Friday, October 31, 2014

NGÔI MỘ KẾT nhưng lại BỊ LỘ THIÊN CƠ.


     NGÔI MỘ KẾT BỊ LỘ THIÊN CƠ 
                                                   

 Có lẽ trong chúng ta, một lần trong đời thế nào cũng có nghe nói đến “Mộ Kết”, nhưng vì sao mà có? Thì đa phần mọi người đều không rành hoặc hiểu chưa thuần nhất…

Thông thường, chúng ta thấy ngôi mộ nào do “Mối” xông lên, mỗi ngày đất đắp mộ một lớn ra, thì gọi là mộ kết, và thân nhân của ngôi mộ đó chắc chắn sẽ được hồng phúc, giàu sang, phú quý v.v…

Trước năm 1975, trong khu nghĩa trang Mặc đĩnh Chi, tại Sài gòn, chúng ta thấy cũng có vài ngôi mộ như vậy!

Nhưng…Nếu mộ bị xây bao phủ bằng xi măng kiên cố, mộ không có Mối xông, thì thật khó mà có thể luận định?

Trong phạm vi bài viết này, xin cho phép tôi được lạm bàn về:

 Ngôi mộ bà Nội của tôi cũng đã được gọi là Mộ Kết, nhưng lại bị “lộ thiên cơ”!  

Kết là gì? Ảnh hưởng ra sao? Khi bị “lộ thiên cơ” thì hậu quả sẽ ra như thế nào?

Xin mời mọi người cùng đọc tiếp….

Vào đầu thập niên 40, gia đình Họ Hàng của tôi sống ở Nam Định, ngôi nhà số 41 phố Hàng Sắt là nơi Ông Nội tôi thường trú, nhà có 03 tầng lầu, to rộng và dài, dưới bán hàng sắt, và một vài thứ khác, trên để ở, ngoài chỗ để ở ra còn  có chỗ thờ Quan Công, Lưu Bị, Ngũ Hổ, chỗ thờ Gia Tiên, rất khang trang và uy nghi ở tầng thứ hai…

Và đặc biệt hơn hết là phòng đọc sách của Ông Nội tôi, chứa đựng rất nhiều sách hiếm quý, mà từ ngày bà Nội mất đi, ông Nội tôi thường hay dành nhiều thời giờ ở trong đó…

Hơn 03 năm sau ngày bà Nội tôi mất, gia đình bác Tuấn của tôi có chuyện buồn, bác Tuấn gái bị bệnh lao phổi, mỗi ngày một kiệt quệ thấy rõ, chữa thuốc Tây rồi lại thuốc ta mà nào có thấy hiệu quả? Bác Tuấn trai tuy là người theo Tây học nhưng đến lúc rối trí cũng đành tin vào lời thầy bói?

Vào thời điểm này sự mê tín dị đoan vẫn còn ảnh hưởng lớn trong dân gian, vì vậy việc tin tưởng vào bói toán vẫn còn có “cái lý của nó”!

Theo như lời của thày bói thì:

“ Sở dĩ bác Tuấn gái cứ đau hoài không khỏi, lý do là: Ngôi mộ của Bà Nội tôi bị động, cần phải bốc mộ, cho mát mẻ, con cháu mới khoẻ mạnh, ăn nên làm ra, công danh phát triển???”

Thông thường thì một người mất đi, sau 03 năm thân nhân có thể bốc mộ, do đó việc bốc mộ của bà Nội tôi sau 03 năm thì cũng hợp lý thôi,

 Tuy nhiên khi bác Tuấn trai xin bốc mộ thì ông Nội tôi không mấy đồng ý, thấy khó có thể lay chuyển ngay được ông Nội tôi, bác Tuấn trai nghĩ ra một cách, là cầu cứu tới anh chị em trong gia đình, hy vọng mọi người đồng ý thì ông Nội tôi cũng sẽ siêu lòng?

