ấm thuốc, anh khỏi bệnh cho tới bây giờ. Khúc cây thuốc mà anh Lạc đưa, giờ vẫn còn một ít, anh Thìn cất kỹ, để dành.
“Nó chẳng bị mối mọt gì cả, dù tôi cứ để khơi khơi như thế” – anh Thìn nói. Rồi, cũng như anh Lạc, anh Thìn rất tò mò muốn biết rốt cuộc đó là cây gì mà hay vậy.
“Hai anh em đã lên Gia Lai mua thuốc và “theo dõi” người đàn ông đó vì muốn tìm ra gốc gác cây thuốc, nhưng mà không được” – anh Thìn tươi cười kể.
Không chỉ nhiều người dân ở thôn Nguyên Trang biết về cây thuốc “của anh Lạc”, mà người ở xa cũng gọi điện đến “đặt hàng”. Anh Lạc nói: Tôi đã chia thuốc cho rất nhiều người, gần có, xa có, giờ không thể nào nhớ hết.
Có người ở Cam Ranh (Khánh Hòa), uống hết bệnh rồi mà vẫn mua thêm, nói là để “thủ” trong nhà. Một người tên Thi bị phù, ứ nước ở thận, uống thuốc hết bệnh rồi thì mua về bán cho dân trong vùng. Tít trong TP Hồ Chí Minh cũng có người điện ra tìm mua cây thuốc này”.
Một trong những người ở TP. Hồ Chí Minh đã mua thuốc của anh Lạc là anh Nguyễn Đức Thái, sống tại quận Thủ Đức.
Qua điện thoại, anh Thái cho biết:
“2 năm trước, thận của tôi bị ứ nước độ 2. Nghe người ta mách bảo, tôi mua thuốc của anh Lạc, uống chừng gần một tháng thì khỏi bệnh. Từ đó đến nay, tôi vẫn đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, kết quả đều ổn”.
Theo lời anh Lạc, cây thuốc mà anh trữ trong nhà “chuyên trị” chứng suy thận, phù do bệnh về thận, thận ứ nước, tiểu ra máu do tổn thương thận, còn bệnh sỏi thận thì cây thuốc này “bó tay”.
Khi phóng viên tỏ ý muốn biết “mặt mũi” cây thuốc, anh Lạc kêu vợ mang ra một khúc cây to bằng cổ tay trẻ con, có gai, màu vàng rất nhạt.
Rồi anh mang ra một cái máy bào. Tì khúc cây vào cửa, anh Lạc bắt đầu bào và dăm xối xả văng ra. Chốc sau, anh đã có một vốc to dăm mỏng bào từ cây thuốc, có mùi hăng rất nhẹ.
Anh Lạc hướng dẫn: Đem cái này rang vàng, hạ thổ rồi cho vào ấm đất, đổ 4 chén nước, đun sôi kỹ rồi uống thay nước, thế thôi. Một ấm thuốc nấu từ 2 đến 3 nước mới bỏ.
Cũng theo anh Lạc, người bị suy thận phải uống từ nửa tháng đến một tháng mới có kết quả, còn người bị phù do bệnh về thận thì chỉ cần uống trong năm mười ngày.
“Có người ở TP Tuy Hòa điện lên hỏi về cây thuốc, rồi hỏi là có cần đưa bệnh nhân đến để bắt mạch không. Trời, tôi đâu phải là thầy thuốc. Tôi may mắn biết được cây thuốc này, cứu được mình, sau đó thì giúp cho bà con thôi” – anh Lạc nói.
Trao đổi xoay quanh cây thuốc “bí ẩn” đang được anh Ngô Sĩ Lạc chia sẻ với nhiều người mắc bệnh thận, đông y sĩ Lê Văn Phước ở TP Tuy Hòa – người đã có nhiều năm sưu tầm, giới thiệu những cây thuốc quý – nói:
Muốn biết đó là cây gì, hoạt chất của nó như thế nào thì phải gửi tiêu bản đến Viện Dược liệu để các nhà chuyên môn xác định.
Cũng theo ông Phước, trong nhiều trường hợp, thổ nhưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc chiết xuất được dược liệu từ cây thuốc.
Và phải thu hái đúng quy trình, nếu thì cũng không có tác dụng.
Bạn đọc có nhu cầu liên lạc với anh Ngô Sĩ Lạc, thì liên lạc theo số điện thoại: 0168.614.6886.

Monday, January 26, 2015

ĐẶC TÍNH CỦA NGƯỜI VIỆT QUA NHẬN XÉT CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU MỸ

ĐẶC TÍNH CỦA NGƯỜI VIỆT QUA NHẬN XÉT CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU MỸ


Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã chỉ ra 10 đặc tính căn bản của người Việt.
Khi nhìn nhận bất cứ một vấn đề gì chúng ta cũng phải có cái nhìn khách quan, đầy đủ hai mặt của vấn đề, trên nhiều phương diện giữa tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, từ đó rút ra vậy cái gì nên phát huy và cái gì nên hạn chế.
Cách đây hai mươi năm, Trung Quốc có sách “Người Trung Quốc Xấu Xí” của tác giả Bá Dương (Bo Yang). Ở Mỹ có cuốn sách nổi tiếng tương tự là: “The ugly American” của WILLIAM J. LEDERER AND EUGENE BURDICK xuất bản năm 1958 đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất thời đó. Dường như có nhiều liên quan giữa sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ cho dân tộc.
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:img_7117
1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc).
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
Người xưa cũng đã nhận ra:
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.
Trong bài tựa, ông nói ngay:
“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!”
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”
“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”
Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn:
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”
“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? …
“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.
“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”
Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 – 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi Hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn thất vọng .
“Trước là làm đẹp sau là ấm thân”
Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Quốc đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.
Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:
Con ơi! muốn nên thân người
Lắng tay nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.
Tiêu chuẩn của cuộc sống hiện nay của nhiều người, nhiều gia đình là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học nước ngoài… Đi đâu cũng nghe khoe nhà trên cả tỷ bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như: John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:
Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc!
Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.