Monday, August 11, 2014

Trung Cộng Tiến Quân Vào Vùng Nhiệt Đới

Trung Cộng Tiến Quân Vào Vùng Nhiệt Đới
Từ thuở hồng hoang, con người thể hiện cuộc sống bằng những bước đi: đi kiếm thức ăn, đi tìm nơi cư trú, đi tìm kiếm những giá trị tinh thần. Qua thời gian, những yếu tố tương đồng (ngôn ngữ, huyết thống, nhu cầu...) làm họ gần gủi nhau hơn, tạo nên một quần thể có đủ sức mạnh để đối phó hữu hiệu với nghịch cảnh, bảo toàn và phát triển sự sống. Từ đó, những bộ lạc, dân tộc, quốc gia được hình thành và cũng chuyển động để tìm thế sinh tồn.
 
Mỗi ngày qua, mỗi người chúng ta đều nhận được vô số tin tức liên hệ đến Việt Nam với lo âu, suy nghĩ. Những sự kiện đã và đang diễn tiến được nhiều người xem như một chuyện dĩ nhiên phải đến, tiên liệu từ lâu :
 
Trong tác phẩm “Trung Cộng Tiến Quân Vào Vùng Nhiệt Đới” (China's March Toward the Tropics ) xuất bản năm 1954, giáo sư Herold J. Wiens (1912 - 1971) cuả Đại Học Yale mở đầu Chương I như sau :
 
Phần lớn chính thổ Trung Hoa hiện nay chia theo thủy lưu cuả ba hệ thống sông ngòi chủ yếu, đó là: Hoàng Hà phiá bắc, Dương Tử Giang phần giữa và Tây Giang phương nam. Người Hoa Hán phát triển văn hoá trong khu vực Hoàng Hà, mở rộng vào vùng Dương Tử và rồi đến Tây Giang. Họ chinh phục và xua đuổi, hoặc tiêu diệt, hoặc đồng hoá những bộ lạc đang cư ngụ trên những bình nguyên cuả Dương Tử và Tây Giang. (Nguyên văn: Most of present-day China Proper divides up into the drainages of three major systems, the Huang Ho or Yellow River in the north, the Yang-tzu Chiang in the central portion, and the Hsi Chiang or West River in the south. The Han-Chinese, developing their culture in the Huang Ho region, expanded first into the Yang-Tzu and then into the Hsi Chiang region, conquering, and driving out, or exterminating, or absorbing the tribes peoples occupying the Yang-tzu and Hsi River valleys.).
XiaolangdiVw_2.jpg  HeThong_SongChauGiang.jpg
Phần trích dẫn trên gợi thêm một minh chứng trong cuộc tranh đấu liên tục giữa Hoa Hán và Việt tộc trải qua nhiều ngàn năm trước Công Nguyên từ khi loài người quần tụ sinh sống trên bình nguyên Hoàng Hà - Dương Tử tiếp đến thời Hoàng Đế, Xuân Thu, Chiến Quốc... Lịch sử cũng ghi chép Tần Thủy Hoàng đưa quân tràn ngập lãnh thổ Bách Việt (214 BC) gồm các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và một phần Bắc Việt ngày nay. Để sống còn, các bộ tộc Bách Việt lần lượt di chuyển theo dòng chảy của các sông lớn Hồng Hà, Cửu Long, Salween, Irrawaldy và vươn ra các hải đảo Thái Bình Dương, lập nên những quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Những thành phần bám trụ trên mảnh đất tổ tiên, trở thành các sắc dân thiểu số sinh sống trong những khu hẻo lánh, cằn cỗi, từ các tỉnh nội điạ Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây đến các tỉnh ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông, kể cả các đảo Hải Nam, Đài Loan.
 
Bộ tộc Lạc Việt và một số Việt tộc khác, trên đường lui về phương nam, thành lập nước Việt Nam, một thời mang quốc hiệu Đại Việt, trên châu thổ Hồng Hà / Cửu Long với Trường Sơn / Đông Hải. Việt Nam tại điạ bàn hoa gấm nầy là một cứ điểm trọng yếu, ngăn chận tham vọng cố hữu mở rộng đế quốc cuả Hán Tộc.
 
I- Thanh Toán Việt Nam.
 
Trải qua những giai đoạn lịch sử, Hoa Hán đã đánh Đại Việt những đòn chí tử :
 
1/ Dưới thời Đông Hán (năm 41), Mã Viện xâm chiếm Giao Chỉ, phá nát văn hoá Hoà Bình, Đông Sơn, tịch thu trống đồng, binh khí và dụng cụ đồng thau, nấu chảy thành những khối kim loại mang về phương Bắc. Chúng cũng tạo một huyền thoại "trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt", cảnh báo giống nòi Giao Chỉ sẽ bị tận diệt !
 
Tiếp theo, dưới thời nhà Đường năm 841, tiết độ sứ Giao Châu Cao Biền gieo rắc mê tín dị đoan, buà chú và phong thủy vào xã hội Việt Nam nhằm mục đích hủy hoại tâm thức quật khởi cuả toàn khối dân tộc. Với chiêu bài trấn yểm long mạch, Cao Biền đào bới các kho tàng, tìm kiếm vàng bạc, châu báu, phá hủy các quang cảnh cuả văn minh Việt tộc. Phản kháng chính sách ma qủi nầy, cư dân châu thổ sông Hồng đặt ra một thành ngữ "quân Cao Biền dậy non" để diễu cợt tà thuật bệnh hoạn cuả phù thủy Cao Biền!
 
Kế hoạch khốc liệt nhất nhằm xoá sổ dân tộc Đại Việt lại một lần nưã xảy ra trong thời kỳ nước ta bị nhà Minh cai trị (1414). Theo Việt Nam Sử Lược cuả Trần Trọng Kim : "Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nước để khiến cho người An Nam đồng hoá với người Tàu. Lập ra đền miếu, bắt người mình cúng tế theo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt theo như người Tàu cả. Còn cái gì là di tích cuả nước mình như là sách vở, thì thu nhặt đem về Tàu hết sạch."
 
Sử gia Trần Trọng Kim cũng liệt kê trên trăm quyển sách qúi, cốt lõi cuả văn minh dân tộc, bị lấy sạch đem về Tàu, đáng kể nhất: Hình Thư cuả vua Thái Tông nhà Lý, Quốc Triều Thông Lễ cuả vua Thái Tông nhà Trần, Hình Luật cuả vua Thái Tông nhà Trần, Trần Triều Đại Điển cuả Trần Dụ Tông, Binh Gia Yếu Lược cuả Trần Hưng Đạo, Vạn Kiếp Bí Truyền cuả Trần Hưng Đạo, Việt Nam Thế Chí, Việt Sử Cương Mục, Đại Việt Sử Ký cuả Lê Văn Hưu, Việt Điện U Linh Tập cuả Lý Tế Xuyên ...
 
