Wednesday, May 21, 2014

Bằng cách nào Trung Cộng lấy được những bí mật kỹ thuật của Mỹ.

Bằng cách nào Trung Cộng lấy được những bí mật kỹ thuật của Mỹ.

Ngày 1 tháng Hai năm 2003, khi phi thuyền con thoi Columbia rơi trên không trung, ông Greg Chung đang ngồi ở nhà. Con trai của ông gọi điện thoại báo tin cho bố biết về tai nạn này. Chiếc phi thuyền bị vỡ tung trên đường trở về Trái đất, và bảy phi hành gia trên phi thuyền bị chết hết. Ông Chung mắng đứa con trai: “Đây không phải là chuyện đùa. Con đừng có báo tin bậy.”. Ông Chung là một công dân Mỹ sinh đẻ ở Trung Hoa. Ông đang sống với vợ, bà Ling, trong một khu gia cư khá xinh đẹp, ở thành phố Orange, tiểu bang California. Ông mới về hưu được chừng vài tháng. Trước khi về hưu, ông làm việc cho NASA, cơ quan phụ trách Chương Trình Không Gian của Hoa Kỳ. Ông từng đóng góp vào việc thiết kế phòng lái cho phi hành đoàn trong chiếc phi thuyền Columbia, chưa kể là ông đã làm nhiều việc khác đóng góp cho chuyến bay của phi thuyền. Khi biết rõ cậu con trai, Jeffrey, báo tin là đúng. Ông cúp điện thoại, và ngồi ôm mặt khóc một mình.
Hồi năm 1972, cơ quan NASA giao việc thiết kế, và thực hiện phi thuyền con thoi cho công ty tư Rockwell làm. Công ty này sau đó đã bị công ty Boeing mua lại. Trong hơn 30 năm, ông Chung là kỹ sư của công ty Boeing, làm việc trong nhóm “stress-analysis”, thử sức chịu đựng của vật dụng thiết kế. Việc làm của ông hết sức tỉ mỉ, và đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, thử đi thử lại không biết là bao nhiêu lần. Nhưng đó lại là việc làm sở trường của ông Chung. Ông làm việc miệt mài, ít khi nào bỏ sở ra về, thậm chí ông cũng ít khi nghỉ giải lao. Ông cứ ngồi miết ở máy vi tính, thử đi thử lại đủ mọi loại mô hình, xem coi chất liệu nào thích hợp để làm vỏ phi thuyền, chịu đựng nổi độ nóng, và áp suất va chạm vào phi thuyền.
Sau khi phi thuyền Columbia bị nổ tung trên không trung, cơ quan NASA yêu cầu hãng Boeing thiết kế một phi thuyền con thoi khác. Ông Chung là nhà thiết kế giỏi nhất trong nhóm. Xếp cũ của ông Chung điện thoại yêu cầu công ty ký hợp đồng nên mướn ông Chung làm công việc này. Mặc dù ông đã ở tuổi 70, song ông hoãn nghỉ hưu, và tiếp tục đi làm. Thế là ông lại quanh trở về thói quen siêng năng cũ, về nhà trễ ăn cơm tối, sau đó lại ngồi vào bàn làm việc cho đến khuya. Ông làm việc say sưa không phải vì người ta hứa thăng chức, hay tăng lương cho ông, mà chỉ vì cái thú làm việc có sẵn trong người của ông Chung. Vợ ông, bà Ling, kể lại về thói quen say mê làm việc của ông. Ông khoe ông đã giúp hãng Boeing tiết kiệm được bao nhiêu tiền. Ông nói nhiều về việc  làm của ông đến nỗi bà Long phải bực mình, và nói: “Suốt ngày cứ nói mãi về công ty Boeing của ông. Bộ ông không còn chuyện gì khác để nói với tôi hay sao?”.
Tháng Tư năm 2006, nhân viên FBI đến gặp ông Chung tại nhà riêng của ông ở thành phố Orange. Chính tay ông Chung là người thiết kế căn nhà ông đang ở. Căn nhà  có một hàng ba để ông và bà Ling ngồi nhìn ra vườn hoa lớn phía trước. Ông Chung trồng cây chanh, và cà chua. Hàng ngày ông hay dùng nước tái dụng để tưới hoa, tưới cây. Hai ông bà có hai người con trai đã trưởng thành là Shane, cậu con lớn, và Jeffrey, cậu con nhỏ. Hai cậu con cũng sống ở gần cha mẹ.
Ông Chung dáng người cao, gầy, với khuôn mặt trầm tĩnh, mở cửa mời khách bước vào trong nhà. Họ mở đầu câu chuyện bằng cách hỏi thăm ông Chung về một người tên là Chi Mak, bạn của ông Chung. Ông này đã bị bắt trước đó vài tháng. Chi Mak là người Hoa gốc Hong Kong đến California định cư vào thập niên 1970, và làm kỹ sư cho công ty Power Paragon, một công ty xây cất hệ thống phân phối điện lực cho Hải Quân. Từ nhiều năm nay, Trung quốc cố tìm cách canh tân hạm đội hải quân của họ. Cơ quan FBI nghi ngờ rằng Mak đã được tình báo Trung quốc huấn luyện, gửi sang Hoa Kỳ để làm gián điệp.
Sau hơn một năm điều tra, đưa đến việc bắt giữ Chi Mak, cơ quan FBI nghe lén điện thoại của Chi Mak, và bám sát y để theo dõi những giao du hàng ngày của Chi Mak. Có một lần trong lúc Chi Mak và vợ đi nghỉ mát ở Alaska, thám tử Mỹ lẻn vào nhà lục soát suốt đêm. Họ cố gắng không để lại một dấu vết nào, thậm chí màng nhện ở phòng khách họ cũng cố tình giữ nguyên. Vào trong nhà, họ chụp hình hàng trăm tài liệu liên quan đến hoạt động của Chi Mak. Trong đó, có cuốn sổ ghi điạ chỉ, số điện thoại người quen của Chi Mak, vài người là kỹ sư Mỹ gốc Hoa. Một trong những người này là Greg D. Chung.
Ông Chung tên viết theo tiếng Hoa là Dougfan Chung, sang Hoa Kỳ định cư từ hơn 40 năm trước. Ông Chung cho FBI biết ông và bà Ling vợ ông thỉnh thoảng có đi ăn cơm Tàu chung với Chi Mak. Vì Chi Mak là kỹ sư ngành điện, còn ông Chung là kỹ sư ngành cấu trúc, nên hai người ít khi bàn chuyện công việc làm với nhau. Nhân viên FBI cám ơn ông Chung rồi ra về. Họ tìm được vài tin tức hữu ích, song không có tin gì quan trọng, hay ông Chung không làm điều gì sai trái cả.
Vài tuần sau, nhân viên FBI lại lục soát nhà của Chi Mak lần nữa. Kỳ này họ bắt gặp một lá thư viết bằng tiếng Hoa trong mớ giấy báo cáo hàng tháng của ngân hàng. Lá thơ  mang nhãn hiệu một khách sạn ở Bắc Kinh, do Gu Wei Hao viết. Ông Gu Wei Hao là một quan chức cao cấp trong Bộ Hàng Không của Trung Quốc. Lá thư đó không phải gửi cho Chi Mak, mà là gửi cho Lingjia và Dongfan Chung.
Trong lá thư, và sau này còn thêm một số thư khác, viên chức cao cấp họ Gu nhờ ông Chung thu thập tài liệu để giúp Trung quốc thực hiện chương trình không gian của họ. Chính phủ Trung quốc mới bắt đầu kế hoạch xây dựng trạm không gian đặt trên qũi đạo trái đất, và Gu đang tìm cách thu thập tin tức kỹ thuật để giúp thực hiện kế hoạch này. Lá thư của Gu viết cho ông Chung nói rõ: “Tất cả chi phí thu thập, hay cần phải mua tin tức, chúng tôi sẽ cử người đích thân trả bằng tiền mặt, và ông có quyền đem tiền ra khỏi nước một cách an toàn.”. Gu còn mời ông Chung sang  Quảng Châu, và tổ chức buổi họp mặt “trong khung cảnh giới hạn, ít người”, “rất an toàn” để có thể cùng bàn luận về những vấn đề kỹ thuật. Vì ông Chung là công dân Mỹ, nên Gu đề nghị ông nên làm đơn xin chiếu khán du lịch, với lý do là đi thăm bà con ở Trung quốc. Gu kết luận ở phần cuối lá thư: “Đây là niềm vinh dự và may mắn cho Trung quốc khi ông nhận thức rằng ông nên đem tài năng, trí tuệ của ông phục vụ đất nước.”.

TỪ NAY ÔNG CHUNG LÀ KẺ BỊ TÌNH NGHI LÀM GIÁN ĐIỆP CHO TRUNG QUỐC. Cơ quan FBI bắt đầu mở cuộc điều tra, đặt dưới sự điều động của một thám tử tên là Kevin Moberly. Người thám tử có dáng dấp thể thao, mạnh khoẻ, khoảng trên 40, tóc điểm vài sợi bạc, dưới cằm để một chòm râu được chăm sóc khá kỹ. Khoảng 2 giờ sáng một đêm trong tháng Tám năm 2006, ông Moberly ngồi bật dậy, thay quần áo ra khỏi nhà. Ông cùng một thám tử khác tên là Bill Baoerjin lái xe đến thành phố Orange. Họ đậu xe trên đường Grovewood Lane, cách nhà ông Chung chưa đầy 100 yards. Họ ngồi yên trong xe khoảng chừng 20 phút, quan sát khu xóm xung quanh, và để cho đôi mắt quen dần với bóng tối. Sau đó họ dùng đèm bấm có dụng cụ đặc biệt che bớt ánh sáng, đến lục tìm tòi trong hai  thùng rác trước cửa nhà ông Chung. Họ thấy một chồng báo Hoa văn. Họ ôm hết cả chồng báo đem về văn phòng.
Kẹp vào giữa chồng báo là những tài liệu kỹ thuật của công ty Rockwell và Boeing. Thám tử Moberly trước đây đã từng làm sĩ quan tình báo bên Không quân, vì thế ông nhận ra ngay những chữ viết tắt như “O.V”, tức Orbital Vehicle, và “S.T.S” hay Shuttle Transportation System đều là những tài liệu kỹ thuật liên quan đến phi thuyền không gian. Không có bằng chứng nào cho thấy ông Chung muốn trao những tài liệu kỹ thuật này một cách bí mật. Việc ông làm chỉ mang hình thức vứt bỏ những tài liệu kỹ thuật cũ có sẵn trong nhà, vì ông sợ bị vạ lây sau khi vụ bắt giam Chi Mak được loan tin từ vài tháng nay.
Một tuần sau, thám tử Moberly và Baoerjin quanh trở lại lần nữa để tìm kiếm. Lần này một người hàng xóm tình cờ lái xe đi ngang, khiến cho hai điệp viên phải ngồi thụp xuống, núp sau hai thùng rác cao. Ông Moberly thấy việc lục lọi thùng rác coi bộ rủi ro nhiều quá, ông quyết định nhờ công ty xe rác hợp tác. Trên đường lái xe rác đến trung tâm chế biến rác, xe vận tải sẽ ngưng ở một điểm hẹn để nhóm FBI hốt hết rác nhà ông Chung đem về nghiên cứu.
Trong tuần lễ kế tiếp, ông Chung đẩy thùng rác ra trước cửa nhà vào lúc trời vừa hừng sáng. Ông đẩy thùng rác nằm kẹt giữa hai thùng “recycle” mà ông đã kéo ra từ đêm hôm trước. Sau đó, ông đứng núp sau bụi cây quan sát một lúc, trước khi ông bước vào trong nhà. Khi nhân viên FBI thu hồi được vật liệu trong thùng rác nhà ông Chung, họ tìm thấy khoảng 600 trang tài liệu kỹ thuật của công ty Boeing, với đầy đủ hình ảnh rõ ràng. Lâu lâu trên trang giấy còn đóng con dấu: “tài sản riêng của công ty” hay “tài liệu mật, cấm trao đổi.”.
Tháng Chín, ông Moberly đến nhà ông Chung cùng với một đồng nghiệp tên là Gunnar Newquist. Ông này là điều tra viên hình sự của Hải Quân. Hai người đến đây để thực hiện một cuộc phỏng vấn. Hai thám tử ngồi ở ghế sofa màu trắng, còn ông Chung ngồi ở bàn uống cà phê đối diện. Ông Moberley mở đầu câu chuyện bằng việc hỏi thăm tin tức liên quan đến Chi Mak. Sau một giờ chuyện vãn, ông tìm cách hướng câu chuyện liên quan đến vị quan chức Gu Wei Hao làm việc ở bộ hàng không Trung quốc. Ông Chung cho biết qủa thực ông có gặp vị quan chức này trong chuyến đi thăm Trung quốc  năm 1985, và sau đó một vài lần vào đầu thập niên 1990’s.
Ông Moberly đặt câu hỏi: “Ông Gu có bao giờ nhờ ông làm việc gì hay không?”
Ông Chung trả lời: “Không.”.
Ông Chung đứng dậy, đi vào nhà bếp lấy một ly nước để uống. Khi ngồi xuống ghế, ông Moberly lôi ra lá thư của ông Gu đặt lên bàn uống cà phê. Ông yêu cầu ông Chung đọc to lá thư đó lên. Ông Chung dịch lại lá thư với giọng nói lạc thần, mất bình tĩnh.
Moberly đặt câu hỏi: “Trong nhà của ông có còn một tài liệu nào khác lẽ ra ông không được cất giữ hay không?” Sau đó, ông ta đưa cho ông Chung tờ giấy để ký tên cho phép nhân viên FBI lục xét nhà.
Ông Moberly gọi ngay một toán thám tử đứng chờ phía trước, xông vào thực hiện công việc lục soát nhà của ông Chung.  Bà Ling lúc đó vừa về đến nhà, dắt theo đứa cháu trai. Cả ba đứng lặng yên xem hàng chục thám tử lục lọi từng khe ngách nhỏ của căn nhà, trên khoảng đất rộng gần một mẫu tây.
Ở dưới bao lơn  phía sau căn nhà, một thám tử tìm thấy một cánh cửa nhỏ. Cánh cửa được chắn ngang bằng một thanh gỗ. Ông mở cánh cửa ra, và bước xuống vài  bậc thềm, ông khám phá ra một ngõ ngách nhỏ, đủ để lách mình đi vào, chạy dọc theo chiều dài của căn nhà. Khúc đầu, ngõ ngách này chỉ đủ cho một người khom lưng đi vào. Sau đó, mặt đất thoai thoải dốc, và người bước vào có thể đi đứng dễ dàng. Từ trong nhà không có lối đi vào ngã ngách này. Khoảng đất trông như một basement, hầm nhà trơ trụi, và chỉ có bóng đèn soi đường. Ở một bên phòng trống này chồng chất mấy cái nệm giường cũ, xe đạp ba bánh cũ, hay vài miếng gỗ tạp. Đi tiến thêm về phía trước của căn nhà, đằng sau tấm ván ngăn sơ sài, là một căn phòng nhỏ, sàn  gỗ thô sơ, với nhiều kệ sách. Trên kệ sách có rất nhiều binder, bìa cứng, đựng hồ sơ.
Người nhân viên dẫn ông Moberly đi xuyên vào ngõ hẹp để cho ông thấy những binder này. Trong những binders đó chứa rất nhiều tài liệu qúi liên quan đến việc chế tạo các loại máy bay quân sự của Hoa Kỳ như oanh tạc cơ B-1, máy bay chở hàng C-17, chiến đấu cơ F-15, và trực thăng vận tải Chinook 47 và 48. Ông Moberly nói với tôi về cảm nghĩ của ông khi bước vào kho tài liệu này: “Tôi có cảm tưởng như mình vừa đi lạc vào bãi mìn của vua Solomon ngày xưa.”. Không rõ ông Chung có vi phạm luật nào hay không, nhưng chắc chắn là ông Chung đã vượt quá lằn ranh của một người sưu tầm tài liệu kỹ thuật.
Ông Moberly cầm đại một binder, chạy vội lên lầu, đặt lên bàn cà phê cho ông Chung xem. Ông gằn giọng: “Tại sao ông không nói cho chúng tôi biết ông có những tài liệu này?”. Ông Chung không trả lời, quay mặt đi chỗ khác.
Ngay lúc đó điện thoại reo, và ông Chung bước sang phòng ăn để trả lời điện thoại. Ông Moberly có đem theo một cộng sự viên duy nhất hiểu được tiếng Quan Thoại, đó là Jessie Murray. Jesse Murray đứng nghe lóm câu chuyện thì hiểu là ông Chung đang nói chuyện với cậu con trai lớn, cậu Shane, bằng tiếng Quan Thoại. “Họ sẽ đến nói chuyện với con đó. Họ sẽ hỏi con về chuyến đi Bắc Kinh của trường con.”. Chuyến đi đó xảy ra vào năm 1985, và ông Chung đã gặp Gu Wei Hao, viên chức cao cấp của Bộ Hàng Không. Ông Chung dặn con: “Con cứ nói với họ là con quên hết rồi. Chỉ nói vắn tắt là con không biết.”. Nghe đến đây, ông Murray giật điện thoại khỏi tay ông Chung và cúp máy ngay, cảnh cáo ông Chung rằng ông ta có thể can tội cản trở công lý, một tội rất nặng.
Cuộc lục soát nhà ông Chung tiếp tục, kéo dài suốt một ngày. Điều tra viên tìm thấy một số tài liệu đã bị đốt, và nhiều hồ sơ khác còn để trong phòng làm việc của ông Chung ở trên lầu. Đến chiều tối, họ khuân đi hơn 150 thùng tài liệu. Trước khi rời khỏi nhà ông Chung, ông Moberly gặp cậu con cả Shane ở lề đường trước cửa nhà xe. Cậu ấy than: “Bố tôi còn nặng lòng với cố quốc quá. Ông cụ cần phải suy nghĩ lại về lòng trung thành với Trung quốc.”.

