Friday, June 7, 2013

Hiệp định TPP và Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Trung Cộng

Hiệp định TPP và Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Trung Cộng

Việt Long& Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2013-06-05  
06052013-ddkt-nxn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh  
001_GR331735-305.jpg
Đồ họa cho thấy các thành viên của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, một thỏa thuận thương mại tự do Mỹ hậu thuẫn hiện đang đàm phán giữa 11 quốc gia. AFP
     
Nguyên thủ của Hoa Kỳ và Trung Cộng sẽ hội họp hai ngày tại một trang trại ở California. Nghị trình thảo luận giữa lãnh đạo của hai nền kinh tế đứng đầu thế giới tất nhiên bao gồm hồ sơ kinh tế và cả Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương TPP. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu riêng về hồ sơ đó qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.
Việt-Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, Hiệp định Hợp tác Kinh tế và Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương, mà người ta gọi tắt là TPP, có nằm trong nghị trình làm việc của Tổng thống Barack Obama với Chủ tịch Tập Cận Bình nhân cuộc gặp gỡ cuối tuần này tại California hay không? Chúng tôi nêu câu hỏi đó và đề nghị ông trình bày về bối cảnh của thượng đỉnh này.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Về bối cảnh chung, kinh tế thế giới chưa ra khỏi năm năm đình trệ, bên trong lại có quan hệ thiếu cân xứng giữa hai nền kinh tế đứng đầu thế giới là Mỹ và Trung Cộng. Vì vậy, tôi thiển nghĩ rằng ưu tiên thảo luận vẫn xoay về kinh tế là hồ sơ có ảnh hưởng chính trị rất cao trong nội tình của từng nước.
Ngoài ra, hai nước còn có nhiều mâu thuẫn khác thuộc lĩnh vực an ninh. Như sự bành trướng quân sự của Trung Cộng tại miền Tây Thái Bình Dương khi Hoa Kỳ chủ trương "chuyển trục" về Đông Á. Hoặc khi "hắc khách", hay "hackers", xuất phát từ Trung Cộng lại đột nhập và ăn cắp thông tin lẫn kỹ thuật của doanh nghiệp hay cơ quan dân sự và quân sự của Mỹ. Mâu thuẫn ấy lại lồng trong bối cảnh quốc tế là sự bành trướng của Trung Cộng khiến nhiều xứ lân bang ưu lo và quan tâm đến phản ứng của Hoa Kỳ. Họ muốn biết Hoa Kỳ ứng xử ra sao với Trung Cộng và cân nhắc thế nào ưu tiên về kinh tế và an ninh của nước Mỹ trong khung cảnh chung của cả khu vực Đông Á hay Tây Thái Bình Dương. Chính là hai khía cạnh kinh tế và an ninh mới phần nào kết tụ vào một hồ sơ là Hiệp định TPP mà ông nêu ra.
Nếu Trung Cộng muốn trở thành cường quốc có trách nhiệm và trao đổi tự do với các nước thì việc tham gia vào một hiệp định chiến lược về kinh tế và về nhiều mặt khác là điều có lợi cho mọi người. -Nguyễn-Xuân Nghĩa
Việt-Long: Vẫn nói về bối cảnh, thưa ông, những người vừa lên lãnh đạo Trung Cộng kể từ Đại hội 18 vào Tháng 11 năm ngoái sẽ phải cải cách kinh tế từ cơ cấu. Đây là một ưu tiên của Trung Quốc để tránh động loạn ở bên trong như lãnh đạo Bắc Kinh đã nói ra từ nhiều năm nay. Liệu Hiệp định TPP có là cơ hội cải tổ không, nếu cho rằng Hoa Kỳ sẽ mời Trung Cộng gia nhập vòng đàm phán với các nước khác?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Câu hỏi của ông nêu ra một vấn đề lý thú mà người ta có thể hiểu ra khi rà soát lại hiện tình kinh tế của Trung Cộng.
Sau 30 năm đạt tốc độ tăng trưởng cao nhờ Đặng Tiểu Bình cải cách từ năm 1979, Trung Cộng đã bước qua hình thái kinh tế khác và không thể tiếp tục tăng trưởng trên 8% hay 9-10% như xưa. Vì vậy, yêu cầu chuyển hướng từ lượng qua phẩm với đà tăng trưởng thấp hơn là một đòi hỏi khách quan được đặt ra từ hơn năm năm trước mà vẫn chưa thể tiến hành và nay là trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo mới.
Khi có mức tăng trưởng kinh tế cao, Trung Cộng đã có thêm phương tiện đầu tư vào quân sự và trở thành một cường quốc quân sự gây e ngại cho các lân bang đang có tranh chấp về chủ quyền. Ngày nay, lãnh đạo của họ đang bị lỡ trớn vì gặp nhiều bài toán nan giải.
Việt-Long: Ông nói về các bài toán nan giải của Trung Cộng, thưa ông đấy là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thứ nhất là kinh tế bên trong có nhiều nhược điểm phải cải sửa vì thiếu cân đối, bất công và không ổn định nên chẳng vững bền. Điều này, giới lãnh đạo đã công nhận nên họ mới nói đến yêu cầu chuyển hướng, nếu không thì xứ này sẽ bị nội loạn. Chúng ta đã có nhiều chương trình đề cập đến chuyện đó nên tôi xin khỏi nhắc lại ở đây.
Thứ hai, nếu phải giảm tốc độ tăng trưởng và tìm lực đẩy ở tiêu thụ nội địa hơn là xuất khẩu và đầu tư, trong khi hệ thống ngân hàng và các địa phương mắc nợ quá nhiều mà chẳng ai biết nổi là bao nhiêu, thì Trung Cộng có thể nào gia tăng ngân sách quốc phòng như xưa hay không?
Thứ ba, nói về phẩm hơn lượng, nếu phải dồn tiền giải quyết các vấn đề chồng chất, từ xã hội đến môi sinh, thì liệu quân sự sẽ ưu tiên tới mức nào? Một thí dụ là xứ này thiếu nước ngọt, nhiều mạch nước ngầm bị ô nhiễm sau mấy chục năm khai thác một cách cẩu thả và vô ý thức và các dự án thủy lợi hay thủy điện vĩ đại của họ là những quả bom nổ chậm. Cụ thể là thành phố Thiên Tân có 13 triệu dân đã phải lọc nước biển thành nước uống và năm 2011 đã mua một nhà máy của Israel với cái giá là bốn tỷ đô la để có nước ngọt với giá thành cao gấp đôi giá bán mà họ vẫn thiếu nước. Thành phố này cần một hệ thống lọc nước tốn đến 20 tỷ đô la.
Nếu kể thêm nhu cầu của nhiều thành phố lớn như Bắc Kinh hay Thượng Hải, ta có thể suy ra số đầu tư cần thiết cho môi sinh. Khi ấy, Trung Cộng có còn dồn tiền vào chiến cụ hay quân đội chăng? Tôi nghĩ rằng nhiều phần thì họ sẽ tiếp tục như vậy và gây ra hai vấn đề song hành là khó khăn bên trong và sự nghi ngại của các nước ở bên ngoài. Nói đến bên ngoài, ta trở lại chuyện TPP.
 
Bài toán của Trung Cộng
 
image.jpg
Tổng thống Mỹ Barack Obama nâng ly cùng Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào trong một bữa ăn tối tại Tòa Bạch Ốc hôm 19/1/2011. AFP photo