Ông nội tôi có 05 người con trai và 03 người con gái, nhưng người con Cả mất sớm khi chết còn là “Trai Tân”, nên rất “Linh” thỉnh thoảng đôi lúc hay “nhập”vào bác Sâm  để báo cho mọi người biết những gì sẽ xảy ra để biết mà tránh hay nên làm,

Mọi người trong gia đình chỉ cần nhờ bác Sâm thắp nhang, khấn, là bác Cả tôi sẽ hiện về và nhập vào bác Sâm để nói chuyện cùng mọi người, nghe nói thì chẳng mấy ai tin, nhưng đó lại là chuyện có thật100%.

Trong thế giới Khoa Học này, có những chuyện huyền bí cho đến nay chưa có ai giải thích chính xác được, bởi chuyện này xảy ra có thật, trước mắt, nên đại gia đình nhà tôi không ai phủ nhận! Ngay chính ba tôi là người theo Tây Học, chẳng tin vào nhửng chuyện ma quỷ, đồng bóng v.v…Cũng phải đồng ý là có thật!

Vì khi chuyện xảy ra có ba tôi ở đó!!!

Anh em trong gia đình tuy mỗi người mỗi nơi, nhưng khi nhận được thông tin Khẩn của bác Tuấn trai của tôi thì tất cả đều thu xếp việc nhà, để về nhà ông Nội tôi, hầu họp mặt gia đình…

Trước khi mọi người “mời” bác Cả tôi “về”, thì bác Sâm nằm ngủ mơ thấy: Một người bằng Vàng!!!

 Nhưng nói lại cho mọi người hay thì vì đang rối bời câu chuyện, nên không được ai chú ý!

 Khi mọi người  hiện diện đầy đủ tại nhà ông Nội tôi, tối đến, mọi người đề nghị hãy “thỉnh” bác Cả tôi về để xin ý kiến, dĩ nhiên bác Sâm là người đại diện anh em trong gia đình, thắp nhang khấn bác Cả về…

Mọi người ngồi xung quanh bác Sâm chờ đợi, chẳng bao lâu bác Cả tôi hiện về, nhập vào bác Sâm giống như mọi lần trước, có một điều lạ là mỗi khi bác Cả nhập vào bác Sâm  thì giọng nói nghe đúng là giọng của bác Cả!?

Thoạt tiên bác Cả nói với bác Nhã  là :

-Chú Nhã…. Hãy vào dưới cầu thang đuổi con nhỏ người làm đi chỗ khác, nó đang núp ở đó để tò mò muốn nghe lén, chuyện gia đình không nên cho người lạ hay biết?

 Bác Nhã  đến dưới cầu thang, thì quả thật con bé người làm đang xanh máu mặt núp trong đó!!!

Tiếp nối bác Cả tôi nói với ba tôi:

      -Chú Trân, chú có học võ, khoẻ mạnh hơn mọi người hãy thử “Kéo tay”với Anh xem sao?

      Ba tôi vâng lời kéo tay với bác Sâm tôi thì bị bác Sâm thắng một cách rất dễ dàng và nhẹ  nhàng…

Mọi người lúc đó tin chắc bác Cả tôi đã “nhập” vào bác Sâm rồi!

Qua trò chuyện giữa người Âm và người Dương, thì bác Cả tôi góp ý:

     -Cái gì Trời cho, thì ráng mà giữ lấy, mộ của Mẹ quý lắm!

 Sau đó bác Cả tôi “Thăng”,

Mọi người cũng phân vân lắm, ông Nội tôi nằm trong phòng,   tuy nghe hết nhưng không ra, và cũng chẳng góp ý gì,  ông tôi là người nhân từ, quảng đại, thương con, quý cháu, mỗi lời nói đều cân nhắc kỹ càng, sự im lặng của Ông Nội tôi cũng ngầm tỏ ý :

     -“Các con muốn làm gì thì làm, nhưng Bố thì chẳng muốn bốc mộ, Bố cũng đành tôn trọng quyết định của các con thôi! Miễn là các con đồng lòng?