ÔNG CHUNG SINH RA TRONG MỘT NGÔI LÀNG NHỎ ở tỉnh Laoning, một tỉnh nhỏ vùng đông bắc Trung quốc. Khi còn nhỏ ông là một cậu bé nhút nhát, chỉ thích sưu tầm đồ chơi nho nhỏ: tem cổ, đá lạ, hay nắp hộp kem đánh răng. Cha mẹ của cậu là Phật tử thuần thành. Ông bà dạy con phải quí trọng thiên nhiên, cây cỏ. Cậu bé tỏ ra say mê tìm hiểu về hoa cỏ, cây cối, và cậu rất bất bình khi thấy những đưá trẻ cùng lứa tuổi bóp chết hàng đàn kiến nhỏ.
Trong thời Thế Chiến Thứ Hai, khi đoàn quân Nhật đang tiến vào các tỉnh phía đông, gia đình họ Chung phải bỏ làng mạc, cùng với hàng triệu người Hoa khác, đi lánh nạn. Trên đường chạy về phương nam, họ phải tạm dừng chân vì có cuộc giao tranh bằng súng lớn. Gia đình họ Chung phải trốn trong ruộng bắp. Một nông dân tử tế giúp họ Chung cho vào nhà tá túc, và nấu cháo bắp cho ăn. Gia đình đó không nhận tiền đền đáp của họ Chung. Lúc đó cậu bé Chung mới được tám tuổi, và cậu vẫn nhớ mãi nghĩa cử cao đẹp của gia đình nông dân này.
Cha của ông Chung là một kỹ sư công chánh, làm việc trong bộ hoả xa. Ông là người theo phe Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1946, khi phe Mao Trạch Đông dành được quyền kiểm soát toàn thể lục điạ Trung Hoa, gia đình họ Chung phải bỏ chạy sang Đài Loan. Tại đây phe nước Trung Hoa Dân Quốc, hay phe Quốc Dân Đảng thành lập chính phủ lưu vong. Kể từ đó có hai nước Trung Hoa - Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, do  Đảng Cộng Sản cai trị, và Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan. cả hai đều tự nhận mình mới là người đại diện cho quyền lợi của dân Trung Hoa. Thống chế Tưởng Giới Thạch, nhà độc tài quân sự của Đài Loan tung ra rất nhiều kế hoạch tuyên truyền, nhồi sọ trẻ nhỏ ở Đài Loan. Giống như các học sinh nhỏ tuổi khác, Chung đã được dạy phải phỉ nhổ vào chế độ của Mao Trạch Đông. Nhưng ở sâu trong tâm khảm, chú bé vẫn tự hào mình là người Trung Hoa, và qúi mến văn hoá Trung quốc.
Khi còn học trung học, Chung phải theo học những khoá huấn luyện quân sự bắt buộc. Sau này, cậu có đăng lính vào Lực Lượng Hải Quân của Đài Loan, với mục đích sẽ giải phóng Hoa Lục thoát khỏi sự cai trị của Mao. Một người anh em của Chung kể lại rằng chính cha của cậu Chung khuyên con đi học ngành kỹ sư. Do đó, Chung xin học trường Đại Học Quốc Gia Đài Loan, một đại học danh tiếng. Sau khi ra trường, câu Chung được bổ đi làm tại một đập ngăn nước ở phía bắc Đài Loan. Tại đây, cậu gặp người đẹp Lingjia Wang, một hoạ sĩ, đang làm cô giáo dạy trong trường mẫu giáo gần đó. Ít lâu sau hai người thành hôn.
Chung rất say mê ngành kỹ sư, cậu là sinh viên giỏi nhất trong lớp. Nhưng triển vọng tương lai nghề nghiệp của cậu sẽ không đi xa nếu cứ lại Đài Loan. Vì thế, giống như nhiều kỹ sư đồng lứa, cậu mơ một ngày nào đó sẽ sang được Hoa Kỳ học tiếp lên cao. Trong lúc làm việc tại dập nước, cậu chịu khó học tiếng Anh do bà vợ ông cố vấn Mỹ dạy.
Năm 1962, cậu xin được vào học tại trường  đại học Minnesota. Cậu lấy bằng cao học về kỹ sư công chánh, và được tuyển vào làm cho hãng Boeing ở Philadelphia. Cậu là một chuyên gia thử nghiệm “stress” trong Vertical Takeoff and Landing Division, phụ trách về sức chịu của thân máy bay trong giai đoạn cất cánh và hạ cánh. Bà Ling học thêm về Hội hoạ. Vào thời điểm đó, nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, hay Trung Cộng không cho người dân xuất ngoại. Gia đình họ Chung chỉ có vài người bạn thân là người Hoa, đa số là dân Đài Loan sang Hoa Kỳ định cư. Thú vui của họ là đi thăm bảo tàng viện ở New York, đi nghỉ mát ngoài bờ biển tiểu bang Delaware, và bắt cua về ăn chung với nhau.
Một trong những người bạn thân từ thuở nhỏ của ông Chung là Thomas Xie. Anh ta lúc đó đang là sinh viên ở trường New Mexico State University. Anh thường liên lạc với Chung qua thư từ. Có lần anh cho biết anh được nhận vào trường University of Chicago, nhưng thiếu tiền ghi danh. Hai vợ chồng Chung gửi cho anh Xie hai ngàn đô la, không thắc mắc gì cả. Anh Xie nói với tôi về ông Chung như sau: “Greg lúc nào cũng tử tế, sẵn lòng giúp đỡ người khác.”.
Bà Ling thì thuộc loại người quảng giao, ưa xã giao hơn ông Chung. Bà muốn có nhiều bạn bè thân quen để giao tiếp. Hai vợ chồng cùng gia nhập Hiệp Hội Người Đài Loan ở điạ phương. Trong những lần họp mặt với nhau, hai vợ chồng Chung ủng hộ ý kiến thống nhất hai nước Trung Hoa: Đài Loan và Hoa Lục nên kết hợp lại làm một. Họ phản đối ý kiến phân chia ranh giới giữa hai khu vực. Bà Ling còn nói thêm: “Chúng tôi nghĩ rằng cả thế giới nên sống hoà hợp với nhau. Mọi cuộc  xung đột đều vô nghĩa đối với chúng tôi.”. Quan điểm của hai vợ chồng ông Chung làm cho một số người trong Hội Đài Loan không ưa, bởi vì họ nghĩ rằng vợ chồng nhà Chung không còn trung thành với Đài Loan như xưa.
Năm 1972, ông Chung làm việc cho công ty Rockwell. Công ty vừa nhận được hợp đồng chế tạo phi thuyền con thoi đầu tiên cho cơ quan NASA. Ông Chung dọn sang sống ở miền Nam California. Khi đó, ông Chung và bà Ling đã trở thành công dân Mỹ. Con đường công danh, nghề nghiệp của ông Chung thăng tiến rất mau. Trong khi đó bà Ling cũng khá thành công về mặt xã hội, và hội hoạ. Hai vợ chồng dự tính sẽ mãi mãi sinh sống tại Hoa Kỳ. Giống như nhiều người di dân khác, họ cảm thấy thoải mái, hài lòng với ba dạng tịch khác nhau: Người Hoa, người Đài Loan và người Mỹ.


TRONG SUỐT THỜI GIAN CUỐI THẬP NIÊN 1970’s, nước Trung Hoa Cộng Sản trải qua nhiều cuộc cải cách to lớn về chính trị, và kinh tế. Thái độ thù nghịch chế độ cộng sản của hai ông bà Chung giảm bớt đi rất nhiều. Bà Ling nói với tôi: “Bỗng dưng, cánh cửa mở ra cho chúng ta có dịp giao tiếp với Trung quốc. Chúng tôi nao nức, tò mò, muốn tìm hiểu về cội nguồn của mình.”. Họ nhận thấy rằng chế độ Trung Hoa Dân Quốc cũng chẳng lấy gì gọi là dân chủ hơn chế độ cộng sản. Ông Ching Wang, bạn thân của ông Chung từ hồi trung học, hiện là giáo sư Hoá học của đại học UC San Francisco, nói với chúng tôi rằng có sự chuyển hướng trong nếp suy nghĩ của người Đài Loan. Điều này cũng dễ hiểu đối với những người đã định cư từ lâu ở nước  ngoài, và không có nghĩa là chúng tôi không còn trung thành với Đài Loan. Ông Wang phân tích: “Chúng tôi bắt đầu có những tư tưởng nổi loạn. Chúng tôi không còn tin vào những điều đã được tuyên truyền nhồi sọ vào đầu óc chúng tôi trước đây.”. Truyền thông Đài Loan lúc nào cũng mô tả Trung Cộng như một xã hội chậm tiến, mọi rợ. Nhưng khi xem  truyền hình tổng thống Richard Nixon đi thăm Bắc Kinh, chúng tôi thấy thành phố này cũng khá sạch sẽ, và thịnh vượng.
Thấm nhuần triết lý Phật Giáo, chủ trương “buông xả” giúp ông Chung dễ dàng tha thứ cho những điều xấu xa mà chế độ của Mao Trạch Đông từng gây ra. Một người em của ông Chung nói: “Trong bà con của chúng tôi có người đã bị Cộng Sản giết. Nhưng nghĩ cho cùng thì đó là thế hệ cũ. Chúng ta không thể tiếp tục giữ mãi mối hận thù trong đầu. Anh Greg của chúng tôi cũng cảm thấy như vậy.”.
Khi họ đến tuổi gần bốn mươi, họ cảm thấy cần phải truy nguyên về nguồn gốc Trung Hoa trong máu huyết của họ. Bà Ling mạnh dạn nói: “Phải trở về nguồn mới được. Nếu không chúng ta sẽ giống như trái bí rợ. Cái đít thì to mà trong lòng chẳng còn trái tim.”.
Năm 1976, sau khi đi xem hai nhạc sĩ Trung Hoa đến biểu diễn ở Los Angeles, ông Chung bèn đi tìm mua một đàn bầu hai giây của Trung Hoa đem về nhà tập gẩy đàn. Ông Chung và bà Ling bắt đầu  sưu tầm những truyền đơn, tài liệu của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Kể cả những tài liệu về Cách Mạng Văn Hoá, và những bài viết tiếc thương Mao Trạch Đông sau khi Mao chết. Ông Chung đọc rất kỹ, ghi chép bên lề từng bài viết. Kể từ thập niên 1950’s, đa số người Hoa ở Hoa Lục đều viết Hoa Văn theo kiểu giản đơn của Mao Trạch Đông. Phần lớn người Hoa ở Đài Loan vẫn còn viết Hoa văn theo lối cũ. Ông Chung và bà Ling sẵn sàng tiếp thu lối viết kiểu mới.
Năm 1976, sau khi Mao chết, đó cũng là thời điểm kết thúc Cuộc Cách Mạng Văn Hoá, và khởi đầu giai đoạn canh tân của Đặng Tiểu Bình. Trung quốc gửi rất nhiều phái đoàn khoa học gia và kỹ sư sang các nước Tây phương. Trí thức Trung Hoa luôn luôn tâm niệm phải “phải dùng khoa học để cứu Trung Quốc.”. Ông Chung theo dõi mọi tiến bộ về khoa học của Trung quốc với niềm tự hào, hãnh diện. Ông cắt dán, lưu trữ những bài báo, hình ảnh liên quan đến việc Trung quốc phóng vệ tinh. Và ông cũng bắt đầu đi dự những buổi nói chuyện của các nhóm học giả, nhà ngoại giao Trung quốc khi họ sang thăm Hoa Kỳ. Trong một buổi hội thảo năm 1979, ông Chung gặp Chen Len Ku, Giáo sư công nghệ của Viện Kỹ Thuật Harbin. Ông Chen này đang đi tìm những tài liệu giảng dạy  về “stress analysis”, phân tích sức chịu đựng của vật liệu. Đề tài này là phạm vi chuyên môn của ông Chung. Ông Chung về nhà làm photocopy những bản ghi chép hồi còn học ở University of  Minnesota, gửi sang cho ông Chen theo đường biển.
Khi gửi những tài liệu này đi, ông Chung còn viết một lá thư rất cảm động như sau: “Tôi không biết mình có thể đóng góp được gì cho tổ quốc. Tôi lấy làm hãnh diện về những thành quả nhân dân ta đã làm được cho Quê Mẹ. Tôi lấy làm ân hận mình đã không đóng góp được gì nhiều.”.