Việt-Long: Trở lại hồ sơ Xuyên Thái Bình Dương, chúng ta biết là có bốn nước nguyên thủy là Brunei, Chile, New Zealand; rồi thêm Hoa Kỳ, Úc, Peru, Việt Nam từ năm 2008; sau đó có Malaysia, Mexico và Canada rồi mới đến Nhật và sau này sẽ còn vài xứ Thái Bình Dương khác. Nhưng cho đến nay, Trung Cộng chưa được mời tham gia. Liệu trong thượng đỉnh lần này giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đôi bên có thể thỏa thuận về việc đó không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta không quên là cũng như Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, xứ nào tham dự Hiệp định TPP đều phải có sự đồng ý của từng thành viên, chứ không riêng gì Hoa Kỳ. Nước Mỹ có sức nặng kinh tế và thị trường tiêu thụ lớn nhất nên sự đồng ý tất nhiên là có ảnh hưởng tới quan điểm của các nước khác, nhưng các nước kia cũng có yêu cầu của họ. Thí dụ là trước khi đặt chân tới Hoa Kỳ, ông Tập Cận Bình đã tới Mexico để chủ yếu thảo luận việc khai thông ách tắc về ngoại thương và đầu tư giữa hai nước. Trong đề mục thảo luận hôm Thứ Ba vừa qua cũng có nạn Trung Cộng vi phạm luật lệ về quyền sở hữu trí tuệ khi Mexico ra khỏi chiến lược xuất khẩu năng lượng mà trở thành một trung tâm chế biến có thể cạnh tranh với Trung Cộng không chỉ nhờ nhân công rẻ mà còn vì năng suất cao và lại tiếp cận với hai thị trường lớn ở Bắc Mỹ. Các thành viên khác cũng thế, họ đều có vấn đề với lề lối làm ăn của Trung Cộng và sẽ đòi hỏi nhiều điều kiện cải sửa khá gắt gao thì mới đồng ý.
Việt-Long: Thưa ông, chúng tôi xin đặt ngược vấn đề là cả Chủ tịch Tập Cận Bình lẫn Thủ tướng Lý Khắc Cường của Bắc Kinh đều nói đến yêu cầu tái cấu trúc kinh tế và việc cải cách đó cũng phù hợp với quy tắc tự do kinh tế của Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương. Nếu như vậy thì việc Trung Cộng gia nhập hiệp định này cũng có lợi cho nỗ lực cải cách của họ chứ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa đúng như vậy và đấy mới là điều kẹt cho lãnh đạo Bắc Kinh!
Chúng ta hãy nhìn sự thể như thế này, Hiệp định TPP sẽ kết hợp các nước Á Châu với các nước Nam Bắc Mỹ ở bên kia biển Thái Bình. Riêng khu vực Á Châu Thái Bình Dương đã quy tụ 60% sản lượng kinh tế và phân nửa số giao dịch ngoại thương của toàn cầu nên là thị trường rất lớn mà Trung Cộng không thể vắng mặt, nhất là khi đã có hai nền kinh tế hạng nhất và hạng ba là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Nhưng Hiệp định này dự trù xoá bỏ đến cả vạn điều khoản về thuế quan và gần ba chục chương trình cải cách đang được các nước liên tục đàm phán. Trong số này có vai trò của khu vực kinh tế nhà nước, có quy chế lao động và bảo vệ môi sinh hay quyền sở hữu trí tuệ, là loại vấn đề thật ra là sinh tử cho Trung Cộng vì đụng chạm vào quyền lợi của các nhóm lợi ích bên trong hệ thống kinh tế chính trị của họ. Một thí dụ khác là chế độ kiểm soát ngoại hối của Bắc Kinh với cách duy trì đồng Nguyên quá thấp nhờ ràng giá vào đô la Mỹ.
Nếu Trung Cộng muốn trở thành cường quốc có trách nhiệm và trao đổi tự do với các nước thì việc tham gia vào một hiệp định chiến lược về kinh tế và về nhiều mặt khác là điều có lợi cho mọi người. Nhưng nếu tham gia thì phải cải cách mạnh hơn và đấy mới là vấn đề cho Bắc Kinh.
Việt-Long: Nếu như vậy và nhìn từ giác độ của lãnh đạo Bắc Kinh, sáng kiến về hiệp định Xuyên Thái Bình Dương TPP có là một phần của chiến lược be bờ ngăn cản Trung Cộng không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta không quên rằng sáng kiến này xuất phát từ bốn nước nhỏ tại vành cung Thái Bình Dương và chỉ có sự tham dự của nước Mỹ từ năm 2008 với tầm ảnh hưởng mở rộng hơn một thỏa thuận về mậu dịch. Sau đó, các nước khác như Canada, Mexico hay Nhật Bản mới cân nhắc lợi hại, là muốn có lợi thì phải cải cách và ra khỏi lối suy tính bảo hộ ở  bên trong.
Ban đầu thì lãnh đạo Bắc Kinh có thể bị tự kỷ ám thị và bệnh "tự bế" hay "autistic" vì cái nhìn thiên lệch về thế giới bên ngoài nên cho rằng đó là âm mưu be bờ hay vây hãm của Hoa Kỳ. Họ không thấy là chính sự bành trướng ảnh hưởng quân sự và uy hiếp xứ khác mới gây phản ứng ngược từ một chuỗi quốc gia lân bang, khi Hoa Kỳ còn bận tâm về chuyện khủng bố. Ngày nay, khi nước Mỹ cố rút chân khỏi hậu quả đắt đỏ của cuộc chiến chống khủng bố và chú ý hơn đến Á Châu thì đã có sự hưởng ứng và kêu gọi của các quốc gia nói trên, từ Nhật Bản qua nhiều nước ASEAN đến Úc và Ấn Độ. Sự hưởng ứng này đến từ các nước chứ không do Hoa Kỳ vận động. Trong khung cảnh đó, Hiệp định TPP là một mặt thiết thực của quan hệ quốc tế dựa trên quyền lợi kinh tế và nếu thấy có lợi thì tham gia mà muốn tham gia thì phải cải cách.
Việt-Long: Kết luận của ông về hồ sơ TPP này là gì đặt trong mối quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi trộm nghĩ là Bắc Kinh mắc bẫy do chính họ giăng ra cho các nước.
Dù bên trong gặp nhiều trở lực khi cần tái cơ cấu kinh tế, lãnh đạo của họ vẫn cứ tuyên truyền về thiện chí hợp tác kinh tế một cách hòa bình tử tế với các nước. Bây giờ, hiệp định TPP là cơ hội chứng tỏ sự thành tâm cải cách và làm ăn tử tế với các nước. Hoa Kỳ có thể lờ hẳn các vụ hăm dọa hay ăn cắp kỹ thuật mà nhũn nhặn đề nghị tham dự kế hoạch TPP khiến Trung Cộng thay đổi mà khỏi bị mang tiếng có ý đồ bao vây hay có âm mưu gọi là "diễn biến hòa bình". Ta nên theo dõi chuyện đó mà suy ngẫm về cách hành xử của Việt Nam.
Việt-Long: Chúng tôi cũng mong bàn luận về Việt Nam trong bối cảnh tương tự trong một kỳ phát thanh sau này. Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Thursday, June 6, 2013

CÁI HOANG TƯỞNG CỦA CHÚNG TA


CÁI HOANG TƯỞNG CỦA CHÚNG TA

Thứ năm, ngày 24 tháng một năm 2013

Bạn Xuân Phong vừa gởi đến một bài viết ký tên tác giả là Metamorph với nhận xét kèm theo là một bài rất hay nên đọc. Tôi đọc xong và thấy thấm thía đúng như nhận xét của bạn Xuân Phong. Đọc bài nầy thì cũng nên xem tiếp bài dưới đây trên trang của Thùy Linh: BỘ PHIM VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM BỊ GIẤU KÍN  “Tôi căm thù tất cả những gì mà người Mỹ đã gây ra cho đất nước Việt Nam nhưng dần dần tôi đã hiểu ra một sự thật rằng Mỹ không phải là người khởi sự cuộc chiến đó. Người khởi sự cuộc chiến đó chính lại là chính quyền mà chúng ta đã bỏ mồ hôi, xương máu dựng nên… Nếu chính quyền Miền Bắc, chính quyền của chúng ta không bị sự thúc đẩy của chính quyền Bắc Kinh để gây ra cuộc chiến tranh thì dân tộc Việt Nam đỡ được bao đau khổ, mất mát”.

Ôn cố: Cái hoang tưởng của chúng ta

Mỗi khi gặp chuyện gì khó khăn, chúng ta thường mang cái quá khứ oanh liệt ra để tự ru ngủ, mong cái men chiến thắng của cha ông thành liều thuốc an thần trấn áp đi cái bất định, cái nan giải hiện tại. Chúng ta từ khước một đặc điểm sinh tồn cốt yếu: học từ thất bại quá khứ để xác định bước đi hiện tại sao cho dẫn đến thành công tương lai. Chúng ta nhắc đến cái chiến thắng giặc Hán, Pháp Mỹ mỗi ngày nhưng chúng ta tuyệt nhiên không hề nhắc đến cái nạn đói 1975-1990 do sai lầm của chúng ta, một nạn đói có thể tránh được nếu chúng ta đừng quá say mê với chiến thắng và vì say mê với chiến thắng, chúng ta coi thường cái nguy cơ tụt hậu, nghèo đói, bị cô lập

Năm 1978 trước khi xua đại quân tiến chiếm Nam Vang, bộ ngoại giao nước ta tung ra một chiến dịch ngoại giao để lôi kéo các quốc gia lân cận để cùng nhau liên minh chống hiểm họa bành trướng Bắc Kinh, mặc dầu suốt cuộc chiến chống Mỹ, chúng ta không tiếc lời mạt sát khối liên Minh Đông Nam Á là sản phẩm của chính sách gây hấn và can thiệp của đế quốc Mỹ. Tháng 6 năm 1978, khi Việt Nam bắt đầu oanh tạc Cambodia, Phan Hiền sang Mã Lai tuyên bố ủng hộ một Đông Nam Á hòa bình và trung lập. Sau đó vào tháng 9 năm đó Thủ Tướng (csVN) Phạm Văn Đồng sang Mã Lai đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Mã đã hy sinh vì chống …Mã Cộng. Thêm vào đó, ông còn xin lỗi các lãnh đạo Mã Lai vì trót lỡ viện trợ vũ khí cho phiến quân Mã Cộng vì “hiểu sai tình hình” (flawed understanding of the situation). Sang Băng Cốc, Thái Lan, thủ tướng Phạm Văn Đồng cam kết không yểm trợ bọn Thái Cộng CPT (Communist Party of Thailand) vốn bị hiến pháp Thái Lan đặt ngoài vòng pháp luật. Lãnh đạo Việt Nam chỉ muốn ký kết một hiệp ước hữu nghị và hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á để chuẩn bị cho một hàng cừ hay bờ đê ngăn chận cơn lũ bành trướng Bắc Kinh

Đồng thời cách nửa vòng Trái đất, ở Nữu Ước, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng thúc đẩy nỗ lực bình thường hóa ngoại giao với Mỹ. Lần này, chúng ta không đặt điều kiện bồi thường 3 tỉ mà Nixon đã hứa ở hiệp định Paris 1972. (Nguồn Brother Enemy của Nayan Chanda.)