Cận đại, Tôn Dật Tiên, một nhân vật lớn cuả Trung Hoa, sinh trưởng tại Quảng Đông, được hai phe không đội trời chung Tưởng và Mao đồng tôn kính làm quốc phụ, cũng có dịp bày tỏ giấc mơ truyền kiếp cuả đế quốc Hoa Hán. Trong lần nói chuyện với Thủ Tướng Nhật Bàn Khuyễn Dưỡng Nghị, Tôn tỏ ý khinh bỉ người Việt Nam có căn tính nô lệ và hắn ta sẽ dành lại quyền đô hộ Việt Nam, thay thế vai trò người Pháp.
 
2/ Chủ Nghiã cộng sản do K. Marx và F. Engel xây dựng phần lý thuyết, rao giảng về một xã hội "không tưởng" giữa con nguời khắp nơi thế giới.
 
Cộng Sản Quốc Tế với hai đầu lĩnh giảo hoạt Stalin và Mao Trạch Đông chiếm đọat tư tưởng nầy làm mặt nạ cho chủ nghiã dân tộc Đại Nga và Đại Hán. Từ vùng khí hậu ôn đới lạnh lẽo, cả hai Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh đều nhắm vào khu vực nắng ấm, đầy dẫy tài nguyên thiên nhiên từ nông phẩm, hầm mỏ, núi rừng, biển cả... trong vùng Đông Nam Á đang bị thực dân da trắng khai thác. Những đảng viên cộng sản Việt Nam đầu tiên được khai sinh tại Liên Sô tuy nhiên Trung Cộng mới là người chăm sóc, bảo duỡng. Vì thế, tầng lớp đảng viên cộng sản do Hồ Chí Minh kết nạp và huấn luyện trở thành đám "khuyển mã" với đầy đủ quán tính trung thành và thần phục ông chủ Trung Cộng.
 
Cả cuộc đời cuả Mao Trạch Đông và đảng cộng sản Trung Hoa tiếp tục thực hiện giấc mơ cuả Tần Thuỷ Hoàng như một tín ngưỡng: thống nhất Trung Hoa trong một thể chế chuyên chính, phát triển Hán tộc, mở mang bờ cõi về phương Nam. Tạo dựng nhân vật Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam là một kế hoạch thâm độc kiểu Lã Bất Vi .
 
Trong tác phẩm “Những Lời Trăn Trối”, triết gia Trần Đức Thảo kể lại rằng Hồ Chí Minh biết mình bị Đệ Tam Quốc Tế tức Liên Sô loại trừ, đuổi khéo về Viễn Đông và Hồ biết Mao là thủ lãnh các phong trào cộng sản châu Á, bèn xin vào làm việc cho Bát Lộ Quân cùng lúc tuyên thệ gia nhập Đảng Cộng sản Trung Cộng. Mao quan tâm gây dựng Hồ dùng làm con bài "phé" mai phục trường kỳ trong canh bạc vét sạch túi Việt Nam làm căn cứ tranh đoạt vùng Đông Nam Á.
 
Nhờ vậy, Hồ Chí Minh từng bước loại bỏ các đối thủ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ... để ngoi lên làm Tổng Bí thư kiêm Chủ Tịch Nước năm 1945. Do mưu kế thâm độc "tá đao sát thủ" cuả Mao/Hồ, mọi việc đều tiến hành êm xuôi, mở lối cho những "đồng chí" kia sớm đi vào điạ ngục.
 
Trần Đức Thảo xác nhận thủ đoạn cuả Mao bằng những mệnh đề ngắn gọn : "Phải nói thẳng ra là Mao đã trực tiếp bẻ lái ông Cụ"; hoặc "Trung Quốc muốn nhuộm đỏ Việt Nam theo đúng màu đỏ đậm cuả Trung Cộng".
 
Già Hồ, một con giống do Trung Cộng cải tạo gene, khai sinh những thế hệ đệ tử cực kỳ xuẩn động, gian ác, phản quốc, từ Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Quốc Hoàn, Tố Hữu... đến thế hệ kế tiếp như : Lê Duẫn, Nguyễn Chí Thanh, Lê đức Thọ, Mai Chí Thọ, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh, ... và hiện tại là đám ô hợp : Mạnh, Trọng, Sang, Hùng, Dũng, Rứa, Thanh, Quang, Nghị, Vịnh ...
 
Chúng có chung đặc tính : bảo vệ lý tưởng cộng sản làm nền tảng biện minh cho sự nép mình vào Trung Cộng, cấu kết với nhau vơ vét tài nguyên quốc gia; dân tộc chỉ là giai đoạn, phưong tiện, là con tin mặc cả với Mỹ, Nhật... để kiếm tiền !
 
Theo Ban văn hoá trung ương Việt cộng thì lý tưởng cuả một đảng viên cộng sản là xây dựng "một xã hội mà con người sống không còn phân biệt ranh giới quốc gia, là một thế giới đại đồng không còn người bóc lột người, không còn phân chia giai cấp, không còn nhà nước vì nhà nước đã bị tiêu vong". Một số ít người trong hàng ngủ vô lại Việt cộng có thể cảm nhận đây là điều vô luân và phi nghiã, nhưng muốn sống, muốn kiếm ăn, muốn làm giàu, đều phải tâm niệm và xử dụng điểm tựa hư ảo nầy để đạt ưu thế trong việc dành giật, đấu đá, thanh toán lẫn nhau. Chúng nó dấu kín thực trạng nầy, tuy nhiên nhân dân cả nuớc đều biết rõ tim óc cuả chúng từ những sinh hoạt riêng tư kiếm tiền hàng triệu đô la cho gia đình, họp bàn trong các cấp bộ đảng, trong chính quyền từ điạ phương đến trung ương, phát hành các văn kiện hành chánh, đề ra luật pháp kể cả hiến pháp. Hội nghị Thành Đô, cột mốc bán nước cho Trung Cộng, phát sinh từ lời nói quyết định cuả tổng bí thư Nguyễn Văn Linh : "Dù Trung Cộng bành trướng thế nào thì Trung Cộng vẫn là nước xã hội chủ nghiã" !
 
II- Mở Đường Tiến Quân vào Đông Nam Á.
 
Sau khi đánh bại Tưởng Giới Thạch chiếm lỉnh toàn bộ nước Tàu, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, gọi tắt là Trung Quốc. Là một Tần Thủy Hoàng thời đại, Mao củng cố Trung Cộng bằng những thủ đoạn vô nhân, sắt máu. Tiếp theo, Trung cộng thi hành sách lược phát triển toàn diện bằng huấn dụ "mèo trắng, mèo đen", "thao quang, dưỡng hối" cuả Đặng Tiểu Bình.
 
Từ những thập niên qua, Trung cộng liên tiếp đạt những thành quả lớn trong lĩnh vực kinh tế và quân sự. Theo số liệu năm 2013, tổng sản lương nội điạ (GDP) cuả Trung cộng đạt mức 7 nghin tỉ USD, xếp hàng thứ hai, sau Mỹ (15 nghin tỉ USD) và trước Nhật Bản (5.8 nghìn tỉ USD). Về sức mạnh quân sự, cơ quan nghiên cứu quốc tế Global Fire Power xếp hạng Trung Cộng đứng vào hàng thứ ba sau Hoa Kỳ và Nga.
 