Bác T cố gắng thuyết phục mọi người, nên cuối cùng thì đã được toại ý

Và thế là công việc bốc mộ bà Nội tôi được tiến hành sau đó…………

Phái đoàn tham dự, ngoài tất cả anh em trong gia đình còn có sự hiện diện của ông Nội tôi nữa, ông lặng lẽ đi theo mọi người, nét mặt đăm chiêu, im lặng, ông như chỉ muốn là một chứng nhân đối với việc làm thuận ý, đồng lòng của các con !?......

Sau khi cúng vái xong xuôi, theo lệnh của thày cúng, gia đình cho người cắt cổ con gà,  máu gà được vảy để trừ tà ma, khi nhang tàn thì những người phu bốc mộ bắt đầu làm việc…

Chính ra trước khi mở nắp quan tài, thày phải thắp một cây nến (đèn cày) trên nắp quan tài, rồi đục một lỗ nhỏ sát cạnh, nếu hơi trong quan tài thoát ra làm tắt ngọn nến, thì  không được tiếp tục nữa, còn nếu đục xong mà nến vẫn cháy thì mới cho bốc mộ? Một phần dị đoan, một phần cũng do kinh nghiệm truyền khẩu mà tương truyền như thế.

Nắp quan tài đang được mở ra, thì từ đằng xa mọi người thấy người giữ nghĩa trang đang hối hả chạy đến, vừa chạy tới vừa la lên:

  -Ngưng…Ngưng …Đừng mở ???

Nhưng, nắp đã được mở ngay khi người giữ nghĩa trang chạy vừa tới sát bên mộ bà Nội tôi, ông ta vừa nhìn xuống quan tài vừa hốt hoảng nói lớn tiếng:

-   Mộ kết mà sao lại cho phép mở?

Thày cúng chắc cũng hiểu được sự tắc trách của mình, xanh máu mặt, gượng gạo nói như phân bua:

-Trời lạnh quá, mọi người lại hối thúc, nên Tôi phải làm nhanh, cướp giai đoạn, đâu ngờ lại xảy ra như vậy!

Mọi người chồm sát tới mộ bà Nội tôi…

Thì thấy phía nắp trong của quan tài kết bằng những sợi như sáp, trông như mạng nhện, những khớp xương của Bà Nội tôi, có những lớp trông như sáp bao quanh, toàn bộ xương người  còn nguyên vẹn,một lớp như thạch (sương sa) bao phủ……….

 

                                     

                       

            Nguyễn viết Trường ngồi bên mộ Mẹ ruột tại miền Bắc (VN)

            Sau khi đi tù Cải tạo về…Trước khi qua Mỹ với diện H.O 8

 

Trong bàng hoàng của mọi người, bác Tuấn trai, ngồi phệt xuống đất, đôi mắt vốn dĩ  đã thiếu ngủ lâu ngày, mất ít nhiều sự tinh anh, nay mở trao tráo nhìn xuống mộ mẹ mình…Nỗi đau đớn, hối hận, kinh hãi của bác lúc bấy giờ, làm sao ai trong anh em có thể đo lường chính xác???
Ông tôi sau khi quan sát tình hình, thật chậm rãi và khoan dung nói vừa đủ cho các con nghe:

-Cho tiếp tục thôi….

Ông không phê bình, không quy trách nhiệm cho một ai, trong những giây phút khó xử nhất như thế này, mới thấy sự bao dung, sự độ lượng cao cả của Ông Tôi….

Và thế là, những người phu tiếp tục làm việc trong sự lo âu tột độ của thày cúng!!!Chẳng biết mọi người sẽ đối xử với mình ra sao?

Nhưng nói cho cùng, sự thể đã rồi, chẳng ai quan tâm phiền trách đến ông thày cúng làm gì.

Vì những chỗ tiếp nối của xương đã dính chặt vào nhau bằng một chất như sáp ong, nên thật khó khăn cho các người phu làm việc tháo rửa.

Sau khi toàn bộ hài cốt, được gỡ ra và rửa bằng rượu trắng, rồi cho vào một cái hũ bằng sành, có “Khằng” cẩn thận để chôn lại, mọi người lặng lẽ ra vể….

Trời buổi sáng miền Bắc hôm đó, lạnh giá, mù sương, khung cảnh thật buồn và ảo não làm sao, có ai hay chăng ngày đó chính là ngày thê lương nhất của ông Nội tôi và các con cháu của ông?