Như chúng ta đã biết, tất cả đều vô ích. Liên Minh Đông Nam Á từ lâu bị ám ảnh một Việt Nam hung hãn, quyết làm một mũi nhọn xung kích của thế lực Cộng Sản đều lịch sự từ chối “lòng tốt” của chúng ta và Mỹ sau khi tiếp Đặng Tiểu Bình, cũng lịch sự gác lại chuyện bình thường hóa ngoại giao với Việt Nam và không hứa ngày đàm phán lại vấn đề đó.

Kết quả là chúng ta sa lầy ở Cambodia suốt 10 năm và đói nghèo suốt 15 năm. Quan trọng hơn, chúng ta khựng lại trong khi các quốc gia láng giềng tiến bộ vượt bực về khoa học, kỹ thuật, giáo dục, xã hội, kinh tế…Chúng ta quay về thời xe hơi chạy than, xe bò, ăn bo bo, mặc quần áo vá, dùng phân xanh như thời trung cổ.

Chúng ta dường như cấm kỵ không hề nhắc đến cái thất bại có thể tránh được đó chỉ vì hội chứng say sưa với chiến thắng. Thắng đế quốc Mỹ ta có thể lướt thắng được mọi thứ khác. Chúng ta hoang tưởng rằng cả thế giới đều ngưỡng mộ chúng ta và cả thế giới cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ. Với Mỹ, họ là kẻ thua họ phải “bồi thường” mới hòng được chúng ta chìa tay cho mà bắt. Với Đông Nam Á, một Việt Nam với hơn 8 quân đoàn sát bên nách đáng gờm hơn là cái hiểm họa bành trướng từ Bắc Kinh xa vời vợi. Nếu chúng ta hồi tưởng lại, việc tiếp tế cho phiến quân Mã cộng, Thái cộng không thể khôi phục được lòng tin của các quốc gia Đông Nam Á bằng một vài cử chỉ ngoại giao thân thiện. Xét cho cùng, ta vẫn có thể chiến thắng Mỹ mà không cần phải thù nghịch với các quốc gia Đông Nam Á vì họ thủy chung không tiếp tay với Mỹ trong cuộc chiến ngoại trừ Thái Lan (cho mướn căn cứ Utapao) và Nam Hàn (Nam Hàn gửi quân tham chiến nhưng Nam Hàn không thuộc Đông Nam Á).

Ta học được điều gì nếu chúng ta thực sự muốn học? Không nên có nhiều kẻ thù không cần thiết và tuyệt đối không hoang tưởng ta quan trọng tới mức họ cần ta hơn ta cần họ.

Tri tân: Lại hoang tưởng Mỹ cần Biển Đông hơn ta cần Biển Đông.

Đệ nhị thế chiến có một nguyên nhân kinh tế và sâu xa hơn, một nhu cầu thời đại. Đó là có vài cường quốc muốn xóa mọi trật tự thế giới để mong có phần của mình trong bối cảnh mới. Cách mạng khoa học kỹ thuật trên nền tảng Newton đã phát sinh động cơ nổ kéo các toa xe lửa, xe hơi, tàu bè và máy bay. Từ đấy các quốc gia tiên tiến tìm kiếm, bòn rút các thuộc địa nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên liệu, nguyên liệu cho kỹ thuật. Đức, Ý, Nhật là những cường quốc chậm chân không có thuộc địa để phát triển và tận dụng khoa học kỹ thuật mới. Lấy đâu ra cao su làm vỏ xe hơi? Xăng dầu? Sắt thép? So với các cường quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… thì Đức, Ý, Nhật mạnh hơn nhưng không có tương lai vì không có nguyên liệu lấy từ các thuộc địa. Họ muốn xóa bỏ mọi trật tự cũ hòng mong thế giới chia cho mình cái phần mình đáng được hưởng. Đức tiến chiếm Âu Châu. Không chịu kém, Nhật tiến chiếm Á châu và thế chiến bùng nổ để khởi đầu cho một trật tự mới mà trong đó, các cường quốc nào cảm thấy mình chịu thiệt, phải chiến đấu giành bằng được cái phần mà họ cho rằng mình đáng được hưởng.

Trung Quốc chẳng học được điều gì cả. Họ cần con đường chuyên chở nhiên liệu từ Trung Đông mà họ cho rằng với vị thế của họ hiện nay, họ đáng được hưởng. Tham vọng của họ xuyên suốt từ Bắc Kinh vòng qua eo Malacca, băng qua Ấn Độ vào Trung Đông chứ không chỉ ngừng lại sau khi chiếm trọn biển Đông Việt Nam. Không may cho ta, Việt Nam là mục đích đầu tiên trong cuồng vọng chiếm lĩnh cái hải trình năng lượng đó.Trung Quốc sai ở chỗ nó không tự lượng sức. Thời đệ nhị thế chiến, hải quân hoàng gia Nhật có 20 hàng không mẫu hạm

 (http://en.wikipedia.org/wiki/Imperial_Japanese_Navy_of_World_War_II)và vẫn thảm bại trước hạm đội 7 Mỹ. Ngày nay Trung Quốc mua được một tàu phế thải, vá víu sửa chữa cho giống một mẫu hạm rồi tập tành chinh phục thế giới. Không cần là một chuyên gia quân sự, ai cũng có thể nhận thấy Trung Quốc phải cần ít nhất 20 mẩu hạm để có thể uy hiếp Nhật, 20 nữa để có thể uy hiếp Ấn và không biết bao nhiêu nữa mới có thể uy hiếp Nga hay Mỹ. Năm xưa Sô Viết sa lầy ở Afghanistan và Cambodia (tiếng rằng Việt Nam sa lầy nhưng chỉ tổn thất nhân mạng, thục ra Sô Viết sa lầy vì phải chi viện đạn, xăng, khí cụ cho Việt Nam) 10 năm sa lầy khiến Sô Viết không dẫy mà chết. Để làm chủ hành lang năng lượng, với bao nhiêu mẫu hạm và nguy cơ đối đầu với một siêu cường có thể sản suất ra một số lượng mẫu hạm không thể ước tính nổi là Mỹ, bao lâu thì Trung Quốc không dãy mà chết? Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột. Ở vị thế siêu cường số 2, Trung Quốc không muốn thi gan một mất một còn với ai, mà chỉ muốn áp đảo những kẻ không thể tự bảo vệ. Vâng. Nếu Meta là thằng nhà giàu số 2 còn hơn làm thằng nghèo sặc máu hạng bét nếu thua trận. Tốt nhất chỉ nên bắt nạt thằng không thể tự vệ.

Không may Việt Nam ta là thằng không thể tự vệ. Đúng hơn chúng ta là thằng tự xua đuổi đồng minh nên không thể tự vệ. Mới đây một đại tá Việt Nam ông Trần Đăng Thanh, Phó giáo sư tiến sĩ Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng đã nói: “Nước Mỹ chẳng bao giờ tốt với chúng ta, chỉ có Trung Quốc tốt với chúng ta.” Câu này thật là tai hại.Các tay yêu nước kiểu loa phường thường đòi “bằng chứng đâu?”, “sai chỗ nào?” mỗi khi chúng ta vấp phải những sai lầm chí tử. Thậm chí có bác còn chống chế: “Ứng khẩu nói không thể chính xác như đã soạn trước rồi đọc” khi thấy ông đại tá nói sai be bét. Như chúng ta biết, một giáo viên cấp cơ sở cũng ứng khẩu chứ có ai giảng bài mà đọc từ giấy đâu mà chẳng bao giờ sai. Cái này rõ ràng trình độ ông đại tá có vấn đề. Thì tiện đây, Meta xin phân tích cái tai hại của ông đại tá.