Theo Richard Bitzinger, tác giả của nhiều bài viết về quốc phòng, chiến thuật, chiến lược, nhận định rằng "Trung Cộng tin rằng họ có quyền trở nên một siêu cường." Giấc mơ nghìn đời bá chủ thiên hạ cuả Đại Hán không cần che dấu nữa, đang bùng dậy với những bước đi đầy mưu trí.
 
Đảng cộng sản Trung Cộng xác định : " Để mở rộng không gian sinh tồn, việc tiến ra biển khơi khai thác tài nguyên biển liên quan đến khả năng tiếp tục phát triển và sự tồn vong cuả dân tộc Trung Hoa.". Vị trí đặc biệt "núi liền núi, sông liền sông, biển liền biển" cuả Việt Nam, kể cả bán đảo Đông Dương là hành lang chiến lược bậc nhất mà Trung cộng quyết tâm chiếm đoạt làm cứ điểm, khống chế toàn bộ Đông Nam Á trong các lĩnh vực năng lượng, lương thực, vận chuyển hàng hoá, lưu thông hàng hải trên hai biển lớn Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Chúng bắt đầu từng bước xoay chuyển thế giới một cách mạnh mẽ và cứng rắn hơn bằng hai thế lực: Cường Lực (hard power) cụ thể là quân sự, và Nhu Lực (soft power) thường được các báo và đài gọi là quyền lực mềm, gồm những biện pháp kinh tế, tài chánh, văn hoá...
 
Trung cộng tràn xuống Nam Á bằng chiến pháp hai mũi tiến công : trên biển và trong đất liền, cương và nhu, diện và điểm, cây gậy và củ cà rốt.
 
1/ Hải quân Trung Cộng hiện nay, ngoài hàng không mẫu hạm duy nhất Liêu Ninh thuộc loại phế thải tân trang mang tính trình diển, những loại tàu chiến khác như tiềm thủy đỉnh, tuần dương hạm, khu trục hạm, tàu đổ bộ... với vũ khí trang bị, do tài năng ăn cắp mẫu mã, đồ án cuả Mỹ, Tây âu và Nga, được đánh giá đạt mức tiêu chuẩn. Tương lai sắp đến, trên Thái Bình Dương hải quân Trung Cộng sẽ tiến ra biển xanh, ngang chuổi đảo thứ hai, khoản kinh tuyến 150o Đông.
Sunda_Strait.jpg  
Đầu tháng 2 năm 2014, một lực lượng đặc nhiệm hải quân Trung Cộng gồm hai tuần dương hạm và một tàu thủy bộ 20.000 tấn với hàng trăm thủy quân lục chiến đi vào Ấn Độ Dương, không bằng thủy lộ Malacca mà xuyên qua eo biển Sunda, thao dợt nhiều ngày trong khu vực giữa Indonesia và đảo Chrismas. Sau đó, chúng tuần du về phiá Nam đảo Java, chuyển lên hướng bắc vượt qua các eo biển Lombok và Makassar trở lại Thái Bình Dương. Màn trình diễn làm sửng sốt các quốc gia trong khu vực: Úc, Mỹ, Ấn Độ, Nam Dương. Một số tờ báo nhận định rằng Trung Cộng đưa ra một thông điệp về sự trưởng thành cuả hải quân, hàm ý có đủ khả năng đi bất cứ nơi nào khi nào chúng muốn mà không cần quan tâm đến chính quyền khu vực.
lombokStrait.jpg  EoBien_Lombok_Indonesie.jpg
Trọng vụ tìm kiếm máy bay MH 370 mất tích, hải quân Trung cộng cũng có dịp lùng sục trong Ấn Độ Dương. Ngoài ra Trung Cộng cũng đang điều hành ba trạm nghiên cứu tại Nam cực với một số tàu tiếp tế và tàu phá băng.
 
Cuối tháng 6 vừa qua, do lời mời cuả Mỹ, Trung Cộng gởi 2 chiến hạm trang bị hoả tiển, một tàu tiếp liệu, một tàu bệnh viện tối tân và 1.100 thủy thủ tham gia tập trận Vành Đai Thái Bình Dương với hải quân Mỹ và 22 quốc gia khác, trong khu vực quần đảo Hạ Uy Di. Cùng thời gian, Trung Cộng cũng đưa một tàu do thám theo dõi cuộc diễn tập, quanh quẩn trong vùng đặc quyền kinh tế cuả Mỹ, làm dấy lên những phản kháng cuả Mỹ và các quốc gia tham dự.
 
Đặc biệt trên tuyến đưòng hải hành từ Đông Phi về đến Hồng Kông, Trung Cộng đã chi tiêu hàng chục tỉ đô la thành lập 15 căn cứ mệnh danh Chuổi Hạt Trai Chiến Lược . Mỗi viên ngọc trai được đặt tại một vị trí ven biển có giá trị về mặt kinh tế và quân sự, tiện nghi bến cảng và phi trường, gồm các điạ danh : Puerto Sudan (Sudan), Lamu (Kenya), Al-Ahdab (Iraq), Gwadar Y Pasni (Pakistan), Marao (Maldives), Hambantote (Sri Lanka), Chittagong (Bangaladesh), Kyaoukpyu Y Sithwe (Miến Điện), Đảo Coco (Miến Điện), Kra (Thái Lan), Konpong Som (Cam bốt), đảo Gac Ma (Trường Sa), đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), Sanya (Hải Nam), Hồng Kông. Riêng hai đảo Gac Ma và Phú Lâm, mới vừa cuớp giật cuả Việt Nam, chúng đang xây cất một số công trình trong đó có sân bay. Trung cộng giải thích mục đích cuả chuỗi hạt trai nhằm bảo vệ an toàn sự chuyển vận hàng hoá qua lại từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ gồm dầu thô, nguyên vật liệu, hàng hoá tiêu dùng...tuy nhiên hầu hết những quan sát viên thời cuộc đều đồng ý về một chiến lược chuẩn bị tràn ngập Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, cũng là cách bao vây chặt chẽ đối thủ Ấn Độ, giữ vững ảnh hưởng Bắc Kinh trong Vùng Nam Á.
 
2/ Giàn khoan HD 981 hiện nay đã rút ra khỏi vùng tranh chấp, tình trạng căng thẳng quân sự
 
trên Biển Đông với Việt Nam tạm lắng dịu, là thời cơ để con vượn Bắc Kinh thọc sâu cánh tay ma quái vào nội điạ, nội tình Việt Nam vuốt ve, sờ nắn, bấm huyệt. Nếu mũi tiến quân trên biển Đông được dàn trận bằng chiến hạm, đại bác, hoả tiển, lôi cuốn sự quan tâm và lên tiếng khắp nơi trên thế giới thì mặt trận toả rộng dọc theo dảy Trường Sơn tiếp tục chuyển động, chuyển động êm thấm bằng ngoại giao, tiền bạc, ngoại tệ, tư lợi cá nhân qua các cuộc tiếp cận "huynh đệ xã hội chủ nghiã".
 