GIÁO SƯ CHEN ĐEM LÁ THƯ VỀ  khoe với đồng nghiệp ở Harbin. Hẳn là các quan chức cao cấp Trung cộng cũng nghe nói đến chuyện này. Qua năm sau, ông Chung được mời đến họp tại một khách sạn ở Los Angeles. Diễn giả chính trong buổi họp này là Gu Wei Hao, quan chức của Công Ty Kỹ Nghệ Hàng Không Trung quốc. Đây là một công ty quốc doanh thành lập từ thời thập niên 1950’s với sự trợ giúp của Nga Xô Viết. Công ty này gần như biến mất khi quan hệ Trung Xô bị gẫy đổ, bây giờ người ta đang định canh tân lại công ty. Gu Wei Hao khẳng định Trung quốc cương quyết sẽ học hỏi tìm tòi những kỹ thuật tân tiến, nhất là trong lãnh vực không gian. Sau khi nghe bài diễn thuyết, ông Chung nói chuyện khá lâu với Gu. Trung quốc cần phải cải tiến việc thiết kế khung máy bay, phi thuyền, và đó là lãnh vực chuyên môn mà ông Chung là chuyên gia, biết rất rõ. Sau buổi họp này, ông Chung cũng gặp Chi Mak. Tay này đã bắt đầu sưu tầm tài liệu kỹ thuật cho Trung quốc từ lâu, thế mà ông Chung không hay biết.
Vào thập niên 1950’s, Đảng Cộng Sản Trung quốc đưa ra chiến lược qui mô thu thập tin tức. Viện Khoa Học Thông Tin Kỹ Thuật, thành lập năm 1958, lấy được hàng ngàn tài liệu nước ngoài, đem về dịch sang tiếng Hoa. Các quan chức cao cấp, học giả Trung Hoa đi Âu Châu và Hoa Kỳ dự hội nghị khoa học chịu khó ghi chép rất kỹ, nghe ngóng, nghe lén, và thỉnh thoảng còn ăn cắp cả những tài liệu chưa được xuất bản. Vào khoảng giữa thập niên 1960’s, chính phủ có khoảng 11,000 tạp chí ngoại quốc, năm triệu bằng khoán trí tuệ, và vài trăm ngàn phúc trình nghiên cứu kỹ thuật, kể cả biên bản hội nghị, hay những đề tài trình luận án tiến sĩ.
Chính quyền của Mao Trạch Đông chú trọng vào việc sưu tầm những tin tức có thể ứng dụng cho lãnh vực quân sự. Sau khi Mao chết, Trung quốc mở rộng phạm vi sưu tầm. Đến tháng ba năm 1986, Đặng Tiểu Bình thành lập Chương Trình Nghiên Cứu & Phát Minh Kỹ Thuật Cao Cấp, lấy bí số là 863. Chương trình này đặt ra chỉ tiêu làm việc  từng năm, từng tháng, và nhấn mạnh những điạ hạt phải chú trọng gồm có: không gian, sinh học, kỹ thuật laser, kỹ thuật tin học, năng lượng, và nguyên vật liệu mới. Chính phủ đỡ đầu cho các hoạt động nghiên cứu, và lập ra những công ty quốc doanh để chế tạo, hay nhập cảng những kỹ thuật cần thiết.
Khi nào có thể làm được, những công ty này phải cố tìm ra sản phẩm của công ty Tây phương bằng cách mua lại tài sản trí tuệ, hay đánh tráo, ăn cắp cho bằng được. Sau khi tất cả những thủ đoạn này làm không xong, chính phủ sẽ đứng ra yểm trợ cho hoạt động gián điệp. Bộ An Ninh Nhà nước và cơ quan tình báo quân sự sẽ huấn luyện điệp viên để gửi sang Hoa Kỳ và các nước Âu châu. Họ cũng tuyển mộ những khoa học gia, kỹ sư, và chuyên gia sinh đẻ ở Trung quốc hiện đang sống ở hải ngoại, nhất là những người có lý lịch an ninh trong sạch được làm trong những cơ sở bí mật. Có khi những khoa học gia này được yêu cầu phải lấy cắp một loại tin tức bí mật nào đó. Song cũng có khi chính quyền Trung quốc áp dụng chiến thuật “thu thập hàng  ngàn hạt cát” ráp chúng lại thành sản phẩm mong muốn.
Lấy ví dụ trường hợp ông Wang. Ông là giáo sư danh dự về ngành hoá học dược phẩm. Ông phụ trách nghiên cứu cho công ty dược phẩm Merck hồi thập niên 1970. Sau khi nghiên cứu về microbes có ở trong đất nhiều năm, ông Wang và các đồng nghiệp phát minh loại thuốc chống ký sinh trùng lấy tên là ivermectin. Chỉ ít lâu sau, tin tức về sự thành công của ông Wang được đăng tải, ông nhận được điện thoại của nhân viên làm cho công ty  dược phẩm quốc doanh ở Mãn Châu mời ông Wang đi sang thăm Trung Hoa, dặn ông đem theo mẫu microbe dùng để chế ra dược phẩm. Ông Wang nói rằng có lẽ người gọi điện thoại mời ông đi Trung quốc không hiểu việc họ làm là một điều hỗn láo, rất xấu. Thậm chí họ còn khinh thường ông bằng cách yếu cầu ông bỏ tiền túi ra mua  vé máy bay mà đi. Ông Wang giận lắm, cúp điện thoại, không thèm trả lời.
Ông Chung thì ngược lại, có thái độ khác hẳn với ông Wang. Ông Chung hăm hở muốn giúp đỡ Trung quốc. Nói về phương tiện tài chánh, vợ chồng ông Chung tương đối rất khá giả. Họ có chung cư cho thuê ở thành phố Alhambra, và một xưởng sửa xe hơi kh áphát đạt ở Long Beach. Đấy là chưa kể hai vợ chống sống rất tằn tiện. Họ cắt tóc cho nhau để đỡ tốn tiềm. Năm 1984, khi Thế Vận Hội Muà Hè tổ chức ở Los Angles đang diễn ta, vợ chồng ông Chung là một trong những Hoa Kiều hải ngoại được mời dự yến tiệc cùng với các lực sĩ Trung quốc. Có đôi lần, theo l72i yêu cầu của Lạnh Sự Quán Trung quốc ở San Francisco, vợ chồng ông Chung nhận lời bảo trợ, đỡ đầu cho người Hoa mới đến định cư ở California. Ông bà dẫn họ đi mua sắm những món đồ cần thiết cho cuộc sống, và chở họ đi chợ trong vài tháng đầu mới định cư.
Tháng Hai năm1985, ông Chung nhận được thư của quan chức tên là Chen Qi-Nan mời ông đi Trung quốc dự hội nghị “trao đổi kỹ thuật”. Ông Chen đề nghị ông Chung soạn sẵn tài liệu liên quan đến những vấn đề kỹ thuật. Trong đó có việc thử sức chịu đựng của khung máy bay sau khi sử dụng nhiều lần.
Ông Chung trả lời thư mời răằng đến tháng Bảy sắp tới là thời gian thuận tiện để ông đi Trung quốc nhân dịp nghỉ hè vài tuần, để ông có dịp chính mắt mính đi thăm phong cảnh của Quê Mẹ. Ông xin công ty Rockwell cho ông nghỉ phép bảy tuần lễ để đi chơi.
Ông Chung vẫn còn giữ lá thư mời, cũng như bản nháp thư trả lời của ông. Đọc cả hai lá thư, không biết là Trung quốc mang ơn ông, hay là ông mang ơn Trung quốc. Trong một lá thư gửi cho bạn đồng lieu của Chen Qi Nan, ông Chung viết: “Thật là một vinh hạnh lớn cho tôi, và tôi lấy làm phấn khởi khi có dịp đóng góp vào kế hoạch canh tân Quê Mẹ.”. Động lực đầu tiên xúi ông tiếp tay cho Trung quốc là “nghĩa vụ của một con dân”. Bà Ling phải thú nhận: “Nhà tôi rất trung thành với tổ quốc. Ông ấy có một tấm lòng yêu nước rất lớn.”.
Chen và Chung tiếp tục trao đổi thư từ với nhau nhiều lần. Chen hỏi ông Chung về các loại máy bay, và cách thiết kế trực thăng, và có lẽ ông Chung muốn khoe khoang kiến thức của mình, lại bàn luôn sang chương trình phi thuyền con thoi. Chen phải nhắc nhở ông Chung: “Tôi vẫn mong được ông chỉ trình bầy về các loại máy bay qui ước thôi.”. Sau đó để tránh khiến ông Chung bị giảm bớt lòng hăng say, Chen hứa việc trình bầy về phi thuyền con thoi cũng sẽ được đưa vào nghị trình.

CUỐI THÁNG SÁU NẮM 1985, ông Chung, bà Ling bay đi Trung quốc cùng với hai cậu con trai ở tuổi teenager. Trong lúc cậu Shane và Jeffrey theo học lớp dạy Hoa Văn ở Bắc Kinh, ông Chung và bà Ling đi thăm khoảng hơn một chục thành phố khác nhau cùng với các đoàn du lịch.  Họ ghé thăm nhiều nơí chế tạo máy bay ở tỉnh Nanchang, Chengdu và Xi’an. Bộ hàng không sắp xếp, và trả hết phi cho những chuyến đi này. Ông Chung còn là diễn giả trình bầy những vấn đề kỹ thuật cho mọi người nghe. Chương trình diễn thuyết của ông được các đại học lớn, và cơ xưởng kỹ nghệ đài thọ. Ông Chung dùng phim ảnh, tài liệu mang từ Mỹ sang để trình bầy về cách thiết kế phi thuyền của Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA), làm cách nào để đưa phi thuyền con thoi trở về trái đất an  toàn. Ông Chung nhận thấy những kỷ thuật ở Bắc Kinh quá lỗi thời, có từ thập niên 1950’s và chưa được canh tân, cập nhật.
Chuyến đi thăm Trung quốc lần này là chuyến đi đầu tiên trong đời ông Chung ở tuổi chững chạc. Nó để lại trong tâm khảm ông rất nhiều dư âm quan trọng cả về mặt chuyên môn, cũng như tình cảm cá nhân. Xen vào giữa những buổi diễn thuyết ở các xí nghiệp, ông Chung còn được Bộ Hàng Không sắp xếp cho đi thăm nhiều thắng cảnh đẹp của đát nước Trung Hoa. Đó là những nơi khi còn nhỏ, cậu bé Chung hằng ước mơ được đi thăm. Ví dụ như Tượng Phật vĩ đại xây trên núi Leshan, và Chuà Dyan ở thành phố Xi’an. Trong lúc lái xe đi qua nhiều làng mạc, ông Chung trông thấy dân quê Trung quốc hái sen từ vũng sình lầy. Bà Ling kể lại cho tôi rằng khi ông Chung ngồi toạ thiền, ông đã hồi tưởng và thấy được cuộc đời của ông ở kiếp trước, đó là cuộc đời của một nhà sư trong ngôi chùa Trung Hoa.
Vào cuối mùa hè, ông Chung đem về Mỹ những món quà lưu niệm nhỏ: chiếc kim cài lên cà vạt do hãng chế tạo máy bay tặng, một vật trang sức cho cà vạt khác do Trung quốc Học Viện Công Nghệ làm riêng cho ông, kèm theo một bảng vấn lục dài tám trang. Đó là danh sách những điểm kỹ thuật mà các kỹ sư hàng không ở Nanchang muốn tìm hiểu. Ông Chung để ra vài tháng nghiên cứu sách vở để trả lời những câu hỏi mà  các kỹ sư yêu cầu. Đến tháng 12, đích thân ông Chung lái xe lên Lãnh sự quán Trung quốc ở San Francisco để gửi tài liệu đi Nanchang qua thể thức gửi hàng của giới noại giao.  Những thứ ông Chung gửi đi, nếu giới chức Hoa Kỳ biết được chắc hẳn họ phải kinh hoàng. Toàn là những tài liệu mật có giá trị  dầy khoảng bảy cuốn sách cẩm nang về kỹ thuật từ tài liệu công nghệ của công ty Rockwell cho đến cách thiết kế oanh tạc cơ B-1.
Ông Moberly nói với tôi: “Tài liệu ông Chung gửi đi chính là Toa Thuốc Thánh giúp cho công ty sản xuất máy bay Trung quốc có thể làm được những gì Hoa Kỳ đang làm.”. Ông Chung đã đem cho đi những kiến thức kỹ thuật mà công ty Rockwell phải mất hàng chục triệu đô la, và nhiều năm mới sáng chế ra được kỹ thuật đó. Bà Ling thì cho rằng chẳng có gì đáng kể, bạn bè giúp nhau là chuyện thường. Bà nói với tôi: “Toàn bộ quan hệ này chỉ mang tính chất hữu nghị. Ở Trung quốc, mọi người đều sẵn lòng giúp đỡ nhau. Nếu bạn là kỹ sư, thì bạn nên làm những gì bạn có thể làm được để giúp cho tổ quốc của bạn.” .
Trong khoảng thời gian một năm rưỡi sau, gia đình họ Chung mua thêm nhiều tài sản điạ ốc. Tháng 10 năm 1986, họ mua một căn nhà ở vùng Cypress, California. Năm tháng sau, họ trả bằng tiền mặt khoảng 600,000 để mua một căn nhà rộng một mẫu đất ở Orange, và còn có dư tiền để xây lại căn nhà từ đầu. Đặc biệt là gia đình này không thích xe xua, đi xe đắt tiền hay áo quần sang trọng. Vì thế hàng xóm không ai để ý đến sự giầu có của gia đình này.
Gu Wei Hao thỉnh thoảng ghé thăm gia đình, và hai vợ chồng ông Chung đưa quan chức này đi chơi nhiều nơi, như Disneyland, hay ra biển hóng mát. Phụ cấp công tác ngoại giao của Gu bèo lắm, chỉ được có $4 đô la một ngày. Vì thế phần lớn vợ chồng ông Chung trả hết chi phí đi chơi cho Gu. Nếu không hẳn là Gu phải có một qũi đen nào đó để cho y tiêu dùng.
Gia đình ông Chung dọn về căn nhà mới vào năm 1989. Chiều tối, nôg Chung có cái thú tiêu khiển lấy ống viễn vọng kính nghiên cứu vì sao trên trời. Ông thích nghiên cứu bản đồ thiên văn học của Trung Hoa ngày xưa, xác định các chùm sao tinh tú trên trời. Bà Ling là người ưa thích mỹ thuật, hội hoạ. Bà lấy thêm văn bằng cao học mỹ thuật của trường California State University, Long Beach. Bà biến cái garage nhà bà thành một studio cho bà vẽ tranh. Bà cũng nhận dạy hội hoạ cho trường đại học cộng đồng ở điạ phương. Bà thích dạy về trường phái tân ấn tượng, trừu tượng, và tĩnh vật thịnh hành ở Hoa Kỳ và Âu châu vào cuối thập niên1970’s. Một đồng nghiệp trong trường nói với chúng tôi: “Bà có một số môn đệ rất thích theo học với bà, họ mê  say lối dạy của bà.”.
Vào năm 1998, tức là hai năm sau khi hãng Boeing mua lại hãng Rockwell, ban quản trị mới quyết định rời văn phòng đi nơi khác. Nhân viên được chỉ thị phải chuẩn bị thu dọn đồ đạc. Những tài liệu tham khảo cần giữ được tập trung vào các thùng để sẵn, và công ty vận chuyển sẽ đem đi. Những thứ nào cần vứt đi, cứ bỏ vào bao rác, sẽ có người đến đem đi đốt bỏ. Trong vòng vài tuần lễ sau đó, ông Chung đem về nhà hàng chục thùng tài liệu. Ông dấu những thùng tài liệu này trên những kệ sách trong căn hầm sau nhà. Những người quen ông ở Trung quốc nhờ ông thu thập bất cứ tài liệu kỹ thuật nào hữu ích. Bây giờ thì ông có thể có đủ tài liệu để cung cấp cho họ trong nhiều năm chưa hết.
Năm 2002, khi ông Chung sắp đến tuổi về hưu. Ông vào sở liên tục in rất nhiều tài liệu gốc của công ty Boeing ra. Trên mỗi bản in ra, ông ta phải mừng chất keo mầu trắng để xoá lời cảnh cáo, cấm không được chia sẻ tin tức trong tài liệu với người ngoài công ty. Ông cũng cẩn thận ghi lại ngày tháng sao chụp, và xoá bỏ tên nhân viên chụp bản sao. Ông làm photocopy những tài liệu này, bản chính do ông giữ, bản chụp hình ông gửi sang Trung quốc. Khối lượng tài liệu in và sao chụp rất lớn, ông Moberly nói với tôi: “Ông Chung chắc phải dùng hàng trăm bình nước tẩy xoá máu trắng.”.