Vẫn là hoang tưởng rằng Mỹ là bọn thèm Biển Đông hơn chúng ta thèm Biển Đông. Từ lâu chúng ta yên chí rằng chỉ cần búng tay một cái, Mỹ sẵn sàng lao vào lửa đạn bảo vệ chúng ta trong khi đó chúng ta vẫn sa sả chửi rủa Mỹ. Chúng ta yên chí rằng Mỹ là cỗ máy chiến tranh luôn sẵn sàng chờ lịnh ta để khai hỏa. Làm như cái “lịnh ta” là một ơn huệ hay một vinh dự chúng ta ban cho Mỹ vậy. Tệ hơn nữa, chúng ta chẳng bao giờ thèm tìm hiểu xem tại sao ta có được mỗi năm 100 tỉ tiền đầu tư FDI để phát triển kinh tế. Ta cũng không mảy may lo ngại từ nay cái FDI đó sẽ chuyển hướng sang Miến Điện, nơi thỉnh thoảng không có những trò bẽ mặt như công an quăng nhà ngoại giao Mỹ lên xe cây, làm ngơ khi tổng thống Mỹ xin ân xá cho một vài người phạm tội rất nhẹ và mới đây, qua miệng một đại tá thuộc bộ Quốc Phòng nói thẳng Mỹ luôn luôn có tâm địa xấu với Việt Nam. Vâng điều này vẫn có thể là chủ trương của chính phủ vì nỗi sợ canh cánh những cuộc cách mạng hoa hồng khắp nơi nhưng nói toạc ra điều này nó chặn đứng ngay tức khắc bao nhiệu nguồn trợ giúp đang xúc tiến và sẽ thục hiện giữa 2 nước. Hãy giả thử một mai Trung Quốc nuốt gọn Biển Đông, Mỹ phải làm sao khi “người ta” đã nói thẳng “mày không bao giờ tử tế”? Một kẻ có chút liêm sỉ sẽ không xăn tay áo giúp đỡ ta một khi ta từng mắng mỏ và từ chối mọi hảo tâm của nó.

Hãy đặt mình vào não trạng một người bị cự tuyệt để suy luận phản ứng của họ trong tình huống khẩn thiết nhất. Năm 1975 Mỹ bỏ Nam Việt Nam được thì Mỹ bỏ Biển Đông năm 2012 được. Đối với Mỹ, 1 nước Cộng Sản kéo dài từ Yên Kinh tới Côn Minh hay kéo dài tới Cà Mau (trường hợp Trung Quốc nuốt gọn Việt Nam) cũng vẫn là 1 nước cộng sản, chẳng qua là 1 nước Cộng sản dài hơn 1 chút xíu. Nói khác đi, một Việt Nam do Tập Cận Bình lãnh đạo cũng chẳng khác gì một Việt Nam do Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo. Mỹ chỉ quan tâm nếu Việt Nam lột xác thay đổi như kiểu Miến điện thôi. Ngoài ra Cộng Sản nào cũng rứa. Điều đáng lẽ chỉ nên giấu kín trong bụng nay đã lỡ nói toạc ra rồi thì Mỹ không còn lý do gì lưu luyến nữa cả. Từ nay khỏi phải nói về nhân quyền nữa để khỏi bị cái sượng sùng của tình cảnh nước đổ đầu vịt, về tham nhũng để khỏi phải kinh doanh ở một nơi vô luật lệ, về dân chủ để khỏi bị lên án là phá hoại, ác ý.

Việt Nam và Phi Luật Tân cách nhau một chuỗi đảo là Hoàng Sa và Trường Sa. Có 2 con đường hàng hải đi qua Biển Đông là Tây Trường Sa và Đông Trường Sa. Nếu Việt Nam tỏ ý không cần Biển Đông bằng Mỹ cần Biển Đông thì từ nay Mỹ sẽ bỏ Biển Đông như đã bỏ Nam Việt Nam năm 1975. Lịch sử cho thấy mất Sài Gòn không kéo theo mất Mã Lai, Thái Lan, Singapore như chủ thuyết Domino tiên đoán thì mất tây Biển Đông cũng không có nghĩa mất con đường hàng hải phía bên kia Trường Sa phía Phi Luật Tân. Mỹ chỉ cần bảo vệ Mã Lai, Phi Luật Tân, Nhật và các đồng minh khác, những đồng minh chưa bao giờ phát biểu: “Mỹ luôn là kẻ có tâm địa xấu”, dù trong thâm tâm cũng có các quốc gia Đông Nam Á nghĩ như vậy.

Trong lịch sử cận đại và hiện đại, dân tộc chúng ta hứng chịu nhiều cái sai lầm của lãnh đạo nhưng mặc cảm tự ti hóa trang thành tự tôn làm chúng ta không lãnh hội được gì cả.Một chủng loài sẽ đi về đâu khi không thể sửa sai? Một thửa ruộng sẽ cho nhiều lúa hơn nếu chúng ta biết và muốn triệt cỏ năn. Củ năn cũng ngon ra phết. Phải ăn năn đã thì không sợ thiếu lúa.

Meta
Hà Nội.


[CONFIDENTIALITY AND PRIVACY NOTICE]

Information transmitted by this email is proprietary to Medtronic and is intended for use only by the individual or entity to which it is addressed, and may contain information that is private, privileged, confidential or exempt from disclosure under applicable law. If you are not the intended recipient or it appears that this mail has been forwarded to you without proper authority, you are notified that any use or dissemination of this information in any manner is strictly prohibited. In such cases, please delete this mail from your records.

To view this notice in other languages you can either select the following link or manually copy and paste the link into the address bar of a web browser: http://emaildisclaimer.medtronic.com

Sunday, June 2, 2013

Area 51: Căn cứ quân http://www1.vietinfo.eu/tin-the-gioi/area-51-can-cu-quan-su-tuyet-mat-cua-hoa-ky-1.htmlsự tuyệt mật của Hoa Kỳ (1)

Area 51: Căn cứ quân tuyệt mật của Hoa Kỳ

05-05-2013 17:47:32 (GMT+1)



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cách 100 km về phía Bắc của thành phố Las Vegas, Nevada tồn tại một căn cứ quân sự bí ẩn nhất trên Thế giới. Xung quanh căn cứ bí mật này là không ít những tin đồn về những vũ khí mà Mỹ thử nghiệm cùng với những nghiên cứu về người ngoài hành tinh, tuy nhiên sự thật về nó thì ít ai biết đến.

Mặc dù được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng căn cứ quân sự này đã được Ủy ban Năng lượng nguyên tử (AEC) chỉ định với cái tên Area 51.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 1
Có nhiều giả thuyết về cái tên Area 51, một giả thuyết được biết đến nhiều nhất là do Area 51 nằm ngay cạnh khu vực thử nghiệm Nevada (NTS). AEC sử dụng NTS như một bải thử nghiệm hạt nhân. Khu vực NTS được đánh dấu thành các khu vực từ 1 đến 30, trong khi đó Area 51 nằm ngay cạnh khu vực 15. Do đó AEC đã đảo hai chữ số 1 và 5 để đặt tên cho căn cứ tuyệt mật này.
 
Mặc dù Area 51 là cái tên rất nổi tiếng và thu hút được không ít sự quan tâm của cả Thế giới, tuy nhiên những gì thực sự diễn ra bên trong, những bí mật mà căn cứ này ẩn giấu lại là điều không phải ai cũng biết. Vậy sự thực là như thế nào, tại sao chính phủ Mỹ phải phủ nhận sự tồn tại của Area 51 cho tới tận năm 1990? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua bài viết này.
 
1. Vị trí của Area 51
 
Căn cứ Area 51 nằm tại tọa độ 37°14' vĩ Bắc và 115°48' kinh Đông, bạn có thể dễ dàng tìm được vị trí của Area 51 với Google Earth. Căn cứ này nằm dưới một đáy hồ đã cạn có tên là Groom Lake, tiếp giáp với khu vực thử nghiệm NTS của AEC. Toàn bộ khu vực này có diện tích lên đến 90.000 mẫu Anh (tương đương khoảng 360 km2), tuy nhiên căn cứ chính chỉ chiếm một phần nhỏ. Một số giả thuyết cho rằng những gì chúng ta có thể thấy trên bề mặt chỉ là một phần rất nhỏ của căn cứ quân sự bí mật này.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 2
Nhiều người tin rằng bên dưới Area 51 là cả một công trình đồ sộ với 40 tầng hầm khác nhau, được kết nối thông qua hệ thống tàu điện ngầm dẫn đến cả Los Alamos , White Sands và Los Angeles. Tuy nhiên tin đồn này cũng bị bác bỏ, do việc xây dựng cả một mê cung khổng lồ không phải việc đơn giản, cần số lượng nhân công khổng lồ, chưa kể đất đá và vật liệu xây dựng, không dễ dàng giữ kín những bí mật đó trong thời gian dài xây dựng.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 3
Do đó căn cứ Area 51 thực sự chỉ bao gồm một nhà chứa máy bay, một đường băng, các văn phòng, nơi chú ẩn và hệ thống bảo vệ xung quanh. Tuy vậy những gì diễn ra bên trong căn cứ ấy lại là điều mà ít ai biết.
 