Trước đây Hồ chí Minh được Mao mớm lời đưa ra khẩu hiệu "xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước", nay đế quốc Trung Cộng thu hồi đưa trở lại xuất ý nguyên thủy "xẻ toạc Đông Dương đi cướp nước" qua sách lược "củ cà rốt" đang xuất hiện tại Việt Nam, Campuchia và Lào.
 
a) Ngày 21 tháng 6 năm 2013 tại Bắc Kinh, Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang đưa ra một bản Tuyên Bố Chung mà nội dung khác hẳn với chuẩn mực ngoại giao giữa hai quốc gia độc lập, bình đẳng; Viêt cộng hiện nguyên hình một con chốt lay quay dưới tay Trung Cộng.
 
Trước hết, chúng đặt trên bàn thờ 16 chữ vàng và 4 tốt làm kim chỉ nam! Tiếp theo, Sang thề nguyện với Bình: "nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác giữa hai Đảng, thúc đẩy cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai Ban Đối ngoại và Ban Tuyên giáo, Tuyên truyền cuả hai Đảng vận hành thuận lợi, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ Đảng và Nhà nước" . Từ cơ sở nầy, Sang cam kết "tăng cường điều phối chiến lược" tất cả những họat động huyết mạch cuả một quốc gia, như: phát triển kinh tế, khai thác nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản, giao thông, vận tải, năng lượng...Chúng cũng nhắc đến những hợp tác đang bị nhân dân Việt Nam chỉ trích, lên án, mở đường cho sự tiến quân cuả bộ binh Trung cộng, gồm có : Hai Hành Lang Một Vành Đai, tuyến đường bộ cao tốc Lạng Sơn - Hà Nội. Sang cũng nhắm mắt bằng lòng những phát súng ân huệ vào đầu não cuả dân tộc : "thực hiện hiệp định văn hoá Việt Trung giai đoạn 2013-2015, tổ chức liên hoan thanh niên Việt-Trung, Diễn Đàn Nhân Dân Việt-Trung, tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị Việt-Trung"; kế hoạch đặc biệt nguy hiễm : "Hợp tác hơn nữa giữa các tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước, nhất là giữa bảy tỉnh cuả Việt Nam gồm Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với bốn tỉnh của Trung Cộng gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam".
 
Cuối cùng, mục tiêu đưọc xác định bằng nhiệt tâm và số liệu: "quyết liệt thúc đẩy cân bằng thương mại song phương đến năm 2015 kim ngạch hai chiều đạt 60 tỉ USD".
 
Những người quan tâm đến tình hình đất nước thường theo dõi 10 dự án lớn cuả nhà thầu Trung Cộng tại Việt Nam, gồm có : Đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông, 552 triệu USD ; Dự án cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, 25.000 tỉ đồng ; Đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, 20.000 tỉ đồng ; Bô xít Tây Nguyên, 16.800 tỉ đồng ; Nhà máy gang thép Lào Cai, 340 triệu USD ; Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải I, 1,6 tỉ USD ; Nhà máy nhiệt điện Mông Dương II, 1,95 tỉ USD ; Nhà máy thủy điện Sông Bung, 5.000 tỉ đồng; Khu căn hộ cao cấp Golden Westlake, 50 triệu USD ; Nhà máy dệt may khu công nghiệp Lai Vu, 425 triệu USD.
 
Đây là những miếng mồi tuyệt hão để ngư ông Trung Cộng móc lưỡi câu vào bụng những con cá đầu đàn Việt cộng, tha hồ dẫn dắt, làm xiếc, làm bẩy đưa cả đàn cá Việt Nam vào chảo dầu.
 
 b) Trên bàn cờ Đông Dương, sự giao lưu kinh tế với Campuchia được Trung Cộng chiếu cố tích cực. Theo bản tin cuả Hoàn Cầu Thời Báo ngày 18/1/2014, tổng số đầu tư tích lũy cuả Trung Cộng vào Campuchia từ 1994 đến 2013 đạt mức 9.6 tỉ USD, nhằm vào các lĩnh vực may mặc, kỹ nghệ chế biến, ngân hàng và tài chánh, nông nghiệp, du lịch, năng lượng, hầm mõ, điạ ốc, giao thông và viễn thông. Kim Savuth, Chủ tịch Liên hiệp Xuất khẩu gạo cuả Campuchia, nhận định rằng sự ràng buộc mật thiết giữa hai quốc gia làm gia tăng số vốn đầu tư và giải thích thêm "theo ý kiến cuả tôi, sự đầu tư cuả Trung Cộng hiện nay tại Campuchia sẽ mạnh mẽ hơn trong tương lai vì người Hoa thích khai thác thương mại tại đây, một xứ sở có nhiều người nói tiếng Hoa và có cội nguồn từ Trung Cộng.
 
Đầu tháng 1 năm 2013, truyền thông quốc tế đưa tin hai công ty Trung Cộng đã dành được hợp đồng có giá trị 11,2 tỉ USD cho các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở ở Campuchia, đây là mức đầu tư lớn chưa từng có. Tổng Gíam đốc Tập đoàn Sắt,Thép và Hầm mỏ Campuchia cho biết các hợp đồng liên quang đến việc xây dựng một nhà máy luyện thép ở miền bắc Campuchia, một cảng lớn tại khu vực đảo Koh Kong miền Nam và một tuyến đường sắt dài 400 km nối liền hai khu vực nói trên. Tuyến đường sắt tốn 9,6 tỉ USD và nhà máy sản xuất thép trị giá 1,6 tỉ USD.
 
Công tác xây dựng đường sắt giao cho tập đoàn China Railway Group. Cuối tháng 12 năm 2012, Trung Cộng thông báo sẽ xây dựng một nhà máy lọc dầu trị giá 2,3 tỉ USD. Từ những năm trước, Trung Cộng cũng đã đầu tư xây dựng 9 nhà máy thủy điện và 9 nhà máy nhiệt điện và sẽ hoàn tất năm 2020. Với những tiện nghi nầy, chính quyền Campuchia lạc quan cho biết ngoài mục tiêu bảo đảm nhu cầu năng lượng nội điạ còn tiến đến xuất khẩu điện.
 