Một sự mất mát không thể bù đắp được, một mốc thời gian cho những ngày bất hạnh tiếp nối trong gia đình…

Trở về nhà, mọi người vô cùng bối rối, bác Sâm đề nghị hãy “mời” bác Cả về thỉnh ý xem sao?

Mọi người đồng ý liền, khi bác Cả về, “nhập” vào Bác Sâm và nói:

-Anh đã nói mà sao không nghe? Chuyện đến nước này quả là rất nghiêm trọng, mộ của Mẹ Kết như vậy là “Kết Tam Đại”, có nghĩa ba đời được hiển vinh, con cháu có người làm tới Tứ Trụ Triều Đình, nhưng nay “Bị lộ Thiên Cơ”, con cháu chắc chắn bị khốn đốn vô cùng, có thể có người không có cái gáo dừa mà ăn cơm!

Anh sẽ cố gắng tháo gỡ, tuy sẽ không đến nỗi như thường tình, nhưng sẽ có những bất ngờ xảy đến, lành dữ tới đâu tùy vào “Cái đức của nhà mình”?

Anh nay sống ở trên Trời, cúng Anh thì cúng với trái cây, chứ đừng cúng bằng đồ mặn!...Nhớ phải tu thân tích đức, mọi chuyện mới hanh thông.

Mọi người nghe nói vậy cũng vơi đi nỗi kinh hoàng, đến lúc đó ai cũng tiếc là không nghe lời bác Cả, không quan tâm đến những gì Bác Sâm kể về giấc mộng của Bác! Và nhất là vì thương hoàn cảnh của gia đình bác Tuấn mà bỏ qua những hành động ngăn cản của Ông Tôi!!!
     ……………………………………………………………………….

Thời gian sau đó …

Khởi đầu là bác Tuấn gái mất,

Chị Chi con của bác Tuấn cũng mất tiếp theo,

Me tôi qua đời sau khi sanh ra tôi được 11 tháng,

Anh chị em trong gia đình bị phân tán,

Liên hệ ruột thịt cũng ảnh hưởng xấu đi nhiều, mỗi gia đình đều có những chuyện đau lòng, lộn xộn,

Nhưng  cuộc sống bết bát nhất vẫn còn cơm ngày ba bữa mà ăn, có lẽ bác Cả tôi đã tận tình giúp đỡ, nên qua đời Ông tôi, đời Ba tôi, đến đời chúng tôi, đời con cháu chúng tôi không còn bị ảnh hưởng nữa, nhất là đời con cháu, bọn trẻ gia đình nào cũng học hành giỏi dáng, cần cù làm ăn, và có một tương lai rực sáng…

Trong thời loạn lạc, di cư, Ông tôi đã cùng sống với gia đình của ba tôi,

Ông tôi nhân từ lắm, sống giản đơn và luôn hòa mình cùng mọi người trong gia đình, Ông dạy chúng tôi rất nhiều về cách sống sao cho đáng sống, có một câu tôi còn nhớ Ông dạy:

“Ông Trời sanh ra con người, cho con người hai cái mắt để nhìn mọi sự, cho con người hai cái tai để mà lắng nghe học hỏi, cho con người hai lỗ mũi để mà biết mùi vị trên đời, nhưng chỉ cho con người một cái mồm để diễn tả cảm nghĩ, do đó hãy:

 Nhìn nhiều, nghe nhiều, ngửi nhiều, nhưng hãy nói ít, làm được như vậy mới xứng đáng làm Người”

 Khi hồi cư về Hải Phòng thì Ông tôi sống với gia đình Bác Tuấn, và mất sau đó,

 Xuốt thời gian sau cho đến lúc qua đời, mọi người không bao giờ thấy Ông tôi trách cứ con cái về sự vụ việc bốc Mộ cả, nếu Ông có nói gì về chuyện này, chỉ là có tính cách kể lại chuyện mà thôi… 

 Đến nay Tôi tường trình lại câu chuyện này, theo sự góp nhặt những chi tiết nơi ba tôi, và một vài người uy tín trong dòng họ từng chứng kiến sự vụ việc này.