2. Khu vực an ninh và bí mật nhất thế giới
 
Sự tồn tại của Area 51 được chính phủ Mỹ giấu kín cho đến tận năm 1990, và ngay cả sau này những thông tin chính thức về khu căn cứ quân sự vẫn là tuyệt mật, những gì người ta biết về nó hầu hết chỉ là những tin đồn đại. Cả căn cứ và các hoạt động bên trong được AEC coi là tuyệt mật. Việc ra vào khu căn cứ bị kiểm soát và quản lý vô cùng nghiêm ngặt, ngay cả máy bay quân sự cũng không được phép bay qua không phận của Area 51. Xung quanh Area 51 là vùng sa mạc trống trải, khiến bất kỳ hành động tiếp cận nào cũng dễ dàng bị phát hiện, chưa kể đến sự giám sát của các đài radar được đặt rải rác trong khu vực.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 4
Trong rất nhiều năm trước đây, Area 51 không hề tồn tại trên bất cứ loại bản đồ nào, mà chỉ hiển thị như một khu vực nằm trong phạm vi quản lý của không quân, tuy nhiên các con đường dẫn vào căn cứ hoàn toàn được giấu kín. Trong những năm gần đây, vị trí chính xác của Area 51 mới được công bố, tuy nhiên cách duy nhất bạn có thể quan sát được căn cứ là leo lên đỉnh Tikaboo (cách 26 km từ căn cứ chính).
 
Để đảm bảo tính tuyệt mật, tất cả những người làm việc trong căn cứ, kể cả quân đội hay dân sự đều phải ký bản cam kết giữ kín tất cả bí mật về hoạt động của căn cứ. Các hoạt động bên trong cũng được đảm bảo tính tuyệt mật, các nhóm làm việc trong một dự án sẽ không được phép biết đến các hoạt động khác trong căn cứ, cũng như không được phép liên lạc với bên ngoài, cho đến khi dự án đó được hoàn tất. Cách duy nhất để đến được Area 51 là bằng các chuyến bay được đánh dấu đặc biệt của nhà thầu Quốc phòng EG&G, từ LasVegas. Ngoài ra, bất kỳ việc xâm phạm không phận của Area 51 (kể cả máy bay quân sự) đều bị coi là hành vi phạm tội quân sự nghiêm trọng.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 5
Biên giới của Area 51 không có hàng rào bảo vệ, tuy nhiên được đánh dấu bằng các cột mốc màu cam và dấu hiện cảnh báo. Mọi hành vi cố ý xâm phạm đều bị xét vào tội phạm quân sự, và quân đội của Area 51 có thể được sử dụng vũ lực để ngăn cản. Các biện pháp an ninh khác bao gồm tuần tra bằng xe và trực thăng, các cảm biến rải rác khắp khu vực. Có nhiều thông tin cho rằng các cảm biến này có thể phát hiện chuyển động và phân biệt được con người và loài vật.
 
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 6
Area 51 và các hoạt động bên trong là tuyệt mật, được phân cấp bảo mật một cách đặc biệt. Ngay cả những người của chính phủ được cấp phép cao nhất cũng chỉ được phép biết đến những hoạt động có liên quan, khác với những gì chúng ta thường thấy trong các bộ phim. Các dự án là hoàn toàn tách biệt với nhau, ngay cả quan chức cấp cao khi được cấp thông tin hoặc tham gia một dự án nào đó, anh ta sẽ hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của các dự án còn lại. Tiếp theo chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những gì đã và đang diễn ra trong căn cứ Area 51.
 
3. Hoạt động nghiên cứu máy bay bí mật
 
Ban đầu, mục đích chính của Area 51 là nghiên cứu và phát triển các dự án máy bay quân sự bí mật của Mỹ. Trong đó có các mẫu máy bay do thám U2, A12 và các mẫu máy bay tàng hình. Trong đó, dự án máy bay do thám U2 đã được xác nhận bởi CIA. Đây là một dự án hợp tác bởi CIA và hãng chế tạo Lockheed để phát triển một loại máy bay do thám không người lái có tầm bay cao, có nhiệm vụ trinh sát trên không phận của các quốc gia khác.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 7
Sau dự án U2, các kỹ sư tại Area 51 đã bí mật tiếp tục nghiên cứu và chế tạo phiên bản thứ hai, có tên là Suntan. Suntan sử dụng nguyên liệu là hydro lỏng, cho tốc độ mach 2,5 (khoảng 3.200 km/h). Tuy nhiên sau khi đưa vào sử dụng một thời gian, dự án đã bị hủy bỏ do chi phí cho nguyên liệu hydro lỏng là quá cao và không phù hợp với tình hình thực tế.
 
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 8 
Dự án tiếp theo được nghiên cứu tại Area 51 là mẫu máy bay A12, tiền thân của SR-71 "Blackbird" hiện nay. Với tốc độ bay lên đến Mach 3 và trần bay 27 km, khiến chiếc Blackbird là một trong những máy bay trinh sát hiệu quả nhất, mặc dù nó không có chức năng loại bỏ sóng radar như các máy bay tàng hình.
 
Area 51 chính là nơi mà Mỹ nghiên cứu và chế tạo những chiếc máy bay tàng hình đầu tiên, đó chính là hai chiếc máy bay Tacit Blue và Have Blue. Have Blue chính là nguyên mẫu của chiếc máy bay chiến đấu tàng hình F117 sau này. Các dự án phát triển máy bay chiến đấu tàng hình được Mỹ giữ kín cho đên tận những năm 90.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 9
Bên cạnh các dự án trên, có nhiều thông tin cho rằng Mỹ đang tiếp tục nghiên cứu mẫu máy bay không người lái hoàn toàn mới, có tên gọi TR3A Black Manta. Với các mẫu UAV mới có khả năng chiến đấu, sẽ giúp giảm thương vong cho quân lính trong các trận chiến, đây đang là xu thế phát triển trong quân sự trên toàn thế giới.
Ngoài những dự án được xác nhận là có thật tại Area 51, có rất nhiều tin đồn về những vũ khí bí mật được Mỹ nghiên cứu tại đây, tuy nhiên không có thông tin chính thức nào. Trong đó có dự án Aurora, nghiên cứu loại máy bay phản lực siêu thanh có thể đạt tốc độ Mach 6. Bên cạnh đó là một dự án phát triển loại máy bay vận tải khổng lồ có khả năng tàng hình, giúp vận chuyển quân đội và vũ khí vào vùng có chiến sự mà không bị phát hiện.
Area 51 (Phần I) - Căn cứ quân sự tuyệt mật của Hoa Kỳ 10
Trong khi hầu hết các máy bay tàng hình hiện nay là loại trinh sát và chỉ có khả năng không đối không. Một dự án khác nghiên cứu máy bay trực thăng tàng hình, tăng khả năng cơ động ở những đô thị hay vùng rừng núi và nhằm đối phó với các mục tiêu trên mặt đất hiệu quả hơn.
 
Tuy nhiên điều khiến Area 51 trở thành trung tâm của sự chú ý không phải là các dự án quân sự của Mỹ tại đây, mà chính là các nghiên cứu về người ngoài hành tình và UFO. Mặc dù chính phủ đã cố gắng giữ kín các bí mật, nhưng đã có rất nhiều thông tin về các nghiên cứu cũng như sự xuất hiện của UFO tại căn cứ bí mật này. Trong phần hai của bài viết, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tiếp những bí ẩn về người ngoài hành tinh và UFO, liệu những nghiên cứu và phát hiện tại Area 51 có phải là sự thật hay tất cả chỉ là tin đồn để che đậy những bí mật khác ?
 
(Còn tiếp ...)
Nguồn: Genk





The Real Miss America

The Real Miss America
 
Thìs is a my kind of  "DAUGHTER". I am a former South Viet Nam Air Force Pilot, if the lady happen to go by Westminster, California (Little Saigon); please do contact me. I shall be your guide in this area.
Ngoc Van Tran 
9922 Beechwood Circle
Westminster, CA. 92683
714-580-4122 (C)
Ps: We should all adopt her as our daughter; so anywhere, in U.S.A., she go she should have a family. 

 
This 19 year old ex-cheerleader
(now an Air Force Security Forces Sniper)
was watching a road in Pakistan that led to a NATO military base
when she observed a man digging by the road.
She engaged the target (she shot him).
It turned out he was a bomb maker for the Taliban,
and he was burying an IED that was to be detonated
when a U.S. patrol walked by 30 minutes later.
It would have certainly killed and wounded several soldiers.
The interesting fact of this story is
the shot was measured at 725 yards.
She shot him as he was bent over burying the bomb.
The shot went through his rectum and into the bomb which detonated;
he was blown to pieces.
The Air Force made a motivational poster of her.
(Folks, that's a shot 25 yards longer than seven football fields)
and the last thing that came out of his mouth
was his ass!
If You Can Not Stand Behind Our Troops,
please feel Free to Stand In Front of Them!
If you agree with this email, send it on!
Remember Freedom is a great thing!!! 

Saturday, June 1, 2013

Người con nào thì cũng thương mẹ

Người con nào thì cũng thương mẹ
 
Bài ca của người du tử
Tác Giả : Thái Phương
 
Tôi đậu cử nhân Luật năm 1971. Ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư khá nổi tiếng bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Ðình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật. Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận luật sư chính thức, cho phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.