Với một số trưng dẫn sơ yếu, chúng ta có thể đồng ý với những nhận định sau đây cuả Phou Sambath, một thanh niên trí thức người Campuchia : "Campuchia có vai trò lớn trong chiến lược trỗi dậy cuả Trung Cộng. Trung Cộng không ngừng hỗ trợ Campuchia vì muốn tận dụng vai trò nước nầy trong các tổ chức quốc tế, đặc biệt là ASEAN. Ngoài ra vị trí điạ lý cuả Campuchia hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho Trung Cộng khi các cảng biển ở tỉnh Sihanoukville có thể dùng kiểm soát vịnh Thái Lan và eo biển Malacca. Xa hơn, các cảng trên còn có thể đóng vai trò bàn đạp tiến ra cả Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương. Thêm vào đó, các căn cứ không quân cuả Campuchia có thể trở thành điểm tiếp liệu cho máy bay Trung Cộng hoạt động tại các vùng biển.".
 
 c) Lào hay là Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào là một trong năm quốc gia cộng sản còn sót lại hiện nay. Lào không có biển, diện tích 236.800 km2, dân số 6.800.000 người, mật độ 26,7. Lào có biên giới tiếp giáp với năm quốc gia, gồm có: Việt Nam với 2.069 km, Thái Lan về hướng tây với 1.385km, Campuchia về hướng nam 535 km, Trung cộng về hướng băc với chiều dài 505 km, Miến điện với 236 km hướng tây băc.
 
Trung cộng bắt đầu đầu tư vào Lào từ năm 1999 với 112 dự án khai thác khoáng sản, 82 dự án công nghiệp và thủ công nghiệp, 64 dự án nông lâm nghiệp, 4 dự án năng lượng điện và một số dự án xây dựng nhà hàng, khách sạn. Tỉnh Vân Nam phụ trách "Kế hoạch miền bắc Lào", phát triển các ngành công nghiệp trụ cột như điện lực, nông lâm nghiệp, du lịch, hầm mỏ, thành lập ồ ạt các đồn điền cao su qui mô lớn.
 
Năm 2010, với khoản đầu tư trị giá 2,9 tì USD, Trung cộng trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Lào, nắm trong tay khoản 10.000 km2 đất đai, tương đương với 4% diện tích cả nước Lào. Người Hoa kiểm soát phần lớn nền kinh tế Lào từ khai thác mỏ, cao su, ngay cả ngành bán lẽ và dịch vụ khách sạn. Đầu tư vảo thủy điện đuợc Trung Cộng xem như trọng tâm chiến lược. Kinh tế Lào liên tiếp tăng trường hàng năm 8%.
 
Những năm gần đây, Trung Cộng đẩy mạnh đầu tư bất động sản tại thủ đô Vientiane gồm chung cư, khu thương mại và du lịch rộng 365 hecta với số vốn 1,6 tỉ USD. Đặc biệt Trung Cộng huy động 7 tỉ USD xây đường sắt dài 418 km từ Vientiane đến biên giới Trung Cộng nhằm vận chuyển hàng hoá, nguyên liệu khoảng 5 triệu tấn/năm.
 
Việc phát triển giao thông tại Lào có dụng ý lớn, một cán bộ quân sự Việt cộng nhận định : "Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tận Tây nguyên, mà ở đoạn cuối Tây nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất 55 năm. Đứng về mặt quân sự, đó là những con đường cơ động chiến lược và cơ động chiến dịch. Về kinh tế thì có thể khống chế được toàn bộ hành lang quan trọng cuả bán đảo Đông Dương."
 
III- Bán Đảo Đông Dương và dự án kênh đào Kra
 
Dưới thời toàn thịnh cuả các đời chuá Nguyễn, Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với lân quốc Chân Lạp và ngày càng mở rộng. Khi vua Gia Long thống nhất đất nước, việc bang giao với Campuchia và Lào tiến triển đầy đủ và rõ ràng hơn.
 
Vào cuối thế kỷ 19, nhu cầu xử dụng thủy lộ Cửu Long và Hồng Hà giao thương với khu vực Hoa Nam là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người Pháp đánh chiếm Nam Kỳ rồi đến Bắc Kỳ. Thời Pháp thuộc, một số thanh niên nam nữ con nhà giàu và thế lực từ Bắc, Trung, Nam, Campuchia , Lào gặp nhau tại Đại học Hà nội và các trường trung học nổi tiếng tại Hà nội, Huế, Sàigòn. Từ đó, một số đông người Việt đổ xô làm công chức, hành nghề tiểu thương, thủ công, tại thủ đô và các đô thị lớn cuả hai vương quốc cùng chung số phận duới sự bảo hộ cuả người Pháp.
 
Đặc biệt, cuộc chiến Việt Nam từ 1946 đến 1975, cả ba quốc gia Đông Dương đều có sự liên hệ chặt chẽ với nhau trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, cuả hai bên lâm chiến : Việt cộng và đồng minh, quốc gia chống cộng và đồng minh.
 
Từ những sự kiện lịch sử, điạ lý, những tham vọng đế quốc thời đại đều nghĩ rằng chỉ cần nắm ưu thế kinh tế và chính trị ban đầu tại một khu vực cũng có đủ khả năng khống chế bán đảo.
 
Bằng cách "tầm thực", chúng sẽ lảm ruỗng nát xã hội đối phuơng và với một cái vẩy tay đúng lúc sẽ làm chủ toàn khu vực. Trung Cộng đang dồn nổ lực khai thác chiến pháp nầy.
 
Hiện nay, người ta đang nhắc đến dự án kênh đào Kra xuyên qua lảnh thổ Thái Lan nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương tại khu vực Biển Đông Việt Nam. Kế họach nầy khai sinh từ năm 1677, đang được nhiều thế lực thảo luận, dằng co, đặc biệt Trung Cộng tỏ vẽ hăm hở, xông xáo mong tạo thế "tung hoành" trong thời đại toàn cầu hoá. Theo những thông tin chính thức, kênh đào sẽ được thi công tại eo đất hẹp nhất cuả bán đảo, chiều dài khoảng 44 km, dự tính chi phí 20 tỉ USD với 30.000 công nhân và kỹ sư làm việc trong 10 năm. Thủy lộ nầy đuợc đánh giá có nhiều ưu thế hơn so với eo biển Malacca và những eo biển khác trong quần đảo Nam Dương, vì tuyến đường giao thông được rút ngăn hơn 1.000 km, tránh nạn cướp biển.

kra.jpg
Vị trí Kra, nằm phiá trên vĩ tuyến 10o Bắc một chút, nếu kéo thẳng về hướng Đông sẽ lướt ngang qua trước mặt các bến cảng cuả Campuchia trong Vịnh Thái Lan -nơi có phần đầu tư thích đáng cuả Trung Cộng- chạm vào đảo Phú Quốc và tỉnh lỵ Rạch Giá. Đông Dương vốn dĩ là con mồi ngơ ngác cuả chó sói Trung Cộng, nay lại càng bội phần hấp dẫn !
 
oOo
 
Sự cạnh tranh sinh tồn trên toàn thế giới trong tương lai sẽ phức tạp và chiụ nhiều áp lực khác thường trước sự trổi dậy cuả Trung cộng. Những quốc gia Á châu gần gủi với Trung Cộng như Nam Hàn, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Brunei, Singapore, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện đều có đủ ý chí, trí khôn và phương tiện chống đở hữu hiệu những mưu toan mở rộng không gian sinh tồn cuả Trung Cộng, trong khi Việt Nam, Campuchia và Lào đang bị Trung Cộng khống chế bằng ý thức hệ xã hội chủ nghiã và thủ đoạn mua chuộc tập đoàn lảnh đạo.
 