NĂM 2007, TRONG PHIÊN TOÀ LIÊN BANG KÉO DÀI 6 TUẦN LỄ, tại Santa Ana, California, công tố viên trình bầy lý luận truy tố Chi Mak là một tên gián điệp làm việc cho chính quyền Trung quốc. Họ tố cáo những tài liệu do Chi Mak thu thập đã giúp Trung quốc làm được hệ thống radar Aegis. Hệ thống đó giúp bảo vệ các tầu chiến Trung quốc. Bồi thẩm đoàn quyết định kết án Mak về tội làm gián điệp cho chính phủ nước ngoài, và hắn bị tuyên án 24 năm tù, trong nhà tù liên bang. Đây là một bản án nặng nhất dành cho một tên gián điệp cho Trung cộng làm việc tại Hoa Kỳ.
Một người em trai của Mak, cùng bà vợ của y, bị cảnh sát phi trường quốc tế Los Angeles bắt giữ cùng với một cuốn CD chứa đựng số tài liệu mật. Tuy nhiên, trong trường hợp của ông Chung, các điều tra viên gặp phải điểm khó khăn khi truy tố. Trong nhiều tháng, thám tử của FBI nghiên cứu hơn ba trăm ngàn trang giấy tịch thu ở nhà ông Chung, nhưng không có một tài liệu nào được gọi là tài liệu mật. Ông Chung không thể bị kết án là đã tiết lộ bí mật quốc gia cho nước ngoài. Khi biện lý cuộc chứng minh ông Chung đã chia sẻ tài liệu mật với viên chức cao cấp Trung quốc vào thập niên 1980, đến nay đã quá hạn kỳ truy tố 5 năm, nên những vi phạm nếu có xảy ra cũng không còn đầy đủ hiệu lực dùng để kết án. Ông Moberly nói: “Rõ rệt là ông Chung  đã làm điều sai quấy. Nhưng chúng tôi phải tìm ra luật lệ nào mà ông Chung đã vi phạm, để truy tố ông ta.”.
Trong lúc xem xét qua những luật lệ liên bang, ông Moberly bắt gặp một đoạn văn mang tựa đề: “Economic Espionage” (Làm Gián Điệp Kinh Tế) đã được Quốc Hội thông qua và làm thành luật Economic Espionage Act  năm 1996. Ông Moberly nhớ là mình đã học qua lớp học dài khoảng 30 phút trong chương trình huấn luyện phản gián. Lớp học ngắn quá, và ít có ai bị truy tố về tội làm gián điệp kinh tế, nên không ai để ý đến đạo luật này.
Nội dung của đạo luật nói rằng kẻ làm gián điệp kinh tế là người đã  “lấy đi, mang theo, cất dấu” hay “sử dụng không đúng cách” những bí mật mậu dịch với chủ đích trợ giúp chính quyền nước ngoài. Đối với trường hợp của ông Chung, công tố viên không cần phải chứng minh ông Chung chuyển giao tài liệu sang Trung Hoa trong năm năm qua. Chỉ riêng việc ông cất dấu bí mật mậu dịch trong căn hầm đủ để kết tội ông.
Năm 2009, vụ án liên quan đến ông Chung được đem ra xét xử. Chánh án kỳ này cũng chính là thẩm phán Cormac J. Carney, người từng xử Chi Mak trước đây. Trong phần lấy lời khai, chuyên viên tình báo FBI, Ronald Guerin, trình bầy kỹ thuật ngành tình báo Trung quốc tuyển người làm gián điệp cho họ. Ông Guerin phân tích: “Tình báo Trung quốc cố tình khai thác khía cạnh Trung Hoa nơi người làm mật báo viên. Họ dụ dỗ những người này bảo rằng họ cứ chịu khó làm gián điệp cho Trung quốc đi, nó chẳng hại gì Hoa Kỳ cả, chỉ giúp cho Trung quốc thôi.”., “Bạn chỉ cần vỗ vai người Hoa, và bảo anh ta rằng anh cần giúp đỡ cho Quê Mẹ, cho đất nước của anh.. Và sau đó, anh cho người mật báo bằng khen, bằng tưởng lục…, hay cho người ấy một số tiền.”. Trong trường hợp của ông Chung, rõ rệt là ngành tình báo Trung quốc đã dùng nghệ thuật ngon ngọt nói nịnh ông Chung, và đem lại hiệu quả tốt. Việc truy tố ông Chung không hề có bằng cớ về số tiền trao đổi để lấy tin tức.
Phe bào chữa cho ông Chung lý luận rằng quả thực ông Chung đã làm một số việc “ngu dại trong quá khứ”, nhưng từ chối không nhận tội chia sẻ tin tức mật. Ông ta chỉ là một kẻ tàng trữ tin tức vào hàng tép riu. Ngay lập tức, ông Greg Staples, công tố viên trưởng, phản bác liền: “Hắn không phải là loại tép riu. Hắn là tên tàng trữ tin tức khổng lồ, ghê gớm, và đáng sợ.”.
Ông Chung trở thành người Mỹ đầu tiên bị kết tội làm gián điệp kinh tế. Ông bị kết án 15 năm 9 tháng tù. Từ sau vụ này, còn có bốn người khác bị công tố viên liên bang truy tố về tội làm gián điệp kinh tế. Tổng cộng có năm người bị kết án với tội danh này.
Sau này, ông Moberley kể cho biết trong thời gian vụ xử tiếp diễn, có lần ông Chung xác nhận ông trao tài liệu mật, và được nhận tiền thưởng. Để bảo vệ bí mật cho cơ quan FBI, ông Chung không dám công khai nói trước toà về trường hợp ông được trả tiền. Những lời cáo buộc trùng hợp với nội dung lá thư mà Gu Wei Hao viết cho ông Chung, hứa sẽ trả bằng tiền mặt cho ông Chung. Ngoài ra, trương mục ngân hàng của ông Chung tương đối không có nhiều tiền, và đồng lương của ông ở Rockwell không quá lớn, khoảng $60,000 một năm. Vậy mà không hiểu nhờ đâu mà ông Chung có thể làm chủ một garage sửa xe, một cchung cư ba căn apartment cho thuê, và làm chủ hai căn nhà cùng một lúc.  Ông Moberly vẫn nói với tôi rằng: “Tôi không bao giờ tin ông Chung làm chuyện này
 để lấy tiền.”. Rất có thể chính quyền Trung quốc cho ông Chung vài chục ngàn như là một số tiền tưởng thưởng, khích lệ mà thôi.

ÔNG CHUNG KHÔNG BAO GIỜ CHO PHÉP TÔI VÀO THĂM ÔNG TRONG NHÀ TÙ,  nhưng bà Ling thì miễn cưỡng trả lời điện thoại của tôi. Bà không bị truy tố về tội hình. Một buổi chiều, tôi đậu xe ở cuối đường Grovewood Lane, đi bộ lại căn nhà ông bà Chung có cổng sắt. Chuông bấm ở cổng đầy máng nhện bám, ám chỉ rất hiếm khi họ có khách đến nhà. Sân cỏ trước nhà mọc đầy cỏ dại, cái xe cút kít để hốt lá cây khô, nằm chỏng gọng ở một góc, không có ai dùng đến nó từ nhiều năm nay.
Khi tôi bấm chuông cửa, bà Ling Chung bước ra, dơ tay vẫy từ bực thềm trước nhà. Bà mặc bộ quần áo ở nhà mầu xanh lá cây, tóc bà bơ phờ, không trang điểm. Bà mời tôi ngồi ở ghế sa lông mầu trắng trong phòng khách. Nắng chiều lọt vào khe cửa làm loé lên vài đường nắng sáng trên nền thảm.
Bà Ling rót ra một ly nước, mời tôi, và ngồi đối diện với tôi. Với nụ cười chán nản trên môi, bà kể cho tôi kỷ niệm hồi hai vợ chồng bà xin vào quốc tịch Mỹ. Trong mục câu hỏi “Liệu ông có sẵn sàng cầm súng bảo vệ Hoa Kỳ hay không?”. Ông Chung bỏ trống, không trả lời. Người phỏng vấn hỏi ông Chung: “Ông có sẵn sàng chiến đấu chống lại Trung quốc trong trường hợp xảy ra chiến tranh hay không?”. Bà Ling nhớ rõ câu trả lời của ông Chung là: “Nếu việc này xảy ra, tôi sẽ lấy khẩu súng tự bắn vào mình trước.”.
Chúng tôi bước bên nhau, đi từ phòng khách sang xưởng vẽ của bà. Phòng vẽ tranh trông ra sân trước. Một bức tranh trừu tượng khổ lớn đang để trên nền nhà, tưạ vào tường. Bà Ling nói với tôi rằng từ nhiều năm nay, bà tiếp tục vẽ tranh. Bà chỉ tay về phía một bức tranh trông như thập tự giá mầu violet, trên một chân trời tím. Bà nói tựa đề bức tranh này là “45436-112”. Đó là con số tù của chồng bà đang đeo khi thụ án tại một nhà tù liên bang, không bị kiểm soát chặt chẽ. Nhà tù này ở thành phố Butner, tiểu bang North Carolina. Vài tháng bà đi thăm ông một lần.
Nước mắt ứa trên khoé mắt của bà. Bà tâm sự với tôi: “Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, là chúng tôi quyết định sẽ lấy nhau. Vợ chồng chúng tôi sống rất hoà thuận, hạnh phúc. Ngay cả khi chúng tôi trên 60, bạn bè thường nói chúng tôi trông như cặp tình nhân ở thuở sinh viên.”. Khi ông Chung còn làm cho hãng Boeing, thỉnh thoảng ông ngủ trưa trong hãng, ông choàng tỉnh dậy vì nằm mơ thấy bà Ling đứng cạnh hát cho ông nghe. Ông hay cằn nhằn: “Tôi đã nói với bà nhiều lần, đừng  đứng cạnh tôi mà hát, tôi ngủ không được.”. Trong đầu ông lúc nào cũng nghĩ rằng tôi đang hát.
Tôi hỏi bà Ling liệu ông Chung có thuỷ chung với nước Trung Hoa nhiều như ông chung thủy với bà? Phải chăng các quan chức Trung quốc đã lợi dụng tấm lòng chung thủy của ông Chung? Bà lặng thinh, không trả lời. Tôi hỏi thêm theo bà nghĩ ông  Chung có vô tội không?. Bà nói: “Tôi không thể trả lời câu hỏi này được.”
Bà cho rằng các công tố viên đã suy nghĩ nông cạn, khi tìm hiểu động lực nào đã khiến ông Chung làm chuyện này. Theo bà: “Những công tố viên này chỉ nghĩ một cách phiến diện, lướt qua trên bề mặt của vấn đề.”. Sau đó, bà phân tích kỹ hơn cho tôi nghe: Chủ đích của ông Chung là giúp Trung quốc, và không có ý định làm hại Hoa Kỳ. Bà nói thêm: “Khi ông kết bạn với một người, người ấy nhờ ông giúp đỡ, nếu ông là kỹ sư, hay hoạ sĩ. Ông biết gì thì giúp bạn ông trong khả năng của mình. Chỉ có thế thôi.”.
Trước khi ra về, bà Ling  cho tôi xem một tấm giấy dài, dán trên tường, ngay cửa bước vào phòng vẽ tranh. Trên tấm giấy viết những hàng chữa Tầu rất đẹp: Đó là một số điều người Phật Tử nên làm. Chính ông Chung đã chép tay những điều này cho bà Ling. Tôi thắc mắc không hiểu những điều Đức Phật dạy có giúp gì cho ông Chung trong việc giải quyết xung đột giữa hai chọn lựa ông nên trung thành với Hoa Kỳ hay với Trung quốc. Tôi hỏi bà Ling xem bà có thể cùng một lúc duy trì thái độ của hai con người, với hai quốc tịch. Mắt bà sáng hẳn lên, bà nói: “Tôi là một người Hoa, Tôi cũng là một người Mỹ. Điều này thật là đẹp. Việc gì cứ phải biến nó thành hai thực thể kình chống nhau?”.