Chưa đầy một năm sau thì tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến, chúng tôi dịch phụ. Tiền bạc trung tâm tính toán rất tốt nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.

May sao thời kỳ mở cửa, nhờ chút ngoại ngữ tôi nộp đơn xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng. Tôi giữ chân tiếp đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ muốn dùng, báo cho nhà bếp biết rồi các cô tiếp viên bưng ra. Tiền lương đỡ lắm, đã vậy mà mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.

Một hôm ông giám đốc khách sạn cho người gọi tôi lên văn phòng ở trên lầu. Ông chỉ chiếc ghế trước mặt trong căn phòng lạnh bảo tôi ngồi rồi cầm gói thuốc ba số năm trên bàn mời tôi hút:

- Anh quản lý nói anh biết nói tiếng Nhật ?
- Vâng. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ vài năm, giao dịch cũng đỡ nhưng bỏ lâu không xài nên đã quên nhiều.
- Bây giờ còn sử dụng được chứ ?
- Vâng, có lẽ tạm được.
- Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ...

Ông ngắt ngang câu chuyện, với tay lên chiếc giá ở phía bên cạnh lấy hai chiếc cốc cao cẳng bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đặt trước mặt tôi một ly: Mời anh !

- Xin cám ơn ông giám đốc.
- Cứ uống đi mà. Chúng ta làm hết chai này, vừa uống vừa nói chuyện...

Ông này là tay sành sỏi, điệu nghệ. Bây giờ ông mới mở cái món bài tủ là rút trong ngăn kéo ra một gói Dunhill 'black label' mới tinh còn nguyên xi chưa bóc giấy bóng, gỡ giấy kiếng, bảo tôi dụi điếu thuốc 'ba số' vào chiếc gạt tàn rồi lịch sự cầm cả gói chìa về phía tôi, mời tôi hút.

- Champagne Pháp phải đi đôi với thuốc Ăng-lê mới tốt !
- Vâng, thưa ông giám đốc.
- Nào, mời anh !
- Không dám, mời ông giám đốc.

Chúng tôi nâng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù loại 'chính hiệu' của Pháp hoặc thuốc lá Dunhill 'black label' đi nữa đối với một luật sư như tôi cũng đâu có lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột! Nhưng cũng sờ sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới 'ưu ái' với tôi đến thế !

- Bên công ty du lịch họ báo cho chúng ta biết khách sạn chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng về các máy móc điện tử hay chế tạo linh kiện điện tử gì đó tôi không biết rõ. Họ nhờ chúng ta... Nói thật ra là họ chỉ thị chúng ta phải biệt đãi với khách. Phải dùng mọi cách làm thế nào khách được vừa lòng.
- Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi hết sức lịch sự vói mọi khách hàng.
- Ðúng thế, tôi hiểu. Nhưng theo tôi biết, ông giám đốc này hình như hơi già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo ông ta chỉ dùng tiếng Nhật, không dùng bất cứ một thứ tiếng nào khác. Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi tác, tính nết ông ta cố chấp, khắc khổ, không thích giao thiệp với mọi người.

Xương sống lưng tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc khách sạn đang muốn đề cập chuyện gì. Quả nhiên, ông ta kết luận: - Tôi đã bàn tính với ông quản lý. Trường hợp này ta phải dùng tới một người tương đối lớn tuổi, có căn bản học vấn - nghĩa là dùng người trí thức đàng hoàng chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc vài nhân viên thông dịch tiếng Anh tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ ?
Ðồng ý cái khỉ khô! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với không đồng ý.

- Thưa ông giám đốc, tôi nghĩ cũng đúng.
- Xét trong khách sạn, anh phù hợp với các điều kiện đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác mới giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn có hoa hồng riêng cho anh mà bên đầu tư cũng có phần thưởng. Họ hứa như vậy. Còn nếu không tranh thủ được...

Ông ta bỏ lửng song tôi hiểu. Có thưởng thì phải có phạt. Nếu tôi loạng quạng, không làm nên cơm cháo sẽ bị mất việc, ở nhà nấu cho vợ dễ như chơi. Tình hình như vậy, biết nói cách nào bây giờ ?

- Thưa ông giám đốc, tôi không giám nghĩ tới việc được thưởng nhưng sợ tiếng Nhật lâu không xài, tôi quên mất nhiều...
- Ðược, nhớ tới đâu dùng tới đó. Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân trông coi việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện, kể cả tài xế và nhân viên khuân vác hành lý cho khách nếu cần. Dứt khoác chúng ta phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.
- Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.

Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, lục các giấy tờ trên bàn: - À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms... Quái, cái giấy tôi bỏ đâu mất rồi?.. À đây… Anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, sẵn sàng hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp. Anh đã có đồ vét, cravát... chưa nhỉ ?

- Thưa có.
- Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán bảo cô thủ quỹ tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Ðây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính vào tiền thưởng.
- Vâng, cám ơn ông giám đốc.

Tôi đi, tay cầm mảnh giấy.Kỳ lạ, tại sao ông ta lại tên Kwann Tae Palms, chẳng giống với Nhật chẳng giống với Tàu? - Riêng cái họ - Palms - thì giống với Mỹ. Theo tôi hiểu, người Nhật tên họ thường là Watanabe, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki .v.v... Ngay đến cái tên cũng khó hiểu thế chẳng trách ông ta già, khó tính, lẩm cẩm, cố chấp, chỉ nói tiếng Nhật, không thèm nói tiếng Anh tiếng Pháp. Ôi, tôi mất việc dễ như chơi!

Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng mới tinh gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Ðây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi chỉ được đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.

Sau cái liếc mắt 'ra hiệu ngầm' của cô tiếp viên phi cảng, tôi sửng sốt: ông giám đốc Nhật trông còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, nét mặt già dặn có thể nói là rất có duyên, nước da ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông nhanh nhẹn tháo vát chứ không 'một mí' như mắt người Nhật hay người Ðại Hàn. Ðặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu khách du lịch, áo sơ mi ca rô sọc chìm, quần jean, áo bỏ trong quần với sợi dây xanh tuya to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Chà chà, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già lão, 'khó tính' một chút nào hết.

Anh phụ tá đỡ giùm chiếc va ly trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là cứng đong đong như khúc gỗ bị bẻ gẫy, chắp tay trước ngực và cố 'nặn' ra từng tiếng Nhật: - Kôn ni chi wa, y ô ku i ras shai ma shi ta. Hi ji ma shi te ? (Xin kính chào ngài, chúng tôi rất vui mừng được tiếp đón ngài. Thưa ngài đi đường bình an chứ ạ?)

Ông ta ngớ người nhìn tôi, nhíu mày suy nghĩ như cố nhớ lại điều gì. Sau đó ông ta nhún vai, quyết định trao chiếc cặp Xăm-xô-nai cho cô tiếp viên xách giúp, rồi cũng chắp tay, cúi đầu thật thấp chào lại: - Kônnichiwa! Yôku irasshaima****a! (Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp gỡ ông!)

Giọng ông ta nhanh và mạnh, tất nhiên thông thạo như... tiếng mẹ đẻ chứ không ỳ ạch như tôi. Tôi đoán rằng tôi nói 'hay' quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái 'nặn' tiếp và tự giới thiệu: - Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y... y a dô zo yo ro shi ku! (Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y... rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài !)

Nét mặt ông giám đốc Nhật vui hẳn lên, ông mỉm cười nhìn tôi sau đó cũng tự giới thiệu: Watashi wa 'Kwann' desu, dôzoyoroshiku! (Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông)

Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ 'tôi' và 'chúng tôi' nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như 'irasshaima****a' và 'yoroshiku' vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa là gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ có phải là một VIP nào đâu mà ông ta nói rất sung sướng được 'cử' đến đây 'gặp' tôi? Ngoài ra tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều... bắt chước tôi y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?

Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có 'người của ta' xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác,tôi đưa tay lễphép: Kô chi ra e dô zô! (Xin mời ngài đi lối này!) Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ: - Arigatô, zogaimasu! (Vâng, xin cám ơn)

A, bây giờ thì ông ta không 'bắt chước' tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua, khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.

Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với tài xế, sau đó xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.
Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo 'vĩ đại' có vẻ suy nghĩ.. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà lớn hiện đang xây cất ở hai bên đường Nam kỳ khởi nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó thế nào so với bên Nhật.

Tôi nhẹ nhàng lấy gói ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang dấu hiệu Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách:- Ip pon i ka ga de su ka ? (Xin kính mời ngài hút thuốc ?)

Ông ta giựt mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu: - Kekhô desu, arigatô! (Không, tôi không muốn hút, xin cám ơn!) Ðoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm gói thuốc, ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:- Do you usually smoke this kind of Three Fives cigarette?

Ôi chao, vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá bèn khẽ lắc đầu, buột miệng nói như cái máy: - Oh no, sir, we don't.

Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp 'because... 'rồi cũng chẳng biết because... như thế nào nữa, bèn trả lời thành thật:- Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary, out of our ability.