 Bởi đây là một chuyện có thật, những tình tiết viết trong đây không là hư cấu, vì trọng tâm của tôi chỉ muốn ghi lại cho con cháu đời sau được rõ, và những đọc giả được hiểu thêm về một câu chuyện thật, mang tính huyền bí, đã xảy ra trong giai đoạn lịch sử của một dòng họ, mà Ngoại Tổ chính là Ngài NGÔ THỜI NHẬM

Câu chuyện bao quanh chủ đề:  

                        NGÔI MỘ KẾT nhưng lại BỊ LỘ THIÊN CƠ.

 

     

                                                                             

NHỮNG CON SỐ... LỊCH SỬ

 NHỮNG CON SỐ... LỊCH SỬ
 

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , tất cả quân cán chính Việt Nam Cộng Hòađều trở thành đối tượng của “chế độ lao động cải tạo”, một chính sách do cộng sản Việt Nam du nhập từ Trung cộng và được tôi luyện từ miền Tây Bá Lợi Á của thiên đường Sô viết.Tài liệu của Viện Bảo TàngViệt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo như sau:

- Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân g
ồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ
 quan và binh sĩ.
- Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắ
t giam.
- Ðại tá có 600, bị
 tù 366.- Trung tá có 2.500, bị
 tù 1.700.
- Thiếu tá có 6.500, bị
 tù 5.500.
- C
ấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyề
n.

Ðây là con s
ố ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầ
m.

Ghi chú: T
ất cả danh từ “cải tạo” thực sự đều là tù chính trị
.NHỮNG NGƯỜI TÙ KHÔNG ÁNKhông kể thành phần bị bắt trước 1975 nhưng không được trao trả tù binh sau 1973, thì thời gian tù “cải tạo” kéo dài từ 1 năm đến 17 năm. Từ 1975 đến 1992.

Năm 1988 gần như là năm cuối cùng, hầu hết tù được trả tự
 do.

Su
ốt 4 năm tiếp theo chỉ còn lại 120 tù bị giam tại Z30D gọi là Trại ThủÐức tại Hàm tân. Trong số này có 9 vị tướng lãnh. Ðại tá Phạm Duy Khang khóa 6 Võ bị, làm thư ký Trại còn nhớ tên từng người. 4 Thiếu tướng: Lê Minh Ðảo, Ðỗ kế Giai, Trần Bá Di, Nguyễn Ngọc Sang, và 5 Chuẩn Tướng: Lê Văn Thân, Hoàng Lạc, Mạch Văn Trường, Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tấ
t.
C
ấp Ðại tá có 22 người, 20 thiếu tá và các thành viên cảnh sát, đả
ng phái.