Bài phóng sự điều tra của Yudhijist Bhattacharjee trên The New Yorker 5/5/14
Nguyễn Minh Tâm dịch

Saturday, May 10, 2014

Bài Diễn Văn của Hoa Hậu Hoa Kỳ 2013 ..

 Bài Diễn Văn của Hoa Hậu Hoa Kỳ 2013 ..
To: yenhtran@hotmail.com

Bài diễn văn rất đặc biệt của Hoa Hậu Mỹ năm 2012- 2013 là cô gái Việt tên là Cung Hoàng Kim, cha : Cung Nhật Thành hiện phục vụ trong ngành Cảnh Sát Hoa Kỳ và mẹ là Giáo Sư Trần Thủy Tiên (đã về hưu sau 16 năm làm việc tại Colleges: College Advisor, Psychology/Sociology/ Vietnamese Professor. M.A in Counseling & Guidance và M.S. in Psychology/ Sociology) .
Bài Diễn Văn Của Cô Cung Hoàng Kim,
Hoa Hậu Toàn Quốc Hoa Kỳ 2012-2013,
tại Austin, Texas
Kính Thưa Quý Vị,
Qua Lịch Sử, chúng ta được học là nên ghi nhớ lấy các Tư Tưởng, hơn là Con Người. Vì con người có thể thất bại. Con người có thể bị bắt giữ, bị giết chết và quên lãng, nhưng dù năm tháng trôi qua, một tư tưởng vẫn có thể tồn tại và thay đổi cả thế giới. Chúng ta không thể tiếp xúc, va chạm, hoặc giữ lấy một tư tưởng trong tay mình. Tư tưởng không biết đổ máu và không biết đau đớn, nhưng nó tiếp tục sống và hiện hữu với thời gian…
38 năm đã trôi qua kể từ khi Saigon thất thủ, nhưng chúng ta vẫn tụ họp ở đây hôm nay, tưởng niệm về sự mất mát quê hương xinh đẹp của mình. Tuy nhiên, có thể không đáng kể lắm về việc mất đi mảnh đất, mà đáng kể hơn nhiều, là Sự Mất Tự Do, Mất Đạo Đức, Và Sự Mưu Cầu Hạnh Phúc Cho Dân Tộc Việt Nam.
Là một nữ sinh viên 22 tuổi, sắp tốt nghiệp hạng Danh Dự, từ University of Texas (UT) vào Tháng 5, 2013, tôi tự hào là cư dân Texas, và hơn thế nữa, hãnh diện mình là người Mỹ gốc Việt. Dĩ nhiên tôi rất ý thức là gia đình tôi đến Hoa Kỳ vì sự lựa chọn chính trị, với tư cách là Người Tỵ Nạn, nạn nhân của chế độ Cộng Sản Việt Nam, chứ không phải vì lý do kinh tế vật chất.
Đằng sau lớp sơn "dân chủ" mỏng và rẻ tiền, Việt Nam bây giờ vẫn có đủ những đặc tính của Cộng Sản độc tài, mà các quốc gia tân tiến như Hoa Kỳ không thể tin được là những chuyện này còn tồn tại. Không có cơ sở thông tin nào do tư nhân làm chủ, tất cả từ báo chí, đài truyền hình, và ngay cả các chương trình ca nhạc giải trí, đều do nhà nước kiểm soát. Các người trong đảng Cộng Sản tự phong mình là "lãnh đạo" cầm quyền. Hậu quả là luật lệ không được thi hành, công an và quân đội Việt Cộng bảo vệ đảng, không bảo vệ dân, và người dân khổ sở...
Tôi thật đau xót khi nghĩ đến những cô gái đồng trang lứa với tôi ở Việt Nam hôm nay, bị mang bán ra nước ngoài, hoặc phải làm việc quá sức. Họ bị mắc bẫy trong cuộc sống đầy dẫy lạm dụng về tình dục, đói khổ, làm việc kiệt sức, nói chung là một cuộc sống đầy máu và nước mắt.
Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, tôi được đi học và được làm công việc tôi thích: làm người kể chuyện bằng cách tường-thuật tin tức về những gì xẩy ra chung quanh tôi. Tôi nhận thức, được sống trong một xứ sở tự do ở đây, là một đặc ân. Nhưng sự tự do nầy có được, với cái giá rất cao. Sau cùng, Năm Mươi Tám Ngàn Chiến Binh Hoa Kỳ, Ba Trăm Ngàn Chiến Binh Việt Nam Cộng Hòa Đã Hy Sinh Cho Miền Nam Việt Nam. Họ đã ngã xuống cho tôi được đứng đây hôm nay, trước mặt quí vị. Năm Trăm Ngàn Thuyền Nhân Việt Nam đã chết trên Biển Đông, trong khi cố gắng vượt thoát để hy vọng có Cuộc Sống Tự Do như tôi hôm nay. Những người đàn ông, phụ nữ, thanh niên, và các trẻ em, đã chiến đấu cho một Lý Tưởng hoặc một Tư Tưởng, Không Bao Giờ Mất.
Nhưng Tư Tưởng này là gì? Đó là một Nguyên Tắc về Nhân Quyền, Dân Chủ, Công Lý, và Tự Do. Nó cung cấp cho dân Việt sự yên bình trong tâm hồn và không phải khiếp sợ nhóm cầm quyền cộng sản như hiện nay. Họ có thể ngủ yên an toàn ban đêm, không phải lo toan cho có bữa ăn ngày hôm sau, hoặc bị nhốt tù vì Ý Tưởng Được Độc Lập, như Cựu Đại Úy VNCH Nguyễn Hữu Cầu, Nhà Báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, như Nông Dân Đoàn Văn Vương, như Ca Nhạc Sĩ Việt Khang, Blogger Tạ Phong Tần, nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên, và còn biết bao nhiêu người khác nữa... Họ đang gánh chịu ngục tù Cộng Sản, vì họ dám đứng lên tranh đấu cho Nhân Quyền và Độc Lập ở quê hương Việt Nam, chống lại Tầu.
Đối với thế hệ trẻ, những người được sinh ra và nuôi dưỡng trong một xã hội tự do, thì Sự Tự Do Giống Như Khí Trời Bao La. Chúng ta hiếm khi nghĩ đến nó vì Sự Tự Do luôn luôn có sẵn đó. Nhưng đối với 90 triệu người Việt đang sống trong một đất nước Cộng Sản, tràn đầy áp bức và ngăn cấm, Sự Tự Do Không Hề Hiện Hữu.
Nếu Có Ai Cần Ghi Nhớ Và Bảo Vệ Tư Tưởng Nầy, Đó Chính Là Chúng Ta, Những Người Tỵ Nạn Miền Nam Việt Nam. Chúng ta phải tranh đấu để ghi nhớ Tư Tưởng Tự Do và Nhân Quyền nầy, vì nó sống mãi trong thâm sâu, tận đáy lòng ta. Đó Là Một Giấc Mơ Rực Lửa. Lúc đầu, nó là ngọn lửa rất đẹp, thường bùng cháy dữ dội, nhưng rồi dần dần vơi đi... Tuy nhiên, khi ngọn lửa Tư Tưởng Tự Do được phát triển lâu dài, nó giống như than đốt, nóng bỏng, cháy thâm sâu xuống dưới, và không sao dập tắt được nữa…
 
Austin, Texas, Ngày 27/4/2013
HOA HẬU CUNG HOÀNG KIM

Friday, May 9, 2014

Trung Cộng không đáng sợ

Trung Cộng không đáng sợ

Trần Trung Đạo
 
May 7, 2014 at 3:28pm

Hai cuộc chiến tranh thế giới, thứ nhất và thứ hai, gây nhiều tang tóc trong lịch sử loài người nhưng cũng để lại nhiều bài học: (1) Dù đứng trên quan điểm nào, các nhà chiến lược quân sự đều đồng ý rằng, nếu chiến tranh là chọn lựa duy nhất để bảo vệ sự sống còn của đất nước, yếu tố quyết định mà một nhà lãnh đạo phải làm là chủ động chọn thời điểm để phát động chiến tranh. (2) Chiến tranh xảy ra càng sớm càng có lợi cho các nước nhỏ vì đối với các nước nhỏ, nhanh hay chậm, trước hay sau cũng không giúp họ nhiều về kỹ thuật chiến tranh trong khi với các nước lớn một năm là thời gian dài để tăng cường khả năng quân sự. (3) Không phải chỉ nước lớn mới có quyền chọn lựa chiến tranh mà một nước nhỏ cũng có thể gây ra chiến tranh và lôi kéo các nước lớn vì quyền lợi hay vì bảo vệ quyền lợi phải tham dự vào cuộc chơi sinh tử.
 
Chiến tranh và quyền lợi quốc gia
Thủ tướng Anh Lord Palmerston thời Nữ Hoàng Victoria phát biểu: “Nước Anh không có đồng minh bất diệt, kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là bất diệt và vĩnh viễn”. Câu nói đó trở thành thước đo cho chính sách đối ngoại của mọi quốc gia.
 
Kinh nghiệm thành công của Mỹ khi tham gia thế chiến thứ nhất: Suốt ba năm đầu của thế chiến thứ nhất, chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn còn bị chế ngự bởi tư tưởng cô lập kéo dài từ thời Tổng thống George Washington đến Woodrow Wilson.
 
Tháng Giêng 1917, Ngoại trưởng Đức Arthur Zimmermann gởi đại sứ Đức tại Mexico Heinrich von Eckhard qua ngã tòa đại sứ Đức tại Mỹ một bức điện tín, trong đó y chỉ thị Heinrich von Eckhard tiếp xúc chính phủ Mexico và yêu cầu quốc gia này tấn công Mỹ, và sau chiến tranh, các tiểu bang vốn thuộc của Mexico trước đây gồm Texas, New Mexico và Arizona sẽ được hoàn trả lại Mexico kèm theo một khoản tiền viện trợ lớn. Tổng thống Mexico Venustiano Carranza tức khắc thành lập một ủy ban để nghiên cứu nội dung và khả năng thu hồi các lãnh thổ bị mất trong chiến tranh Mỹ-Mexico như được hứa trong điện tín. Bức điện tín bị tình báo Anh đọc được, giải mã và gởi cho chính phủ Mỹ. Dân chúng Mỹ công phẫn và chính sách đối ngoại của Mỹ thay đổi. Ngày 6 tháng 4, 1917 Mỹ tuyên chiến với Đức.
 
Kinh nghiệm thất bại của Tiệp, Anh, Pháp khi tránh né thế chiến thứ hai: Các sử gia đã, đang và sẽ tiếp tục tranh luận về quyết định của Tổng thống Tiệp Khắc Edvard Benes khi chấp nhận các điều khoản của hiệp ước Munich dù không được mời tham dự hội nghị. Nếu Tiệp Khắc đánh nhau với Đức thì Anh, Pháp, Ba Lan, Hungary, Rumani vì quyền lợi và an ninh quốc gia bị trực tiếp đe dọa cũng phải tham gia chiến đấu bên cạnh Tiệp. Đừng quên, hiệp ước bí mật giữa Hitler và Stalin chỉ được ký một tuần trước ngày Đức xâm lăng Ba Lan và trong thời gian hiệp ước Munich gần một năm trước đó, Liên Xô vẫn còn là đồng minh của Tiệp Khắc.
 
Trong thời điểm hiệp ước Munich, không tính 900 ngàn quân Pháp và 200 ngàn quân Anh, vào tuần lễ thứ ba của tháng Chín, 1938, Tiệp Khắc có một quân đội tiên tiến với một triệu quân bao gồm 34 sư đoàn trang bị tối tân. Tiệp có khoảng 1000 phi cơ chiến đấu đủ loại. Về tăng, Tiệp có nhiều trăm tăng hạng nặng 38 tấn trang bị đại bác 75 li với hiệu năng chiến đấu vượt xa so với tăng của Đức. Khi chiếm Tiệp vào tháng Ba 1939, Đức tịch thu 469 tăng hạng nặng, 1500 phi cơ chiến đấu, 43,500 súng máy và trên một triệu súng trường. Cho đến đầu năm 1939, Đức mới bắt đầu sản xuất loại tăng Mark IV 23 tấn trang bị 75 mm và đến tháng 9, 1939, các đơn vị tăng của Đức mới chỉ có 300 tăng loại Mark III và Mark IV. Tiệp Khắc là quốc gia đã chuẩn bị cho chiến tranh. Từ tháng Ba 1938, Thủ tướng Tiệp Milan Hodza tuyên bố Tiệp sẽ đánh trả mọi sự can thiệp quân sự từ nước ngoài. Năm 1936, 12.5% GNP dành cho quốc phòng so với 13% của Đức. Ngoài ra, các vùng núi non hiểm trở Bavarian, Saxon và Silesian dọc biên giới luôn là các phòng tuyến hữu hiệu ngăn chận bước tiến của đoàn quân Hitler. Sử gia Tiệp Jaroslav Hrbek kết luận “Việc Tiệp Khắc không đánh Đức ngay cả trong trường hợp đồng minh tây phương không ủng hộ, là một sai lầm”.
 
Tuy kết quả khác nhau, việc Mỹ tham gia thế chiến thứ nhất hay Anh, Pháp tránh né thế chiến thứ hai đều bị chi phối bởi quyền lợi bức thiết của quốc gia họ.
 
Trung Cộng không dám đơn phương phát động chiến tranh đánh Việt Nam trước cũng vì bảo vệ quyền lợi và quyền lực
Các lãnh đạo Trung Cộng từ những bài học chiến tranh thế giới nêu trên và những thất bại máu xương trong lịch sử Trung Cộng của thời bị tám nước phân thây sẽ không dám đơn phương phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam với một tầm mức quy mô như chúng đã làm vào ngày 17 tháng 2 năm 1979.
 
Tại sao?
 
Những lý do người viết đã trình bày trong loạt bài về hiểm họa Trung Cộng xin tóm tắt dưới đây:
 
1. Hoàn cảnh chính trị Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung đã khác hẳn so với 35 năm trước. Chiến tranh giữa Trung Cộng và Việt Nam không còn là chiến tranh giữa hai nước mà là cuộc chiến tranh vùng và có khả năng cao lôi kéo cả Mỹ và Nhật vào. Kỹ thuật quân sự của Trung Cộng đã tiến khá xa so với thời kỳ chiến tranh với Việt Nam 1979 nhưng còn quá yếu so với Mỹ. Trung Cộng là một đất nước có lịch sử phân hóa và nội phản từ trong xương tủy. Là một nước lớn nhưng Trung Cộng thường không đủ khả năng bảo vệ chính mình. Đừng nói chi thời cuối đời nhà Thanh bị 8 nước Mỹ và Âu Châu cấu xé mà ngay thời nhà Tống vàng son của Trung Cộng cuối cùng rơi vào tay Mông Cổ, một nước rất nhỏ trên thảo nguyên phía Bắc. Và một lần nữa vào thế kỷ 17, khi nhà Minh, một triều đại rất mạnh về quân sự nhưng cũng không tránh bị tiêu diệt trong bàn tay của Mãn Thanh nhỏ bé. 
 