Vị khách bật cười, rồi tự nhiên ông ta cười lớn khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta: 'Ồ, ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?'. Tôi lắc đầu: 'Không, tôi không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc'. Vị khách trẻ gật đầu lia lịa: 'Vâng, vâng, tôi hiểu. Tôi cũng có một vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang tặng họ'. Chà, tay này được quá, người Nhật mà biết hoàn cảnh của người Việt Nam, thỉnh thoảng gửi tiền sang tặng, thật đúng kẻ có lòng.

Xe chạy ngang qua cửa Nhà khách Thống Nhất, bên trái là Nhà thờ Ðức Bà. Vị khách ngắm nghía ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ vừa lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi tôi: 'Tôi đoán trước năm bảy lăm ông bạn là một luật sư?'. Tôi giật mình kinh ngạc: 'Vâng, trước đây tôi theo ngành luật. Nhưng tại sao ngài lại biết điều đó?'. Ông ta cười trả lời: 'Tôi biết những điều người khác không biết'.

Xe về tới đường Ðồng Khởi và từ từ táp vào lề trước khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Ðích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị quý khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất, sang trọng.

Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng nán lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi: - Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách bám sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi, tốt đẹp tôi sẽ trích số tiền hoa hồng thưởng cho cậu và cả bên công ty đầu tư nữa. Tôi không quên đâu.
- Vâng, xin cám ơn ông giám đốc.

Kể từ hôm ấy, tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi, ông ta cũng có chút biệt đãi. Mỗi lần tới công ty đầu tư hoặc thăm các cơ sở, máy móc thiết bị của người Nhật, gặp gỡ ban giám đốc các cơ quan, lẽ ra tôi phải ngồi phía sau lưng như một thông dịch viên, ông ta giới thiệu tôi là một người bạn luật sư, bảo tôi ngồi bên cạnh và luôn luôn xem xét, bàn bạc với tôi. Người nước ngoài họ khôn lắm, dưới con mắt của một luật sư, tôi thấy rõ có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực họ nhường một bước để nhảy một trăm bước. Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói rằng họ dại nhưng tôi nói họ lanh. Lanh một cách khôn ngoan vặt, tiến một bước theo kiểu 'thắng lợi tinh thần' trong A.Q. Chính Truyện của Lỗ Tấn, sau này sẽ thiệt một trăm bước hay nhiều hơn. Toàn những ông thầy dùi cấp dưới, láu cá vặt mà cứ tưởng mình thông minh làm 'cố vấn' mà thôi. Quan hệ quốc tế không thể dùng các bộ óc láu cá vặt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ. Nếu không, được lợi về sợi dây thong thì sẽ mất cả con trâu. Gặp trường hợp đó tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến. Tất cả đều biết tôi chỉ là anh bồi khách sạn, nể khách nên họ cho tôi được ngồi cùng bàn một cách khiêm tốn, tất nhiên không được quyền góp ý kiến.

Một lần thấy họ 'khôn ngoan' quá, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí - một tác phẩm cổ điển lớn của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam: Tào Tháo dàn gần một triệu quân trên sông Trường Giang định chiếm Ðông Ngô. Chu Du, đại tướng Ðông Ngô muốn dùng hỏa công để phá quân Tào nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào rời rạc, chạy kịp, đốt không hết được; bèn nhờ Bàng Thống xúi cho thuyền Tào kết lại với nhau. Giữa lúc ấy, quân Tào không quen thủy thổ, say sóng. Tào Tháo hỏi kế. Bàng Thống 'xúi khôn' là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại từng mảng, lót ván bên trên người ngựa đi được, quân sẽ hết bệnh. Tháo mừng lắm, nghe lời. Ra tới bờ sông, Thống bị một người nắm áo giữ lại: 'À anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta hết người không ai biết mưu kế của anh hay sao?' Bàng Thống giựt mình nhìn lên, thấy đó là Từ Thứ. Rồi tôi kết luận: - Ðất nào cũng có kẻ sĩ. nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua chúng tôi không được sử dụng phù hợp khả năng như bên các ông. Xin ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.

Ông ta nhíu mày: Có, tôi hiểu. Và tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn.Chúng tôi muốn làm ăn một cách cân xứng,không muốn 'đốt' ai cả. Nhưng quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt thì họ phải chịu.

Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.

Một lần khác, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko five giá bốn mươi lăm đô, tức gần năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi cười nói đùa: - Ðây là 'phần thưởng' cho sự im lặng của tôi?

Ông ta cũng cười, lắc đầu: - Không đúng. Dù không thưởng thì các ông vẫn đứng ngoài rìa, giữ vai trò của người im lặng, không cần phải thưởng.

- Vậy thì tôi đã có đồng hồ của tôi rồi.
- Nó đã cũ, nên dùng đồng hồ mới. Hãy tặng chiếc cũ cho một người bạn nào nghèo của ông nếu họ cần tới.
- Vâng, xin cám ơn, tôi sẽ làm như vậy.

Công việc ký kết hợp đồng tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì 'ứng trước' do ông giám đốc khách sạn trao. Ông bảo tiền hoa hồng dành cho tôi khá hơn, tính theo ngoại tệ, ông ứng trước một phần để tôi xây xài. Trên nguyên tắc, nếu chúng tôi giới thiệu được khách cho khách sạn thì được hưởng năm phần trăm, kêu là tiền huê hồng, tính theo tổng số tiền phòng các ngày khách đã ở trong khách sạn. Ðằng này tôi không giới thiệu nhưng ông giám đốc cũng tính theo tỷ lệ đó, coi như tiền thưởng. Làm ở những chỗ có đô la ra vô thì sướng thế đấy, toàn những món bất ngờ mà mình được hưởng chứ tôi có công gì đâu. Ðồng thời ông cũng cho tôi, biết còn hai ngày nữa, tức sáng thứ Hai, ông khách sẽ lên máy bay về nước.

Hôm đó là chiều thứ Bảy, một buổi chiều thành phố thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ và bảo tôi: - Ông bạn luật sư thân mến - ông vẫn nói tiếng Anh, không dùng tiếng Nhật - Tôi sắp về nước. Tôi nghe nói người Việt Nam có món 'thịt cầy' (dog meat) ngon lắm. Nếu ông bạn vui lòng hướng dẫn tôi đi thưởng thức được thì tôi rất lấy làm sung sướng.

Tôi ngạc nhiên trợn tròn mắt: - Dog meat? Theo.. theo ý ông nói, đó...đó là món..'Thịt của con chó ?'

Ông ta mỉm cười:- Ðúng vậy, 'thịt của con chó', nếu tôi không lầm.

Ðoạn, ông ta nói tiếp: - Theo tôi hiểu, nhà văn Trung Quốc Lin Yuyang (Lâm Ngữ Ðường) có lẽ cũng thích món 'thịt của con chó' nên ông ta viết một truyện ngắn rất nổi tiếng lấy tên 'Tướng Quân Thịt Chó', tôi có đọc qua.

Ối giời ơi, thế này thì chết. Tôi như từ trên trời rơi xuống đất. Mặc dầu gốc dân Thái bình Thái lọ, rất khoái cái món 'nai đồng quê' nhưng tôi giải thích cho ông khách oái oăm biết rằng thường thường các quán 'nai đồng quê' không phải là những nhà hàng sang trọng, nếu chúng tôi dẫn khách đến đấy, lỡ có chuyện gì xảy ra thì sẽ bị cho nghỉ việc.

- Tất nhiên, ngoài món 'dog meat', chúng tôi còn có các đặc sản khác như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn v.v... rất ngon, chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn.

Ông ta gật đầu: - Cũng được. Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi. Và tôi lái xe.
Ối giời đất ơi, lại nguy hiểm nữa. Tôi báo cáo với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu lè lưỡi: - Chết, ông ấy có biết đường đâu mà lái ? Người nước ngoài mà lái xe trên đường phố Sài Gòn thì coi như tiêu luôn sinh mạng. Thôi, ông Trình cố nói kheo khéo giành lấy tay lái.

Tôi lái xe. Ông giám đốc Nhật ngồi bên cạnh cứ tủm tỉm cười vì nghe tôi kể lại những lời của ông quản lý. Chúng tôi tới quán Thanh Sơn ở đường Nguyễn Cư Trinh. Ðây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước đây thường rất nổi tiếng với món la-de đặc - la-de ướp lạnh đến mức tự nó đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai cho chảy ra, không phải bỏ đá - và những món đặc biệt miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.

Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn gật đầu tấm tắc khen ngon thì bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số nghe tiếng nước ngoài bèn bu lại mời mua. Ông ta lấy một gói 'ba số' và đưa tờ năm đô la.

- Nô, nô, cái này năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, hổng đủ tiền thối !

Ông ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ 'thánh kiu' rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia phần bèn để cả xấp vé trước mặt ông, tý tay như nằm nửa người trên bàn mời mua bằng được. Ông lắc đầu.