Riêng tại Việt Nam, một số đông dân chúng trong nước cộng thêm một số ít đảng viên cộng sản "tỉnh ngộ" được đồng bào hải ngoại và một số chính khách Âu Mỹ yểm trợ, đã phát khởi những phản đối chính sách nô lệ Trung Cộng, nhưng đảng cộng sản và chính quyền Việt cộng vẫn giữ cốt cách "mặt người óc thú", không từ bỏ con đường đưa dân tộc đến hố diệt vong.
 
Rồi ra lịch sử thế giới sẽ có đoạn viết, đại ý : Cuối thế kỷ 20 những dân tộc trong khu vực Đông Âu trước đây bị sát nhập vào Liên Bang Sô Viết đã hồi sinh, trở về với cội nguồn và danh dự, trong khi đó vào những năm cuối thế kỷ 21, bán đảo Đông Dương được sáp nhập vào Cộng Hoà Nhân Dân Trung Cộng và bờ biển cuả siêu cường nầy trải dài từ bán đảo Triều Tiên đến Vịnh Thái Lan trong biển Nam Trung Cộng.
 
Căm hờn và tủi nhục khôn nguôi cho đến ngày tận thế !
 

 Thế Việt (8/14)

Saturday, August 9, 2014

Thỏa thuận Thành Đô – bước lùi lịch sử thảm họa

Thỏa thuận Thành Đô – bước lùi lịch sử thảm họa

Vương Trí Dũng

Phát triển quan hệ không thù địch, hơn thế nữa còn phải thân thiện với các nước láng giềng, là một chính sách đúng đắn của mọi nhà nước yêu chuộng hòa bình công lý. Chính sách láng giềng thân thiện lại cần được ưu tiên hơn, khi láng giềng là một cường quốc. Bởi vậy, năm 1990, các nhà lãnh đạo Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sau hơn một thập kỷ chiến tranh và xung đột biên giới là việc cần làm.
Thế nhưng cái cách mà Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc thì thật không bình thường. Không chỉ như vậy, nội dung bình thường hóa quan hệ mà Việt nam cố gắng để đạt được, cụ thể hóa bằng Thỏa thuận Thành Đô (4/9/1990), là một nội dung bất lợi cho Việt Nam. Không chỉ bất lợi, mà ngày càng thêm thảm họa. Mức độ thảm họa tăng theo cấp số nhân cùng với thời gian mà chính những người tham gia đàm phán Thỏa thuận Thành Đô đã không lường trước được.
Hai mươi tư năm trôi qua kể từ ngày ký Thỏa thuận Thành Đô, hậu quả khôn lường của nó đối với Việt Nam nguy hiểm đến nỗi mà ai trong số họ còn sống, bề ngoài không dám thể hiện, hoặc cố viện dẫn hoàn cảnh để thanh minh bào chữa, nhưng trong sâu xa tâm khảm, đều cảm thấy hối tiếc.
BA SAI LẦM
1.   Sự hoảng hốt lịch sử
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã làm cho một số lãnh đạo Việt Nam hoảng hốt. Lo sợ sự sụp đổ thể chế, lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ đã đột ngột biến kẻ thù truyền kiếp – từng xâm lược Việt Nam năm 1979, liên tục đánh chiếm biên giới Việt Nam suốt trong thập kỷ 1980, và đã bị ghi vào Hiến pháp 1980 là kẻ thù – thành người “anh em” cùng phe xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của Thỏa thuận Thành Đô ký ngày 4/9/1990 giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đại diện Việt Nam là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, có sự chứng kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Còn đại diện phía Trung Quốc là Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.
Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc là việc cần làm. Nhưng quá hốt hoảng trước sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã vội vã ký một thỏa thuận bất lợi cho Việt Nam nhằm bảo vệ chế độ, bất lợi đến nỗi mà chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần biểu lộ sự băn khoăn.
2.   Ảo tưởng về chế độ
Sai lầm thứ hai là ảo tưởng về chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng lý ra sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu phải là vấn đề lý luận nghiêm túc để các nhà lãnh đạo Việt Nam phân tích suy ngẫm. Rõ ràng chủ nghĩa xã hội đồng loạt sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải do kẻ thù bên ngoài, mà do chính các nguyên nhân phát triển nội tại của mô hình chủ nghĩa xã hội. Qua thực tiễn tồn tại, không khó khăn để nhận ra rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội chứa đựng những lỗi hệ thống mang tính nguyên tắc, quyết định sự sống còn của mô hình. Muốn sửa đổi các lỗi hệ thống đó thì phải thay đổi mô hình. Điều đó chứng tỏ các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, tuy dày dạn kinh nghiệm kháng chiến chống ngoại xâm – mà thắng lợi giành được là do lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân quyết định – lại chưa để tâm cần thiết đến mặt nghiên cứu lý luận.
3.   Nhầm lẫn về Trung Quốc
Nhưng sai lầm đáng buồn hơn cả là nhận thức không nhất quán về Trung Quốc. Trung Quốc công khai tham vọng xâm chiếm Việt Nam. Trung Quốc gây ra cho Việt Nam những tổn thất to lớn trong Hiệp định Genève. Trung Quốc phá hoại cản trở Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Bất chấp bao nhiêu năm “cùng phe xã hội chủ nghĩa”, từng “anh em bè bạn”, nhưng năm 1979 Trung Quốc đã ngang ngược mang 60 vạn quân tấn công Việt Nam. Trong suốt 10 năm tiếp theo Trung Quốc liên tục tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam. Vô vàn cay đắng thâm thù từ Trung Quốc, làm sao mà các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, trong thời khắc sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa, lại có thể cả tin rằng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa là phép màu hoàn lương được dòng máu bá quyền Tần Thủy Hoàng – Mao Trạch Đông, để Việt Nam và Trung Quốc lại là “anh em”, cùng chống kẻ thù ý thức hệ?
BỐN HẬU QUẢ THẢM HỌA
I. Lệ thuộc về chính trị
Thỏa thuận Thành Đô gây ra những hậu quả thảm họa to lớn mà chính những người ký Thỏa thuận đã không ngờ tới. Từ Thỏa thuận Thành Đô, Việt Nam mỗi ngày càng lệ thuộc chính trị hơn vào Trung Quốc. Trung Quốc tiến hành một chính sách bắt Việt Nam dần phụ thuộc chính trị rất thâm hiểm, tập trung trên mấy phương diện sau.
1.   Gây ảnh hưởng về nhân sự lãnh đạo