2. Các điều kiện kinh tế toàn cầu ngày nay đã làm cho các cường quốc phụ thuộc vào nhau nhiều hơn so với 35 năm trước. Nếu có xung đột quân sự, các quốc gia dân chủ dù thắng hay bại vẫn có cơ hội phục hồi nhưng Trung Cộng sẽ tiêu vong. Hơn ai hết, giới lãnh đạo Trung Cộng biết chế độ CS như người đi trên dây, ngồi trên lưỡi dao cạo. Sự ổn định tại Trung Cộng hiện nay chỉ là sự ổn định tạm thời vì cơ chế chính trị được xây dựng trên một nền tảng bất ổn. Trong suốt 45 năm từ khi chương trình hiện đại hóa của Đặng Tiểu Bình ra đời, các thế hệ lãnh đạo Trung Cộng tập trung vào việc phát triển kinh tế để vừa thỏa mãn nhu cầu vật chất của người dân và vừa hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, hàng hóa của Trung Cộng xuất cảng phần lớn là hàng hóa tiêu dùng và đây cũng là những loại sản phẩm mà quốc gia nào cũng có thể sản xuất được. Ngoài ra, các vấn đề môi sinh, ô nhiễm, khan hiếm năng lượng đang là những mối đe dọa trầm trọng và ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại cũng như phương tiện nuôi dưỡng cho bộ máy chiến tranh ở tầm mức thế giới hay khu vực. 
 
3. Trung Cộng một đất nước hơn một tỉ dân, với hàng trăm chủng tộc, sắc dân, giọng nói, các khu tự trị. Nhiều vùng tự trị chỉ chờ cơ hội để đòi độc lập. Quân đội dù có đông đảo và tàn bạo bao nhiêu cũng không thể ngăn chận hơn một tỉ người cùng có một phản ứng tiêu cực giống nhau. Các cuộc biểu tình ở Tân Cương cho thấy không nhất thiết phải có một tổ chức quy mô nhưng chỉ cần một tin ngắn được phát ra đúng lúc và đúng chỗ cũng có thể tạo nên một biến cố lớn và khi đó, bom nguyên tử, hỏa tiễn, chiến hạm đều trở thành vô dụng. Với sự phân cách về địa lý và dị biệt về chủng tộc, sẽ không có một hình thức cách mạng nhung, cách mạng da cam, da vàng nào dành cho Trung Cộng mà chỉ là cách mạng máu. Cách giải quyết dùng xe tăng, đại pháo bắng thẳng vào những thanh niên tay trắng tại Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình đối với phần lớn nhân loại là dã man nhưng lại phù hợp với truyền thống Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn đã qua hơn 25 năm nhưng vẫn là mối ám ảnh thường xuyên trong giấc ngủ của các lãnh đạo CSTQ bởi vì đảng chỉ dập tắt ngọn lửa trên quảng trường Thiên An Môn nhưng không dập tắt được ngọn lửa chống đối trong lòng người luôn âm ỉ. 
 
4. Trung Cộng đang bị bao vây. Hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Cộng, không những về quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Vì lý do kinh tế, họ có thể hòa hoãn hay ngay cả thân thiện với Trung Cộng nhưng khi chiến tranh bùng nổ, không một quốc gia nào sẽ chọn đứng về phía Trung Cộng. Tuy phụ thuộc nhau vào nhau về mặt kinh tế không có nghĩa là các chính quyền Mỹ không xem Trung Cộng là đối thủ nguy hiểm trong tương lai gần và không có nghĩa Mỹ ngồi yên để nhìn bàn tay tham vọng của Trung Cộng vươn xa toàn thế giới. Từ thập niên 1990 đến nay, Trung Cộng luôn chống đối mọi sự liên minh theo dạng “khối quân sự” ám chỉ sự liên kết giữa Mỹ và các nước Đông Á cũng như sự có mặt của quân đội Mỹ tại Nhật Bản, Nam Hàn và mới đây tại Trung Á. Để đối phó lại các liên minh quân sự khối, Trung Cộng cố gắng phát triển mối quan hệ đa phương với Nga và các quốc gia nhỏ khác vùng Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan qua Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), tuy nhiên các liên minh này chưa phải là đối trọng của các khối thân Mỹ. 
 
5. Chính sách của Trung Cộng đối với CSVN là vừa lấn chiếm, vừa đe dọa nhưng cũng vừa bảo vệ cơ chế CS. Mặc dù không công khai tuyên bố, giới lãnh đạo CSTQ cũng biết hiện nay chỉ còn năm quốc gia theo một loại chủ nghĩa mà giáo sư sử học Roderick Macfarquhar, thuộc đại học Harvard, gọi là chủ nghĩa Lê Nin không có Mác, tức một nhà nước chuyên chính sắc máu nhưng không còn dựa trên nền tảng triết lý duy vật. Hai cơ chế chính trị CSTQ và CSVN có một mối quan hệ hữu cơ mật thiết với các yếu tố tương quan và phụ thuộc vào nhau. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Cộng không chỉ giúp để giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Giới lãnh đạo CSVN không có vị trí độc lập về chính sách đối ngoại. Mọi chủ trương, chính sách trước khi đưa ra đều phải đo lường phản ứng từ phía Trung Cộng. 
 
Chính sách đối ngoại kiểu chuột đồng của Trung Cộng hiện nay
 
Trung Cộng theo đuổi chính sách đối ngoại như cách loài chuột đồng tàn phá mùa màng. Chúng tàn phá cả cánh đồng Việt Nam bằng cách gặm nhấm từng bụi lúa. Như đã và đang áp dụng ngay từ khi chiến tranh Việt Nam chưa chấm dứt qua các sự kiện dời cột mốc biên giới, Trung Cộng không đánh chiếm mà chỉ từ từ gặm nhắm dần mòn lãnh thổ và lành hải Việt Nam. Một mặt chúng lớn tiếng với quốc tế là luôn theo đuổi chính sách “hòa bình” và “ổn định” nhưng mặt khác lấn chiếm từng thước đất, từng bãi san hô, từng hòn đảo nhỏ trên biển Đông, đặt những giàn khoan trong thềm lục địa Việt Nam. Những hành vi ăn cắp vặt này không đủ va chạm quyền lợi nặng đến mức các cường quốc phải đặt vấn đề và các biến cố do chúng gây ra không đủ tác hại an ninh khu vực đến mức quốc tế phải quan tâm.
 
Trung Cộng làm vậy, một phần vì chúng đi guốc trong bụng các lãnh đạo CSVN. Ngoài các tuyên ngôn, tuyên cáo mang nội dung giống hệt từ sau chiến tranh biên giới đến nay, lãnh đạo CSVN không có một hành động nào cụ thể để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam. Những lời phản đối rỗng của Lê Hải Bình không gây một tác hại gì và mũi khoan của HD-981 vẫn tiếp tục ghim sâu vào lòng biển Việt Nam. Các thế hệ lãnh đạo CSVN che giấu sự phụ thuộc, sự sợ hãi chiến tranh với Trung Cộng, tham vọng quyền lực và quyền lợi trong khẩu hiệu “hòa bình và ổn định” mà quên một điều Trung Cộng ngại chiến tranh hơn bất cứ một quốc gia nào trong vùng.
 
Đại đa số nhân loại không muốn chiến tranh, nhất là Việt Nam một dân tộc đã chịu đựng quá nhiều đau thương mất mát vì chiến tranh lại càng không muốn chiến tranh. Thế nhưng, nếu chiến tranh phải đến lần nữa trên đất nước Việt Nam hãy đến càng sớm càng tốt, hãy đến khi Trung Cộng còn yếu, hãy đến khi quyền lợi các cường quốc bị va chạm và buộc phải tham gia can thiệp. Trung Cộng không có gì đáng sợ mà chỉ sợ lòng yêu nước trong mỗi người Việt Nam chưa đủ độ sục sôi.
 
Trần Trung Đạo

Tại sao họ giữ im lặng?

Tại sao họ giữ im lặng?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-05-09
      
 
Tàu hải cảnh TQ phun nước vòi rồng qua tàu kiểm ngư Việt Nam để đuổi ra khỏi khu vực
Tàu hải cảnh TC phun nước vòi rồng qua tàu kiểm ngư Việt Nam để đuổi ra khỏi khu vực
AFP  
  
Việc Trung Quốc ngang nhiên mang giàn khoan HD 981 vào khu vực đặc quyền kinh tế Việt Nam đang làm khắp thể giới chú ý và quan ngại. Người dân Việt chờ đợi sự lên tiếng từ lãnh đạo cao nhất nước để biết quan điểm của chính phủ trước cuộc xâm lược này nhưng cho tới nay gần một tuần lễ trôi qua vẫn chưa có một phát biểu nào mặc dù đại hội Trung ương đã khai mạc vào ngày 8 tháng 5 vừa qua. “Tại sao họ im lặng” là câu hỏi Mặc Lâm cố tìm hiểu sau đây.
Hình ảnh giàn khoan HD 981 vẫn bập bềnh trên vùng biển Việt Nam có lẽ khiến người dân trong và ngoài nước quan tâm hơn hết trong mọi sinh hoạt thường nhật. Báo chí Việt Nam trích đăng các bài viết của truyền thông và chuyên gia quốc tế bình luận về hành động này của Trung Quốc với tâm thức mượn lời người khác nói thay cho mình. Phóng viên không được phép theo tàu ra khơi để tận mắt chứng kiến cụ thể sự việc. Hình ảnh do nhà nước cung cấp và rất chiếu lệ khiến dư luận nghi ngờ vẫn còn điều gì bí ẩn mà Việt Nam chưa được phép công khai.
Trách nhiệm của Đảng và nhà nước
Trả lời chúng tôi về sự lo lắng chờ đợi của người dân trước một công bố chính thức từ nhà nước, ông Phạm Quang Nghị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương từ khóa VIII đến khóa XI Ủy viên Bộ Chính trị khoá X, XI. Trước đó, ông từng giữ chức Phó trưởng ban Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương, cho biết:
Đảng và nhà nước phải chịu trách nhiệm cái việc đó. Mấy hôm nay tôi cũng mới trên Điện Biên về vừa qua thấy tình hình ở nhà anh em thể hiện tích cực cũng như báo chí. Thực hiện tích cực như thế đều do các đồng chí chỉ đạo cả chứ có phải đâu là tự nhiên?
ông Phạm Quang Nghị
-Vấn đề bảo vệ độc lập chủ quyền việc thiêng liêng ai cũng phải làm. Đảng và nhà nước phải chịu trách nhiệm cái việc đó. Mấy hôm nay tôi cũng mới trên Điện Biên về vừa qua thấy tình hình ở nhà anh em thể hiện tích cực cũng như báo chí. Thực hiện tích cực như thế đều do các đồng chí chỉ đạo cả chứ có phải đâu là tự nhiên?
Bộ Ngoại giao tổ chức họp báo chỉ có thể nhìn dưới dạng chia sẻ thông tin và hoàn toàn không phải là một phản đối đúng như thông lệ quốc tế khi một nước bị sự xâm lăng của nước khác.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị - ảnh: HH/dangcongsan.vn
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị - ảnh: HH/dangcongsan.vn
 Không phải chỉ có tôi mà toàn bộ những người quan tâm yêu nước và quan tâm tới vận mệnh đều quá thất vọng có cảm giác như việc Trung Quốc xâm lược vào đây không liên quan gì tới Đảng. Đảng chỉ lo phần của Đảng thôi còn vận mệnh đất nước thì không quan tâm đến
ông Huỳnh Kim Báu
Khi tuyền hình trực tiếp hình ảnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc bài diễn văn khai mạc đại hội Trung ương 9 khóa 11 vào ngày 8 tháng 5,  trong suốt bài diển văn ấy không thấy ông đá động gì tới hai chữ Trung Quốc và điều này gây thất vọng cho không biết bao nhiêu người trong đó có ông Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký hội Trí thức Tp HCM:
-Đây là lần đầu tiên tôi chịu khó ngồi nghe hết một diễn văn của Tổng Bí thư họp Ban chấp hành Trung ương. Lý do đây là lần đầu tiên bởi vì tôi cũng quan tâm coi thử ông Tồng bí thư và Ban chấp hành Trung ương phát biều chính thức thái độ của Đảng đối với việc giàn khoan của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của mình chỉ cách Lý Sơn 220 Km tức là 168 hải lý
Không phải chỉ có tôi mà toàn bộ những người quan tâm yêu nước và quan tâm tới vận mệnh đều quá thất vọng có cảm giác như việc Trung Quốc xâm lược vào đây không liên quan gì tới Đảng. Đảng chỉ lo phần của Đảng thôi còn vận mệnh đất nước thì không quan tâm đến. Vận mệnh của đất nước giao cho Đảng, Đảng tự nhận mình là người lãnh đạo mà có một thái độ như thế thì không những tôi mà tất cả những người Việt Nam yêu nước đều rất thất vọng.
Chính vì thề chúng tôi cương quyết tới ngày Chúa Nhật này cả nước sẽ tổ chức biểu tình phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc. Chúng tôi sẵn sàng đương đầu nếu nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục có những hành động khủng bố như trước đây.
Vào ngày hôm qua một nhóm trí thức nhân sĩ và cách mạng lão thành đã yêu cầu được gặp ông Chủ tịch UBND thành phố Lê Hoàng Quân để đề nghị biểu tình chống Trung Quốc nhưng yêu cầu này không được đáp ứng. GS Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội nhân văn cho biết lý do ông Quân tránh mặt:
Dàn khoan Trung Quốc HD 981 định vị khoan tại vị trí có tọa độ 15029’ vĩ độ bắc, 111012’ độ kinh đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý (theo petrotimes)
Dàn khoan Trung Quốc HD 981 định vị khoan tại vị trí có tọa độ 15029’ vĩ độ bắc, 111012’ độ kinh đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý (theo petrotimes)

-Vì muốn tiếp thì họ phải trả lời mà trả lời thì họ chưa có chủ trương. Chúng tôi đau đớn biết rằng các chiến sĩ hải quân, những người cảnh sát biển, những người ở tàu kiểm ngư của ta thì đang đổ máu ở ngoài cái vùng giàn khoan kia.
Theo GS Tương Lai thì việc Trung Quốc làm hôm nay là hệ quả trước mắt và lâu dài của một chính sách đối ngoại sai lầm.
-Chính sách đối ngoại sai lầm ấy sâu xa là do nhận thức một cách mơ hồ và sai lệch về cái được gọi là ý thức hệ do đó mới nảy sinh Hội nghị Thành Đô để từ hội nghị này tự ru ngủ lấy mình là chỉ có Trung Quốc là cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, phải dựa vào và từ đó bị ràng buộc dần đến nỗi rất khó thoát ra.
Việc không có lãnh đạo nào đứng ra công khai tuyên bố với Trung Quốc theo GS Tương Lai là còn lý do khác, sự đấu đá giữa hai phe thân và không thân Trung Quốc, ông nói:
Chính sách đối ngoại sai lầm ấy sâu xa là do nhận thức một cách mơ hồ và sai lệch về cái được gọi là ý thức hệ do đó mới nảy sinh Hội nghị Thành Đô để từ hội nghị này tự ru ngủ lấy mình là chỉ có Trung Quốc là cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa
GS Tương Lai
-Tôi tin rằng đây là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa những người ngay trong nội bộ của Bộ Chính trị, của ban Chấp hành Trung ương của những người lãnh đạo nói chung. Hãy gạt bỏ thế lực thân Trung Quốc đi. Gạt bỏ thế lực thực sự đang bị thằng Trung Quốc nằm gáy đi. Chỉ có trên cơ sở đó mới có thể tìm ra một lối thoát cho Việt Nam được.
Đương nhiên họ có thể có những kế hoạch này nọ chứ tôi không nghĩ rằng họ bán nước cả đâu nhưng tôi có cảm tưởng rằng họ không đủ bản lĩnh và cũng không đủ sự nhất trí để đưa ra những hành động.
Ngoài những dư luận nóng vội hầu hết người dân Việt đều nhẫn nại chờ đợi sự lên tiếng của người cao nhất nước như điều mà tất cả các quốc gia trên thế giới phải làm khi bị ngoại xâm. Nhân dân không chờ đợi một tuyên bố phát động cuộc chiến chống Trung Quốc, cũng không chờ đợi sự giải thích vỗ về người dân, thậm chí bằng con dao của tình hữu nghị. Người dân chỉ muốn biết lập trường của chính phủ, điều mà họ có quyền được biết một cách công khai.