Thi
ếu tướng Ðỗ Kế Giai tả lại quang cảnh khi tất cả mọi người được thảhết chỉ còn mấy ông Tướng. Trại Hàm Tân hoàn toàn vắng lặng. Cộng sản cho xe chở 5 ông tướng về chuyến cuối cùng. Vì đường đi thuận tiện, xe về Saigon đến nhà các vị Tướng khác hết 1 vòng, Thiếu Tướng Ðỗ KếGiai là người về sau cùng. Ông bước xuống xe, tâm trạng thực băn khoăn khó tả. Tù vừa tròn 17 năm. Những ông tướng khác về trước ông chừng nửa giờ nên tướng Giai là người sau cùng, theo ý nghĩa tiêu biểu của lịch sử.
H
ỏi chuyện ngục tù, ông Giai nhắc lại câu danh ngôn của người xưa: “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng“ (Tướng quân thua trận, không thể nói mạ
nh).
L
ại hỏi rằng, suốt thời kỳ 17 năm có thấy cộng sản hay thế giới tự do vào quay phim hay chụp hình để bây giờ có thể đi tìm dấu tích của những năm dài “cải tạo”; vị chỉ huy trưởng binh chủng Biệt động quân cho biết, dường như chẳng thấ
y gì.NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN:1975 : Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản tập trung “cải tạo”.
1980 : Sau 5 năm tranh đấu, dư luậ
n Mỹ và thế giới áp lực Hà Nội phải thả tù .
1982 : Tại Pháp, Phạm văn Ðồng, Thủ tướng Hà Nội thách thức sẽ trảtự do nếu Mỹ nhận hết tù cải tạ
o.
1982 : Ngo
ại trưỡng Mỹ điều trần tại Quốc hội cho biết sẽ nhận 10.000 tù chính trị Việt Nam và gia đ
ình.
1985 : L
ần đầu tiên , cơ quan IRCC,Inc. tại San Jose nhận được 1 video tape do phóng viên tự do Hoa Kỳ quay tại Việt Nam. Trong đó có ba đoạn hết sức đặc biệt:
1) Phi công Vi
ệt Nam Cộng Hòa, vừa được tự
 do
2) V
ợ con tù thăm nuôi tạ
i Hàm tân;
3) Ban văn ngh
ệ của Trạ
i Hàm Tân;
4) Ph
ỏng vấn 1 người tù cụt chân cấp Thiế
u tá.
1985 : Hoa K
ỳ và Việt Nam gặp nhau tại New York bàn về việc thả tù cải tạ
o.
1987 : L
ần đầu tiên nhà báo Thụy Ðiển được vào làm phóng sự tại Trại Nam Hà, tiếp theo Hà Nội bắt đầ
u chuyển thêm tù cải tạo vào Nam và trả tự do từng đợt .
Tháng 7 năm 1988 : Phái đoàn Funseth đi Hà nội họp về việc nhận tù cải tạ
o.
Tháng 8 năm 1988 : Hà Nội đơn phương loan báo đình chỉ việc thảo luậ
n.
Tháng 1 năm 1989 : Lần đầu tiên Hồng thập tự Hoa Kỳ được phép gửi quà cho tù “cải tạ
o”.
M
ột chiến dịch gửi quà được phát động tại hải ngoạ
i .
Tháng 4 năm1989 : Phái đoàn Quốc hội Cali về Việt Nam thảo luận về đềtài xã hội và tù “cải tạo”. Có các thành phần tỵ nạn Việt Nam cùng đi.Ðại diện IRCC trách nhiệm tiểu ban tù chính trị. Phái đoàn yêu cầu trảtự do cho Võ Ðại Tôn. Phỏng vấn thu thanh Phan Nhật Nam vừa được tự do tạ
i Saigon.
Tháng 6 tháng 1989 : Thượng viện Mỹ tuyên bố yêu cầu Hà Nội trả tự do cho tù “cải tạo” và Hoa Kỳ sẽ
 đón nhận .
Tháng 7 năm 1989 : Phái đoàn Hoa k
ỳ về Việt Nam ký thỏa ước nhận định cư tù “cải tạ
o”
Tháng 8 tháng 1989 : Báo San Jose Mercury News g
ửi phóng viên vềSaigon làm một loạt bài phỏng vấn “tù cải tạo” sắp ra đi có gia đình chờđợi tại San Jose.
Tháng 1 tháng 1990 : 15 gia đình H.01 đi chuyến đầu tiên đến phi trường San Francisco, có 4 gia đình về Bắc Cali. 11 gia đình chuyển tiếp đến các tiểu bang khác và Quận 
Cam
Tháng 8 năm
1993 : Ðại tá Phạm Duy Khang, sau 17 năm tù đã trở về đợt sau cùng với 120 người. Ông đến San Jose và dự lễ thượng kỳ
 ngày 8/8/1993 .
Sau đó các đ
ợt HO bổ túc và chương trình đoàn tụ gia đình HO lần lượt tiếp diễn suốt 15 năm từ 1994 đến 2009. Cho đến tháng 4 năm 2009 vẫn còn gia đình thuộc diện “tù cải tạo” đến Hoa Kỳ
.NHỮNG THIÊN ANH HÙNG CA


Trước năm 75, Miền Nam xây dựng hai nền cộng hòa đã tồn tại hết sức hào hùng qua hai chiến dịch tấn công của địch. Chúng ta đã đứng vững trong trận Mậu Thân 68 và vượt qua trận mùa hè 72.