Gây ảnh hưởng lên nhân sự lãnh đạo là nhân tố nguy hiểm số một trong chiến lược bắt Việt Nam lệ thuộc của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ tìm mọi cách loại bỏ, vô hiệu hóa hay giảm ảnh hưởng của tất cả những ai không theo hoặc không ủng hộ Trung Quốc. Sự can thiệp vào công việc nhân sự lãnh đạo Việt Nam của Trung Quốc rất trực diện, thô bạo. Việc yêu cầu loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị trong Hội nghị Thành Đô là một ví dụ kinh điển. Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã không dám đưa ông Phạm Bình Minh (con trai của cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch) vào chức vụ Ngoại trưởng vì Trung Quốc không chấp nhận. Gần đây Lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị cuộc viếng thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường phủ bóng tối.
2.   Gây ảnh hưởng về chính sách song phương và đối ngoại
Có được ảnh hưởng nhân sự, tổng hợp với các thế mạnh về kinh tế quốc phòng địa lý, và các mánh khóe thâm độc gian xảo, Trung Quốc gây áp lực lên các cuộc đàm phán song phương và chi phối lên quan hệ bang giao quốc tế của Việt Nam.
Việt Nam đã phải nhượng bộ cho Trung Quốc trong Hiệp định biên giới đất liền năm 1999, cũng như trong thỏa thuận phân chia đường biên giới trên biển năm 2000. Việt Nam không dám công khai ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế mặc dù Việt Nam được lợi từ vụ kiện này. Việt Nam không thân mật đến mức liên minh với các nước lớn bởi e dè Trung Quốc. Việt Nam tuyên bố không liên minh với ai để chống nước thứ ba thực chất là để thanh minh với Trung Quốc.
3.   Gây ảnh hưởng về kinh tế
Dùng ảnh hưởng về chính trị, dùng sức mạnh kinh tế, Trung Quốc quyết tâm giành thắng lợi trong đấu thầu các dự án kinh tế chủ chốt của Việt Nam và biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc.
Khi đã có được ảnh hưởng kinh tế, tiến đến lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam và gây áp lực lại về chính trị, bắt lệ thuộc về chính trị. Vòng xoay đó luân hồi kiềm tỏa Việt Nam, bắt Việt Nam không thể rời quỹ đạo xoay quanh Trung Quốc.
II. Lệ thuộc về kinh tế
Bị lệ thuộc chính trị, nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc toàn diện. Sự phụ thuộc toàn diện của nền kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc thể hiện qua mấy điểm chủ chốt sau đây.
1. Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc
Từ các thiết bị máy móc cho đến hàng tiêu dùng, khắp nơi đâu đâu cũng tràn ngập hàng Trung Quốc. Cay đắng hơn đến các mặt hàng nông sản đời sống thường ngày nhỏ nhặt như quả trứng, trái cam, củ tỏi… mà Việt Nam tự sản xuất được thì nay cũng bị hàng Trung Quốc lấn át.
Để biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa mạnh hơn nữa, Trung Quốc thúc đẩy mở cửa biên giới để hàng Trung Quốc tràn vào Việt Nam, đồng thời khuyến khích cho phép buôn lậu qua biên giới những mặt hàng có lợi cho Trung Quốc. Đi xa hơn, Trung Quốc thiết lập mạng lưới đại lý phân phối hàng hóa và đưa cả người Trung Quốc sang sinh sống bán hàng tại Việt Nam.
Việt Nam thực sự đã trở thành một thị trường thuộc địa hàng hóa của Trung Quốc. Trong quan hệ buôn bán hai chiều, Việt Nam còn kém vị thế một tỉnh của Trung Quốc. Bởi lẽ một tỉnh của Trung Quốc còn bán được thiết bị máy móc cho tỉnh khác của Trung Quốc, còn Việt Nam thì chỉ thuàn túy mua, mà không bán lại được cho Trung Quốc máy móc thiết bị công nghệ.
2.   Trung Quốc thắng thầu hầu hết các dự án xương sống trụ cột của Việt Nam
Trong đấu thầu xây dựng các công trình kinh tế chủ chốt của Việt Nam, Trung Quốc là nước thắng thầu nhiều nhất. Trung Quốc tiến hành một chiến lược giản đơn với chủ trương chào thầu thấp để thắng thầu. Sau đó bằng mọi cách đội giá thầu lên, khiến cho chi phí xây dựng công trình đắt lên rất nhiều, đắt hơn cả giá chào thầu ban đầu của các đối tác khác.
Điều nguy hại hơn là, tuy giá thành rất đắt, nhưng Việt Nam lại bị phải sử dụng các thiết bị công nghệ lạc hậu, năng thuất thấp, chất lượng kém, độc hại cho con người và môi trường. Sản phẩm làm ra kém chất lượng, nhanh hư hỏng.
Tất cả các công trình mà nhà thầu Trung Quốc tham gia xây dựng, không có công trình nào có chất lượng đảm bảo như của các nước hàng đầu G7, và tai họa hơn là hiệu quả kinh tế rất thấp.
3.   Trung Quốc khai thác thu mua nhiều tài nguyên khoáng sản của Việt Nam
Với chính sách “Dùng của người, để dành của nhà” Trung Quốc đã tiến hành chính sách thu mua khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản của các nước khi giá còn thấp, để dành tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc cho tương lai. Trung Quốc đã tập trung vào các nước chậm phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh.
Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc nên càng bị Trung Quốc tận thu hết công suất. Việt Nam không phải là nước có nhiều khoáng sản, nhưng tất cả những khoáng sản tiềm năng chủ chốt của Việt Nam đều bị Trung Quốc thâu tóm. Trung Quốc là khách hàng lớn của Việt Nam về than. Hai dự án lớn về bôxít ở Tây Nguyên cũng nhường thầu xây dựng trọn gói cho Trung Quốc, và sẽ bán nguyên liệu thô cho Trung Quốc. Dự án thép ở Vũng Áng cũng bị Trung Quốc mua lại. Riêng dầu khí ở Biển Đông, không hợp tác khai thác được,Trung Quốc trắng trợn mang giàn khoan dầu vào vùng biển Việt Nam để tự khai thác. Thâm hiểm ngang ngược đến thế là cùng.
4.   Trung Quốc đầu tư kinh doanh hầu khắp các huyện tỉnh thành Việt Nam
Công nghệ lạc hậu, ô nhiễm độc hại, chất lượng tồi, giá thành rẻ, Trung Quốc ồ ạt đầu tư khắp các huyện tỉnh thành của Việt Nam. Đi xa hơn Trung Quốc lập các công ty, cửa hàng đại lý thương mại khắp nơi nơi, tạo nên các làng phố người Hoa khắp cả nước Việt Nam. Bằng cách này Trung Quốc đã hình thành một mạng lưới kinh tế riêng của Trung Quốc trên lãnh thổ của Việt Nam, cả hàng hóa lẫn con người.
III. An ninh quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng
Chưa bao giờ an ninh của Việt Nam bị Trung Quốc đe dọa như bậy giờ. Có thể lược nêu một số hiểm họa an ninh quốc gia sau đây.