Tuesday, May 6, 2014

Việt Nhật đang là đồng minh về tinh thần

Việt Nhật đang là đồng minh về tinh than


Ông Fushira nói Việt và Nhật coi nhau là 'đồng minh tinh thần' trong tranh chấp chủ quyền với TQ
Một doanh nhân người Nhật bình luận về "nét tương đồng" giữa người hai nước Nhật Việt và tranh chấp chủ quyền biển với Trung Quốc.
Trong cuộc phỏng vấn với Nguyễn Hoàng của BBC tiếng Việt, ông Hirota Fushihara, người đang làm việc cho một hãng tư vấn đầu tư của Nhật tại Việt Nam, cũng bình luận về sự khác biệt về thực trạng tham nhũng tại Việt Nam và Nhật Bản.
Hirota Fushihara: Tôi đến Hà Nội lần đầu tiên là năm 1993 và ở đây hai năm để học tiếng Việt tại Đại học Tổng hợp (nay là Đại học Quốc gia) và để tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Sau khi học tiếng Việt xong tôi trở lại Nhật và làm phiên dịch và biên dịch tự do ở Nhật.
Trước khi sang Việt Nam tôi cũng không biết nhiều gì về đất nước này, về con người, đường phố mà chỉ biết những nét sơ qua về lịch sử, về các cuộc chiến tranh.
Tôi biết rằng Việt Nam lúc đó bắt đầu quá trình đổi mới về mặt xã hội hay làm ăn kinh tế, mở cửa ra với thế giới và tôi muốn tới đây để tìm hiểu từ đầu. Và khoảng 6-7 năm trở lại đây tôi lại quay lại sống và làm việc ở Việt Nam và tôi sử dụng tiếng Việt trong suốt 20 năm và Việt Nam đã gắn bó với cuộc sống của tôi.
BBC: Mặc dù du khách Nhật tới Việt Nam tăng và các nhà đầu tư Nhật vào Việt Nam nhiều hơn nhưng so với các nước trong vùng như Malaysia, Thái Lan, Indonesia thì Việt Nam dường như chưa hấp dẫn bằng. Vậy theo ông Việt Nam có thể làm gì để trở nên hấp dẫn hơn?
Hirota Fushihara: Người Nhật rất thích Việt Nam, không cứ là du khách hay là doanh nhân. Người Nhật có một sự đồng cảm với Việt Nam do lịch sử hay qua sự giao lưu từ trước tới nay. Đúng là Việt Nam có thể làm một số cái để trở nên hấp dẫn hơn khi so sánh với các nước Đông Nam Á.
Ấn tượng đầu tiên khi đến sân bay hay sử dụng dịch vụ nào đó chẳng hạn thì có một số chi tiết như vệ sinh, xử lý rác như thế nào, bụi bậm trong thành phố, trật tự giao thông như thế nào, rồi sự ngăn nắp chỉnh chu của một số công trình thì cũng chưa được tốt bằng dịch vụ và cung cách phục vụ khách hàng tại một nước khác. Khách hàng luôn luôn cần sự nhiệt tình, chu đáo và họ là những người đánh giá mình. Những thứ đó tuy là nhỏ nhưng đôi khi tạo ra cho người ta cảm giác căng thẳng (stress).
Ngoài ra cũng phải nói tới môi trường y tế hay biển báo đi lại. Đối với người nước ngoài chưa hiểu hết về Việt Nam thì mình có thể tạo ra cách nào để người ta cảm thấy dễ chịu, thoải mái, dễ có thiện cảm.
BBC: Một số người nói rằng Việt Nam và Nhật Bản có nhiều nét tương đồng và dễ gần nhau lắm, ông đánh giá gì về nhận xét đó?
Nhật-Việt: 'Nét tương đồng và khác biệt'
Một doanh nhân, luật gia người Nhật nói nên nhìn nhận điểm khác biệt giữa người Việt với người Nhật hơn là nhấn mạnh "nét tương đồng".
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
Hirota Fushihara: Đúng là người Việt Nam và người Nhật dễ gần nhau, nhưng nhiều người có thể đã nhấn mạnh quá về tính tương đồng giữa người hai nước. So với châu Âu châu Mỹ thì người Việt và người Nhật có vẻ giống nhau, hoặc có thể nói là không phải là khác hẳn. Nhưng nếu nhìn vào chi tiết thì có nhiều cái có thể nói là khác hẳn.
Tất nhiên trong ngôn luận chính trị hay ngoại giao hay xã giao thì ai cũng nói là hay dân tộc chúng ta có nhiều nét tương đồng. Nào là đều ăn cơm, uống trà, dùng đũa, đi chùa … cái đó thì cũng có thể là đúng. Nhưng thực ra chúng ta ăn loại gạo khác nhau, trà thì cũng không phải cùng loại. Ý tôi muốn nói là có nhiều cái khác nhau về tính cách con người hai nước là có.
Cho nên nếu người Nhật cứ nghĩ là cái gì cũng giống Việt Nam hết thì khi đến Việt Nam sẽ thấy lạ. Và đôi khi cảm thấy là không phải như thế. Có khi chúng ta hiểu nhau thì phải nhìn sự khác biệt, nhìn thấy sự khác nhau đó và lý giải sự khác biệt đó để thông cảm với nhau hơn thì hơn là cứ nhấn mạnh cái tính tương đồng đấy.

'Láng giềng phương Bắc'

"...Ai đúng ai sai thì cái đó để cho ngoại giao quyết định nhưng mà về lịch sử thì có thể nói là cái đất nước Phương Bắc lúc nào cũng có cái kiểu như vậy."
Hirota Fushihara, Doanh nhân và luật gia
BBC: Vào lúc này cả Việt Nam và Nhật Bản đều có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, tại Biển Đông (trong trường hợp Việt Nam) và Biển Hoa Đông (trong trường hợp của Nhật).
Hirota Fushihara: Đúng rồi. Có thể nói Việt Nam và Nhật Bản đang là đồng minh về mặt tinh thần. Ít nhất là đồng minh về tinh thần.
Còn về kinh tế thì Nhật Bản và Việt Nam là đối tác chiến lược và toàn diện rồi. Đúng là Việt Nam gặp phải một số vấn đề ở Biển Đông và Nhật Bản gặp một số vấn đề đối với đảo ở biển phía Tây Nhật Bản thì đó có thể đó là cảm giác để chia sẻ.
Tất nhiên là tôi không dám bình luận về xu thế của vấn đề này đối với Trung Quốc. Vấn đề đó ai đúng ai sai thì cái đó để cho ngoại giao quyết định nhưng mà về lịch sử thì có thể nói là cái đất nước Phương Bắc thì là lúc nào cũng có cái kiểu như vậy.
Kiểu như thế nào thì tôi không dám bình luận nhưng mà kiểu như vậy thì Việt Nam và Nhật Bản cũng đã cảm nhận từ lâu rồi.
BBC: Khi tiếp xúc với người Việt thì anh có thấy dường như họ có thiện cảm với người Nhật hơn là người Trung Quốc?
Hirota Fushihara: Tôi là người Nhật nên thực ra tôi không biết người Trung Quốc cảm thấy thế nào khi giao tiếp với người Việt Nam. Nhưng dù sao tôi thấy người Việt Nam rất có thiện cảm với người Nhật. Phương châm của Việt Nam là làm bạn với tất cả mọi người. Người Việt không phân biệt hay tạo ra rào cản tâm lý do vấn đề về quá khứ hay cái gì đó.
Nhưng tôi cảm thấy người Việt rất có thiện cảm với người Nhật, có thể do lịch sử mặc dù Nhật Bản đã bị phá hoại hay khó khăn chiến tranh trước kia. Và mặc dù Nhật không có tài nguyên những cũng đã sử dụng nguồn lực nào đó để xây dựng quốc gia trở thành môt nước khá mạnh về kinh tế thì chắc là người Việt thiện cảm cái đó.
Cũng có thể là người Việt có thiện cảm với người Nhật thông qua các sản phẩm hay thông qua những yếu tố văn minh hiện đại của Nhật Bản đang có và đang thể hiện với thế giới.
Tham nhũng và công ích
BBC: Tham nhũng là thực trạng giới lãnh đạo Việt Nam nói khá nhiều và họ cũng đã cam kết phòng và chống tham nhũng. Là một doanh nhân, là luật gia tư vấn cho các nhà đầu tư Nhật vào Việt Nam kinh doanh, ông thấy Việt Nam có thể làm gì trong việc phòng chống tham nhũng?
"Cái ao hồ này, cái bãi biển này, đường phố kia…không phải là của riêng ai hết và nếu đã không phải của riêng ai thì phải bảo vệ tối đa giá trị của nó"
Hirota Fushihara: Đúng là đối các doanh nghiệp nước ngoài trong đó có doanh nghiệp Nhật Bản thì đa số thấy đây là việc khó xử và khó hiểu. Thực tế là không ít doanh nghiệp gặp phải chuyện này và là việc không phải là hiếm.
Có thể thấy rằng tham nhũng là chi phí của xã hội và chi phí đó không phải là chi phí đáng để chi cho hiệu quả kinh tế của toàn xã hội. Mà nếu chi phí đó quá nhiều thì nên phải loại bỏ. Nếu loại bỏ được hết thì cải thiện được hiệu quả kinh tế và xã hội được nâng cao.
Nếu anh với tôi là doanh nghiệp tư nhân với nhau thì tôi bán cho anh, thì anh có thể trả lại hoa hồng cho tôi thì đó là chuyện giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau nếu nó không trái với thẩm quyền của anh trong doanh nghiệp của anh. Nhưng vấn đề ở chỗ nếu đó không phải là tư nhân làm mà là cán bộ, công chức làm thì đó là chuyện khác.
Chúng ta phải nên phân biệt những cái gì là của công là thuộc về hạ tầng cơ sở của xã hội. Kể cả bộ máy nhà nước cũng là công ích xã hội. Thì nếu anh là công chức thì anh không nên làm giá trị của công ích đó bị méo mó đi.
Nhiều khi người ta không phân biệt thế nào là công thế nào là tư. Cái ao hồ này, cái bãi biển này, đường phố kia…không phải là của riêng ai hết và nếu đã không phải của riêng ai thì phải bảo vệ tối đa giá trị của nó. Không nên vô tình hoặc cố tình làm giảm giá trị của những cái công ích này.
Vậy tôi nghĩ thẩm quyền nhà nước hay bộ máy nhà nước là giá trị công ích đó thì chúng ta phải bảo vệ tối đa, không nên bớt lại. Còn trong cái nhà của anh, trong cái doanh nghiệp của anh, nếu nó không trái với trật tự doanh nghiệp của anh thì anh làm gì là tùy thuộc vào anh thôi.
BBC: Có những người biện luận là tham nhũng thì ở đâu chả có, kể cả Nhật.
"Phải có sự thay đổi từ lãnh đạo, từ nhà nước thì dân mới thay đổi và cái đó chính là ý nghĩa của giáo dục"
Hirota Fushihara: Nhật thì có thể nói là cũng có tham nhũng nhưng thực sự có sự khác biệt giữa cái tham nhũng bên Nhật và tham nhũng ở Việt Nam. Tôi có thể nói là ở Nhật thì nó ở mức độ hiếm, xác suất ít hơn nhiều.
Trong chương trình hài hước cuối năm Táo Quân của VTV cuối năm thì chúng ta cũng thấy là Táo giao thông nói về việc công an giao thông đôi khi có một số bộ phận nhận tiền từ đời sống hàng ngày.
Tức là tham nhũng ở cái cấp độ đó thì có thể nói là hầu như không có tại Nhật Bản. Nếu có thì nó là ở cấp rất cao hoặc tương đối cao của bộ máy nhà nước thì có thể có. Tức là thực trạng tham nhũng ở Nhật nó không xảy ra với người dân ở đời sống bình thường nhưng Việt Nam thì đôi khi diễn ra ở những chỗ đấy.
Cho nên những việc đó dễ dàng ảnh hưởng tới lối sống, qui phạm sống của dân mình. Tức là điều đó sẽ làm mai một đi, hay làm tê liệt một phần ‎ý thức tuân thủ pháp luật của dân mình. Pháp luật cũng là giá trị công ích. Nếu sức mạnh pháp luật yếu đi thì không được.
Vấn đề là giáo dục và không thể giáo dục một sớm một chiều. Mà giáo dục này không phải là giáo dục cho trẻ em mà thôi và giáo dục cho chính người lớn chúng ta. Mà nếu chỉ giáo dục cho nhân dân mà chưa giáo dục cho những người đang tham gia, đang có hành động tham nhũng thì không được.
Phải có sự thay đổi từ lãnh đạo, từ nhà nước thì dân mới thay đổi và cái đó chính là ý nghĩa của giáo dục.