Sau 1975 miền Nam thất thủ nhưng vẫn còn ghi thêm hai thiên anh hùng ca bất tử
.
Ngư
ời chiến sĩ sống còn sau trận “cải tạo” và toàn dân miền Nam thành công với những chuyến đi của thuyền nhân tỵ nạ
n.
Chúng tôi đ
ã có bài viết về thuyền nhân và riêng bài này xin dành cho câu chuyện tù “cải tạo”. Lần lượt đã kể ra những con số lịch sử, những người tù không án, những ngày tháng không quên, những dữ kiện tuy khô khan cằn cỗi nhưng chính là máu xương của một đạo quân, của một thể chế dân chủ không còn nữa.
T
ừ những con số này chúng ta hãy đi tìm nhân chứng và thu hồi di sản dành cho trang sử gửi thế hệ tương lai.ÐI TÌM NHÂN CHỨNGTrong số muôn vàn lãnh vực, xin đưa ra một vài thí dụ để chứng minh vềcâu chuyện tù “cải tạo.” Trong hơn 10 năm tù đày, người tù Miền Nam đã sáng tạo biết bao di vật để dùng và để làm quà kỷ niệm gởi cho mẹ, cho vợ, cho con. Chúng tôi cần những di vật đó. Chúng tôi đã có, nhưng chưa đủ.
Thư từ là những liều thuốc thần diệu để người tù nhờ đó mà sống trong hy vọng. Chúng tôi cần giử lại những lá thư của tình yêu, bằng hữu và gia đình. Chúng tôi đã có, nhưng chưa đủ
.

Chúng tôi thư
ờng nghe nói khi người cha đi tù, thì mẹ đi bán thuốc lá bên lềđường. Khi cha về phải đi đạp cyclo. Trong suốt 20 năm, chúng tôi đi tìm những tấm hình như thế nhưng không có. Cho đến năm 2008 mới tình cờ có được các hình ảnh quý giá. Nhưng vẫn còn đón chờ thêm các tài liệu tương tự.
 
Chúng tôi được biết có nhiều gia đình cả hai vợ chồng đều đi tù cải tạo. Cả cha con đều bị tù và nhiều anh em một nhà cùng chung số phận. Chúng tồi còn cần thêm những sử liệu như thế.CAN TRƯỜNG TRONG CHIẾN BẠIVị tướng hải quân vùng một, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại có xuất bản một tác phẩm hồi ký. Ông lấy câu chuyện đứt phim 1975 để đặt tựa cho cuốn sách. Tình cờ chúng tôi có được tấm hình chụp hai chiến binh của sư đoàn 3 bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị bắt làm tù binh tại Quảng Trị khi Cộng quân tấn công 1972. Hình này nằm trong bộ sưu tầm độc đáo của một phóng viên Anh quốc. 
 
Hai chiến binh Cộng Hòa bị địch quân giải về khu tập trung tù binh bên kia biên giới và một phóng viên của cộng sản Hà Nội đã chụp được tấm hình chân dung bất hủ xứng đáng gọi là “Can trường trong chiến bại”. Khuôn mặt người lính số 2 dựa vào người chiến binh số 1., Anh số 1 có thể là sĩ quan. Anh sỹ quan trẻ này bị thương ở tay còn băng bó, mặt còn mang dấu của các mảnh trái pháo, ánh mắt buồn
bã nh
ưng vẫn đầy vẻ bất khuấ
t.
Su
ốt đời tôi, chưa bao giờ nhìn thấy một gương mặt đầy ẩn dụ như vậ
y.
Bài vi
ết sẽ đăng kèm tấm hình độc đáo này. Giờ này anh ở
 đâu?