- Ông này sắp về nước không mua vé số đâu em ạ.

Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm đi ngang bèn 'bợp' nhẹ cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Ối cha, lúc nó đứng dậy, khuỷu tay loạng quạng thế nào đụng phải đĩa lươn um, hất ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng nhưng bẩn. Nhòe nhoẹt. Tôi bực quá đâm gắt:

- Thấy mẹ người ta..Ðã bảo mà ! Làm thế nào bây giờ ?

Nhà hàng đem thau nước ra lau giùm. Xong, ông khách mỉm cười, im lặng ngồi hút thuốc lá. Cái mặt tôi lúc đó chắc'dễ thương'quá. Ông hỏi:

- Bạn vừa mới nói 'th-ay me' (thấy mẹ). Vậy 'th-ay me' là gì ? Một tiếng lóng hay một câu chửi ?

Trời đất, đang bực, đến bố tôi cũng không biết 'thấy mẹ' là một tiếng lóng hay một câu chửi. Tôi trả lời đại 'thấy mẹ' là... 'see mother !

Ông ta lắc đầu: - No, it isn't. In Vietnamese, 'thấy mẹ', it means...

Tôi giật mình. Hai tiếng 'thấy mẹ'ông ta phát âm tiếng Việt rất chuẩn... y như người Việt. Tôi ngạc nhiên: - Do you understand Vietnamese ?

Ông ta mỉm cười, gật đầu: - Yes, I know very well. Because...

Rồi như không nín cười được nữa, ông ta bỗng cười sằng sặc và... tuôn ra một tràng tiếng Việt pha lẫn tiếng chửi:

- Bởi vì tao là một thằng người Việt trăm phần trăm không có tí ti máu nước ngoài nào hết. Cái thằng ngốc ! Tao với mày học với nhau hằng bao nhiêu năm ở Chu Văn An mà máy không nhận ra tao. Rõ thật !...

Một tia sáng chợt thoáng qua trong óc tôi:

- Cậu... cậu là thằng Quân đen ?
- Chứ còn đứa nào vào đây nữa!
- Hèn chi...
- Hèn chi cái gì ?
- Tớ hơi ngờ ngợ, trông cậu quen quá, ngay từ lúc đầu mới gặp cậu ở chân cầu thang máy bay.Thì ra...
- Thì ra 'cố nhơn' phải không? Còn tớ, vừa trông thấy cậu tớ nhận được liền.
- Xin lỗi, tại tớ yên trí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên Kwann Tae Palms...
- Dễ lắm, cậu nhớ tên tớ là gì không ? - Phạm Thế Quân. Lúc nhập quốc tịch Mỹ tớ đùa nghịch đổi cái tên Quân Thế Phạm thành Kwann Tae Palms chơi chơi cho vui, chỉ có vậy thôi không có gì khó.
- Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật ?
- Ừ. Vợ tớ người Nhật.

Quân kể cho tôi nghe: Hồi đó học xong Kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm kỹ sư công chánh tại một tỉnh miền Trung xa lắc. Ngày 30 tháng 4, gặp tàu, hắn nhảy sang Mỹ, vừa đi làm vừa cố gắng học về ngành điện tử. Trong trường hắn học có một cô nữ sinh viên người Nhật, hai bên quen nhau, thương nhau, sau khi tốt nghiệp bèn làm đám cưới. Hắn leo dần lên được chức phó giám đốc của một công ty Mỹ. Vợ chồng hắn có đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư giục thu xếp đem con về chơi bên Nhật. Té ra bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn có nhiều chi nhánh ở Nhật cũng chuyên về điện tử. Bây giờ vợ chồng hắn đã có đứa con thứ hai - con trai - rất xinh và hiện hắn đang làm giám đốc một công ty chi nhánh cũng nằm dưới quyền ông già...

- Ông bố vợ tớ lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam nhưng lại sợ tớ người Việt, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ông ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng 'ông giám đốc' đã già nên rất khó tánh.
- Tớ hiểu. Người nước ngoài họ vẫn thận trọng như vậy.

Hắn cười hề hề:- Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này gặp cậu, tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm, hai thằng chó chết tụi mình gặp nhau...

- Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là một thằng chó chết.
- Chó chết chứ sao lại không chó chết ? Một đời du tử...

Gương mặt hắn hơi buồn. Hắn khẽ thở dài:Tớ xin lỗi cậu về việc làm mặt xa lạ, bữa naymới bày chuyện 'dog meat' để gặp riêng cậu. Từ hôm gặp cậu tớ rất mừng, đinh ninh thế nào cũng sẽ nhờ cậu một việc...

- Chuyện gì ? Tớ sẵn lòng.
- Như cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, đôi mắt đã lòa, ở với ông anh cả tớ ở Nam Ðịnh ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm.
- Có, tớ hiểu. Làm con thì ai cũng thương cha mẹ.
- Cám ơn cậu. Ngày trước gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, lai xai lưới xưới buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo hiếu gì được, đến lúc hữu sự thì lại nhảy đi sống lấy một mình không biết gì đến mẹ. Ðiều đó tớ rất ân hận. Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh cả tớ. Từ đấy tớ luôn gửi quà và tiền về để gia đình ông anh có phương tiện phụng dưỡng mẹ tớ. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là một chuyện khác.
- Cậu nghĩ rất đúng. Rồi sao nữa ?
- Tớ định nhờ cậu đem một món tiền khá lớn ra Bắc đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường khang trang đẹp đẽ theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ.
- Ðược.
- Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy ra sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc rất đồng ý. Việc đó rất dễ, với con mắt một luật sư cậu chỉ liếc qua là biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Rồi cậu sẽ liên lạc với tớ sau. Nhưng chuyện chính là về Nam Ðịnh, tớ giữ kín không cho ai biết. Khoảng chín giờ sáng mai tớ đem tiền đến nhà cậu, ở chơi một ngày, tụi mình chuyện trò thật kỹ. Cậu nắm vững mọi việc rồi là sáng thứ Hai tớ lên máy bay về Nhật. Bà cụ cậu vẫn khỏe chứ ?
- Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ bên Mỹ.
- Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào chào cụ một chút rồi mai tớ đến. Cậu vẫn ở Tân Ðịnh?
- Ừ.

Hôm sau hắn tới. Buổi chiều, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu: - Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật... À này, Trình, cậu còn nhớ bài 'Du tử ngâm' của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Ðệ thất Ðệ lục ở Chu Văn An không nhỉ ?

Tôi cười: - Nhớ chứ ! Không thuộc, không viết ra chữ, cụ mắng muốn chết. Ðứa nào mà chẳng nhớ...
Tay hắn đang cầm cây que. Hắn gõ nhè nhẹ lên chiếc song sắt trên thành lan can và đọc khe khẽ:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
(Sợi chỉ trong tay mẹ hiền
May thành chiếc áo trên thân người con du tử
Lúc con ra đi mẹ khâu thật kỹ
Vì sợ lâu ngày con chậm trở về
Nào ai dám nói một tấc lòng của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân ?)

- Mỗi lần nhớ tới bài thơ ấy tớ lại ứa nước mắt, cậu ạ.
- Chuyện, thơ Ðường. Ngay đến cụ Nguyễn Du cũng còn phải mượn ý viết thành câu thơ trong truyện Kiều: 'Dám đem tấc cỏ báo đền ba xuân' huống chi tụi mình !

Hắn thở dài:
- Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại miên man nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất sớm hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một thân một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ( chắc cậu đã biết), lúc ấy hãy còn nhỏ mới lên bốn; còn tớ lên sáu. Khổ lắm. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp đệ thất trường Chu Văn An là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không phải bữa đói bữa no vậy mà như cậu thấy, trong túi tụi mình hàng ngày đi học chẳng có đứa nào có lấy một xu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho một đồng thì hai đứa mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa...
- Có, tớ biết. Hôm ông anh cả vào chơi đón cụ ra Bắc, tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé tàu hỏa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Ðịnh. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế cứng mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không được nhúc nhích, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại...
Quân chớp mắt, hắn cúi mặt như cố che giấu một cái gì đó đang dâng lên trong cổ họng, sau khẽ thở dài nói nhỏ với tôi:
- Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về, cậu ạ. Ra ngoài ấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy, xin cụ tha thứ cho tớ và nói, năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ, càng sớm càng tốt.
- Ðược, cậu cứ yên tâm.
- Ðược ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà để riêng ra đĩa, tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa...

Thế rồi sáng thứ Hai, hắn lên máy bay về Nhật thì sáng thứ Ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi quen tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Ngang, đèo Hải Vân, đầu óc tôi cứ vương mang nghĩ tới hình ảnh lúc hắn lên máy bay.

Chúng tôi đưa tiễn, hắn giơ tay chào tạm biệt 'Sayônara !'. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ gật đầu cho hắn yên tâm và giơ tay chào tạm biệt: 'Sayônara!'. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra Bắc, cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y...
Người con nào thì cũng thương mẹ. Tôi yêu bài thơ đó lắm.