Friday, May 2, 2014

'Quốc gia thua để thắng, CS thắng để thua'

'Quốc gia thua để thắng, CS thắng để thua'
                       
 
                                   
CỠ CHỮ- +
Ðúng 39 năm trước đây (1975-2014), ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng giai đoạn 2 tại Việt Nam đã chấm dứt sau 21 năm diễn biến khốc liệt (1954-1975).
   
Sau cuộc chiến, đã có nhiều cách lý giải và đánh giá về sự kết thúc chiến tranh Việt Nam một cách không bình thường. Riêng chúng tôi, nhân ngày 30 tháng 4  lần thứ 39 hôm nay, chỉ xin nhắc lại một cách đánh giá tổng quát đã được đưa ra chỉ vài năm sau cuộc chiến chấm dứt (1), để quý độc giả cảm nghiệm xem có đúng với những gì đã và đang xây ra trên thực tế hay không. Ðó là ý nghĩa lịch sử về Ngày 30-4-1975: “Quốc gia thua để thắng, Cộng sản thắng để thua”. Vì sao?
       
Vì CSVN vốn là công cụ bành trướng chủ nghĩa thực dân mới của Ðế quốc Ðỏ Liên Xô trong thời kỳ “Chiến tranh Ý thức hệ” diễn ra dưới hai hình thái “Chiến tranh Lạnh” giữa các nước giầu và “Chiến tranh Nóng” nơi một số các nước nghèo, trong đó có Việt Nam được chọn làm tiền đồn của hai phe tư bản và cộng sản. Do đó ý đồ và mục tiêu của đảng CSVN không thể khác ý đồ và mục tiêu của đảng Cộng Sản Liên Xô (CSLX). Như vậy, thực tế sau ngày 30-4-1975, nếu là một “Chiến thắng thật”, tình hình Việt Nam phải khác, nghĩa là CSVN phải được Liên Xô và các nước “Xã Hội Chủ Nghĩa anh em” hổ trợ tích cực, toàn diện và vô điều kiện để xây cựng thành công chủ nghĩa xã hội tại thuộc địa kiểu mới Việt Nam, phát huy thắng lợi để tiếp tục đẩy mạnh “Chiến tranh Cách mạng”, “Chiến tranh Giải phóng” đến các nước trong vùng như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Ðiện, Malaysia, Philippines, v.v...Thế nhưng thực tế hoàn toàn khác: Tất cả những điều đáng lẽ phải xẩy ra đó đã không xẩy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.

Thực tế sau đó Liên Xô đã thất bại trong nỗ lực “Cải Tổ” (Glasnost) và “Tái cấu trúc” (Perestroika) đi đến sụp đổ, kéo theo sự tiêu vong các nước XHCN Ðông Âu. Trung Cộng thực hiện chính sách “Mở cửa” làm ăn với Tư bản. Chế độ công cụ Việt Cộng vội đưa ra chính sách “Ðổi Mới” theo gương “Cải Tổ” của Liên Xô (1986). Rồi vội cầu hoà với Trung Cộng và học tập lý luận sáng tạo mới của nước đàn anh xấu bụng và có tham vọng bá quyền này, rằng: “Chủ nghĩa xã hội cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường” được Việt cộng hoá thành con đường “Ðổi mới” qua “Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa”(!?!).

Ðây là lối lý luận ngụy biện, cưỡng ép nhằm che đậy thực trạng và chiều hướng mới không thể đảo ngược tại Việt Nam cũng như toàn cầu: Chủ nghĩa xã hội đã phá sản, đã tiêu vong tại Liên Xô, đang tiêu vong tại Việt Nam và các nước XHCN còn lại (Trung Cộng, Bắc Triều Tiên và Cuba).

Quá trình tiêu vong CNXH tại Việt Nam khởi đi từ ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Việt Cộng đã lý luận cưỡng ép, ngụy biện, duy ý chí, vì nó trái ngược với thực tế. Thực tế phát triển trong môi trường kinh tế thị trường không thể định hướng XHCN, mà tất yếu sẽ phải phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa. Trong môi trường này, tất yếu nhà nước XHCN sẽ bị tư bản hoá, chế độ chuyên chính vô sản sẽ được dân chủ hoá từng bước, và các cán bộ đảng viên cộng sản đã và đang được tư sản hoá trở thành những nhà tư bản Ðỏ, những “Đại gia Đỏ vỏ xanh lòng”. Chiều hướng phát triển này đã được thể hiện ngày càng rõ nét trên thực tế tại Việt nam, ai cũng có thể thấy và kiểm chứng được.

Và thực tế như thế rõ ràng là ngày 30-4-1975 “Cộng sản thắng để thua” cuộc thực sự vào cuối quá trình của sự tiêu vong chế độ XHCN về mặt bản thể. Bởi vì, cuối cùng thì mục tiêu và lý tưởng của những người CSVN đã không đạt được. Trái lại, thực tế đã thúc ép, dẫn dắt và buộc được CSVN phải đi vào quỹ đạo (tự do, kinh tế thị trường) của đối phương (Việt quốc) và thực hiện theo đúng lý tưởng của người quốc gia (tự do, dân chủ, nhân quyền tất thắng)và mục tiêu tối hậu (dân chủ hoá Việt Nam, phát triển toàn diện đất nước trong nền kinh tế thị trường) của đối phương (Việt quốc).Đây mới đúng là “Chiều hướng mới không thể đảo ngược” (Dân chủ pháp trị tất thắng độc tài toàn trị).

Thật vây, đối phương của Việt Cộng là những người Việt Quốc gia, lý tưởng và mục tiêu đấu tranh trước sau như một: tiêu diệt độc tài, xây dựng chế độ dân chủ tự do, xã hội công bằng, phát triển toàn diện đất nước đến phú cường, văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại.

Và vì vậy, kể từ sau ngày giành được độc lập từ tay thực dân Pháp vào năm 1954, mong muốn chân thành của những người Việt Quốc Gia ở Miền Nam Việt Nam, kẻ cầm quyền cũng như dân giả, là thiết lập một chế độ độc lập dân tộc, dân chủ tự do (Việt Nam Cộng Hoà) và phát triển toàn diện Miền Nam đến giầu mạnh. Thành quả mong muốn này sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp chính trị (dân chủ), kinh tế (giầu mạnh), xã hội(công bình) khả dĩ đánh bại chế độ của những người Cộng sản Bắc Việt: chính trị (độc tài toàn trị), kinh tế (nghèo đói), xã hội (áp bức, bất công), mà không cần xử dụng sức mạnh quân sự tiêu diệt đối phương (Việt cộng).

Nói cách khác, thay vì dùng chiến tranh để áp đặt mô hình chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa xã hội, hai chế độ chính trị đối nghịch trên hai Miền Bắc, Nam sẽ có thời gian và cơ hội thi đua thực hiện mô hình chính trị, kinh tế, xã hội của mình, chờ cơ may thống nhất đất nước một cách hoà bình, thông qua con đường hòa bình và dân chủ. Lúc đó, mô hình xây dựng và phát triển đất nước nào (của Việt quốc hay Việt cộng) có hiệu quả thực tiễn sẽ ưu thắng, sẽ được nhân dân hai miền chọn lựa bằng lá phiếu của đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý tự do thực sự, có giám sát quốc tế nếu cần.

Thế nhưng ước muốn chân thành và hết sức có lợi cho đất nước và dân tộc trên đây của những người Việt quốc gia ở Miền Nam đã không được những người CSVN ở Miền Bắc đáp ứng.

Bởi lý tưởng và mục tiêu của những người CSVN hoàn toàn khác biệt với lý tưởng và mục tiêu của người Việt quốc gia. Sự khác biệt rõ nét nhất là Người Quốc Gia hành động tất cả vì Quốc Gia Dân Tộc, cho Tổ Quốc Việt Nam, trong khi những Người Cộng Sản Việt Nam hành động tất cả vì Quốc Tế Cộng Sản, cho Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô. Do đó, để làm tròn nghĩa vụ công cụ bành trướng hầu áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên cả nước, đảng CSVN đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, đẩy chính quyền và nhân dân Miền Nam Việt Nam vào một cuộc chiến tranh tự vệ và Hoa Kỳ có cớ can thiệp ngày càng sâu rộng vào chủ quyền VNCH.  Cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn này đã kéo dài hơn 20 năm (1954-1975), sát hại hàng triệu sinh linh, tàn phá đất nước, di hại lâu dài nhiều mặt cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhưng rồi sau cùng thì cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn cũng đã phải kết thúc và đã kết thúc một cách không bình thường, do sự sắp xếp tiền định của ngoại bang, đã để cho CSBV “thắng cuộc chiến” một cách dễ dàng, không cần chiến đấu(vì đối phương bị ép buộc đầu hàng) không cần giữ đất và không đủ người để tiếp thu (vì bất ngờ, tốc độ rút lui của VQ nhanh hơn tốc độ tiến quân của VC)

Chính vì sự kết thúc chiến tranh không bình thường này, mà ngay từ những ngày tháng năm đầu, khi cuộc chiến vừa tàn, người Việt Quốc gia ở Miền Nam không khỏi nghĩ lại nhận định có tính tiên liệu của hai ngoại nhân. Một là Tướng độc nhản Moise Dayan, Bộ Trưởng Do Thái lúc bấy giờ khi đến thăm Miền Nam; hai là Sir Wilson. một chuyên viên Anh quốc làm cố vấn về du kích chiến cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam; Cả hai ngoại nhân này đều có chung nhận định đại ý  “Muốn chiến thắng cộng sản tại Việt Nam, chỉ còn cách cộng sản hoá Nam Việt Nam”. Nay thì Miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản hoá sau ngày 30-4-1975. Chế độ cộng sản đã thiết lập 39 năm qua trên toàn cõi Việt nam. Như vậy phải chăng “Quốc gia đã thua để thắng” và “Cộng sản thắng để thua” trong một tương lai không xa ?
     
 Nếu đúng như vậy thì tại sao và Quốc gia thắng cộng sản như thế nào?

      1.- Tại vì mục tiêu và lý tưởng đấu tranh của người Việt Quốc gia trước sau như một, vẫn là chân lý tất thắng của thời đại (độc lập dân tộc, tự do dân chủ, nhân quyền và chủ nghĩa quốc gia), có chính nghĩa, đáp ứng đúng khát vọng toàn dân(độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự, không phải chỉ là bánh vẽ như VC ). Chân lý, chính nghĩa và khát  vọng ấy, nếu người Việt Quốc gia đã mất cơ hội thành đạt trước 30-4-1975, trong chiến tranh tự vệ, trên chiến trường, thì hôm nay, sau 39 năm kiên trì tiếp tục cuộc đấu tranh cho lý tưởng và mục tiêu của mình, đã và đang buộc được CSVN phải mặc nhiên tự thú sai lầm, phải sửa sai và từng bước lùi dần về phía dân chủ, trả lại dần dần cho nhân dân quyền tự do và các quyền dân chủ, dân sinh và  nhân quyền căn bản.

  2.- Quốc gia thắng Cộng sản như thế nào?

Chế độ CHXHCN Việt nam do đảng CSVN áp đặt tại Việt Nam đã và đang trên quá trình tiêu vong và đã bước vào giai đoàn cuối cùng: Tiêu vòng hoàn toàn về mặt bản thể trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”. Trong môi trường mật ngọt này,từng bước tịnh tiến cán bộ đảng viên CS được tư sản hoá, nhà nước CS được tư bản hoá và chế độ CS được dân chủ hoá. Ðó là quá trình tiêu vong tất yếu của đảng và chế độ CSVN, xác định sự toàn thắng của các lực lượng quốc gia, dân tộc, dân chủ Việt nam. Sự tất yếu này đến mau hay chậm là tùy thuộc vào ba lực đẩy, lực xoay cùng chiếu chủ yếu:

   - Một là sự tự hủy do phân hoá nội bộ đảng và chế độ CSVN.

   - Hai là cường độ và hiệu quả thực tế của các hình thức đấu tranh của các lực lượng quốc gia, dân tộc, dân chủ trong cũng như ngoài nước, thu hút được quần chúng,tạo ra cao trào đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền  của nhân dân trong nước.

   - Ba là áp lực trên đảng và chế độ CSVN của các cực cường, các chính quyền dân chủ,Liên Hiệp Quốc, các tổ chức kinh tế tài chánh quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế.

Vì vậy cho đến nay, dưới áp lực của ba mũi giáp công cùng chiều trên đây, mới chỉ thúc ép được chế độ độc tài toàn trị hiện nay lùi dần về phía dân chủ. Chất dân chủ đã và đang đẩy lùi chất độc tài và tích lũy thành lượng dân chủ. Khi lượng dân chủ tích lũy đủ triệt tiêu hoàn toàn chất độc tài, thì theo qui luật duy vật biện chứng mà những người cộng sản Việt nam từng tin như giáo điều, rằng “Lượng đổi, chất đổi”, thì chế độ độc tài toàn trị hiện nay sẽ tiêu vong hoàn toàn bản thể để hình thành chế độ dân chủ tại Việt Nam.

Tóm lại:  39 năm trước đây, ngày 30-4-1975 cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam đã kết thúc không bình thường đã chỉ đem lại một chiến thắng biểu kiến cho đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế đã ngày một khẳng định cuộc chiến tranh kết thúc như thế không phải là thắng lợi của phe này (Việt cộng) đối với phe kia (Việt quốc), mà chỉ là do nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực, nắm trung tâm quyền lực thế giới. Do đó, thực tế đã ngày một khẳng định ngày 30-4-1975 chỉ là khởi điểm một quá trình đưa CSVN đến sự tiêu vong về bản thể, để hình thành một chế độ dân chủ mai hậu tại Việt Nam theo chiều hướng mới KHÔNG THỂ ÐẢO NGƯỢC : Dân chủ tất thắng độc tài.

Một khi chế độ độc tài cộng sản tiêu vong về mặt bản thể, lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của những người CSVN đã không đạt được, nay phải xoay chiều, cách này hay cách khác cố thực hiện những điều mà người Việt Quốc Gia đấu tranh chưa đạt. Và như thế có thể kết luận rằng: 30-4-1975 quả thực  “Quốc gia đã thua để thắng và Cộng sản đã thắng để thua”.
                          
Thiện Ý
Houston, Tháng Tư 2014

(1)Xin vào: luatkhoavietnam.com, mục “Diễn Đàn”, tiểu mục “Tác giả & Tác phẩm” để đọc “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, khởi thảo từ trong nước (1976-1977), ấn hành lần đầu 1995 và tái bản năm 2005 tại Hoa Kỳ. Vào tiểu mục “Phỏng vấn & Hội luận” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả Thiện Ý về tác phẩm này.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.