Trên tài li
ệu DVD do IRCC, Dân Sinh và Viện Bảo Tàng San Jose sẽ phát hành ngày quân lực 2009, chúng tôi phổ biến rộng rãi để nhắn tin đến bốn phương trời ngõ hầu tìm cho được người lính chiến bại có nét mặt can trường của sư đoàn 3 bộ
 binh.
THIẾU TÁ ÐỘC CƯỚC LÊ HỮU CƯƠNGCâu chuyện sau cùng xin nói về người tù cải tạo Lê Hữu Cương, khóa 16 võ bị Ðà Lạt, quận trưởng Củ Chi. Số là ngay từ đầu năm 1985 tình cờchúng tôi gặp được một anh phóng viên Hoa Kỳ tặng cho video tape quay phóng sự Saigon từ 1984, trong đó có những đoạn hết sức đặc biệt. Câu chuyện một phi công cựu tù, mới được tự do có mở tiệm bán đồnhậu tại Saigon. Ðối thoại bằng Anh ngữ. Xin hãy tưởng tượng lúc đó là năm 1985, chúng tôi coi phim mà lòng dạ nôn nao. Xúc động dâng lên khóe mắt. Anh em cùng ngồi xem mà mặt mũi ai nấy hết sức căng thẳng. Cho đến nay chúng tôi vẫn không biế
t anh phi công này là ai.

M
ột đoạn khác, quay tại trại tù Z30D tại Hàm Tân. Trại tù khang trang sạch sẽ và rất ít người. Ai mà chẳng biết là cộng sản đã cho dọn dẹp và lùa tù đi làm, chỉ còn lại cả trại trống vắng. Phóng viên quay phim và anh chàng làm phóng sự đi cùng một thông dịch viên. Ban văn nghệ của trại được giới thiệu hát một bài. Khán giả duy nhất là anh phóng viên Mỹ. Nhạc trưởng là ca sĩ chính nét mặt hết sức đau khổ và cam chịu. Ông trả lời cấp bậc là thiếu tá, đã ở trại này nhiều năm. Dường như cũng từ Nam Hà chuyển về.

Một đoạn khác là cảnh tù “cải tạo” được vợ con lên thăm. Xin lưu ý đây là thời điểm của năm 1984 ở trại tù Miền Nam và cảnh này được trình diễn cho báo Mỹ quay phim. Tuy nhiên nếu lưu ý vẫn nhìn ra được những nỗi đoạn trườ
ng.

Sau cùng, chúng tôi đư
ợc xem đoạn phim đặc biệt. Một tù cải tạo cụt chân ngồi cầm cặp mắt kiếng. Mắt anh rất sáng và dáng ngồi bình thả
n.
G
ần như bất chợt, anh phóng viên hỏi bằng anh ngữ và người tù trả lời trực tiếp cũng bằng anh ngữ. Anh cấp bậc gì? -Thiếu tá. Anh có đủ ăn không? -Có được ăn, nhưng biết thế nào là đủ. Người tù hỏi ngược lại? Phóng viên Mỹ nói: Có phải người công an này đứng đây nên anh không trảlời? (Ðến đây phóng viên ra hiệu yêu cầu quản giáo đi ra). Không đủ ăn phải không ? Not enough? Trả lời, - Yes, not enough. Anh có điều gì nhắn gởi với tổng thống Reagan không? - Tôi muốn được tự do. Tôi muốn rằng thếgiới tự do cứu chúng tôi. Cho chúng tôi được tự do càng sớm càng tố
t.
Máy quay phim chi
ếu xuống bàn tay cầm mắt kiếng. Rồi chiếu lên khuôn mặt người tù với ánh mắt ngời sáng như ánh thép trong ngụ
c tù.
Chúng tôi b
ị ánh mắt này theo đuổi trong nhiều năm. Suốt 20 năm, từ 1985 đến 2005 đã có ý hỏi thăm về người thiếu tá cụt chân này là ai, còn sống hay đã chế
t.

Năm 2005 Asia quay video t
ại Hoa Thịnh Ðốn kỷ niệm 30 năm biệt xứ, chúng tôi có cơ hội giới thiệu dự án viện Bảo Tàng và đồng thời có chiếu đoạn phim này trong phần tài liệ
u.
Ti
ếc thay, dù đã có hàng chục ngàn khán giả nhưng vẫn không ai nhận ra người tù bất khuất.