1.   Đội quân người Hoa trên lãnh thổ Việt Nam
Trung Quốc đã rất thành công trong việc đưa người lao động đến khắp sơn cùng thủy tận của Việt Nam, lấy vợ đẻ con, lập nên nhan nhản các làng phố người Hoa. Đây là mối hiểm họa bậc nhất cho an ninh guốc gia.
2.   Mạng lưới gián điệp dày đặc
Với làng phố người Hoa khắp mọi nơi, với sự thâu tóm các công trình yết hầu kinh tế, mạng lưới gián điệp là ưu thế đặc biệt của Trung Quốc không chỉ trong chiến tranh mà trong mọi đối phó ứng xử với Việt Nam.
3.   Nguy cơ bị đánh sập nền kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc. Các công trình do Trung Quốc đầu tư cũng như do Trung Quốc thắng thầu xây dựng đều tiềm ẩn những nguy cơ khôn lường. Nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ bị tê liệt toàn bộ khi xung đột với Trung Quốc xẩy ra.
4.   Các cơ sở quốc phòng của Trung Quốc trên đất Việt Nam
Dưới danh nghĩa đầu tư, kinh doanh và nhà thầu, Trung Quốc có thể bí mật xây dựng những công trình quân sự, cài đặt những thiết bị phá hủy khắp mọi nơi trên đất Việt Nam. Các vật tư thiết bị Trung Quốc bán cho các công ty Mỹ đã từng bị Mỹ phát hiện về những chip gián điệp, thì tất cả những điều đã nêu là hoàn toàn thực tế.
Chẳng hạn, tử huyệt xung yếu như Đèo Ngang với chiều dài Đông Tây khoảng 50Km đã bị Trung Quốc án ngự bằng dự án cảng Vũng Áng trong 70 năm. Trước đây cố Tổng bí thư Lê Duẩn từng nhận định vùngThanh Nghệ Tĩnh là căn cứ địa khi Trung Quốc huy động 2 triệu quân tấn công Việt Nam từ phía Bắc. Nhưng bây giờ với cảng Vũng Áng và rừng phía Lào đã được Trung Quốc thuê lâu dài, thì việc chia cắt Việt Nam tại Đèo Ngang, nếu không đề phòng trước, đối với Trung Quốc có thể là dễ như “trở bàn tay”. Điều tương tự cũng có thể xẩy ra ở Tây Nguyên khi Trung Quốc tham gia khai thác bôxít và rừng Campuchia giáp biên giới Việt Nam đã được Trung Quốc thuê đến 99 năm.
Phải một lần nữa nhấn mạnh rằng, chưa bao giờ an ninh của Việt Nam lại mong manh đến vậy từ mối đe dọa Trung Quốc.
VI. Độc lập và toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm
Bị lệ thuộc về chính trị và kinh tế thì độc lập Dân tộc bị đe dọa là điều đương nhiên. Không chỉ thế, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đã bị xâm phạm. Thực tế cho thấy Việt Nam đã phải nhân nhượng cho Trung Quốc một phần lãnh thổ trên đất liền trong Hiệp ước biên giới Việt –Trung năm 1999. Trong Hiệp ước phân định ranh giới Vịnh Bắc Bộ năm 2000, Việt Nam cũng phải nhường lại cho Trung Quốc một phần lãnh hải so với Công ước Pháp –Thanh năm 1887.
Việc Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 và tàu chiến vào sâu lãnh hải Việt Nam và đang xây sân bay ở đảo Gạc Ma cũng là hệ quả của Thỏa thuận Thành Đô. Dã tâm xâm lược Biển Đông của Trung Quốc là công khai ngang ngược trắng trợn. Phải khởi kiện Trung Quốc ngay ra Tòa án quốc tế, dựa vào sự ủng hộ quốc tế để vạch mặt và làm chùn bước chân xâm lược của Trung Quốc. Nếu không hành động cương quyết, lãnh hải sẽ bị Trung Quốc lấn chiếm thêm nữa.
Thỏa thuận Thành Đô, đúng như cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã nhận xét: Một thời kỳ Bắc Thuộc mới rất nguy hiểm.
NĂM BIỆN PHÁP GIẢI THOÁT
I. Từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô
Lịch sử nhắc đến Nỏ thần và sơ đồ Loa thành mà Trọng Thủy có được. Lịch sử nhắc đến Hiệp ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Lịch sử sẽ nhắc đến Thỏa thuận Thành Đô. Đó là điều chắc chắn.
Bởi vậy, muốn giảm bớt hậu quả tai hại của Thỏa thuận Thành Đô trước lịch sử, thì điều cần làm là từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô. Thực ra vấn đề cứu vớt sai lầm cho những người đã ký Thỏa thuận Thành Đô chỉ là vấn đề thứ yếu. Điều quan trọng nhất chính là từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô để cởi trói cho Dân tộc khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Thoát Trung là cơ hội lịch sử và là vấn đề hệ trọng nhất hiện nay, bởi nó liên quan đến độc lập của Dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
II. Xóa bỏ tư duy tương đồng thể chế
Hiện nay một số người Việt Nam, và ngay cả một số tướng lĩnh, vẫn cho rằng Việt Nam và Trung Quốc là cùng thể chế xã hội chủ nghĩa, cùng tương đồng ý thức hệ. Và bởi vậy Trung Quốc sẽ thân tình ưu ái với Việt Nam, Việt Nam với Trung Quốc là cùng một phe. Đây là một điều lầm tưởng vô cùng nguy hiểm.
Bản thân Trung Quốc đã tự xưng là chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Cái gọi là chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc hoàn toàn khác biệt với các nước khác. Chủ nghĩa Marx hay bất cứ học thuyết bất kỳ nào khác được lãnh đạo Trung Quốc vận dụng đều bị “Hán hóa” hoàn toàn. Chủ nghĩa Đại Hán là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của lãnh đạo Trung Quốc, dù có được trá hình dưới bất cứ vỏ bọc nào.
Việc Việt Nam và Trung Quốc đều do độc đảng lãnh đạo không có nghĩa là Việt Nam và Trung Quốc là anh em, là cùng chung mục đích lý tưởng. Mục đích của Trung Quốc là bá chủ thế giới, bành trướng quyền lực và lãnh thổ, là chiếm được càng nhiều lãnh thổ của Việt Nam càng tốt, và bắt Việt Nam phải hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc. Mục đích này đã được Mao Trạch Đông trắng trợn công khai tuyên bố với cố Tổng bí thư Lê Duẩn, và được giới lãnh đạo Trung Quốc tiến hành không khoan nhượng ngày càng hung tợn hơn trong suốt mấy chục năm qua.
Không có tương đồng thể chế, không có tương đồng ý thức hệ, không phải cùng một phe. Việt Nam là miếng mồi của giới lãnh đạo Trung Quốc.
Lời phát biểu tại Philippines ngày 21/5/2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Không chấp nhận đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông lệ thuộc nào đó” phải biến thành hành động. Một trong những hành động thực tế là xóa bỏ tư duy đồng thể chế cùng phe với Trung Quốc để thoát khỏi sự kiềm tỏa của Trung Quốc.
III. Đặt quyền lợi Dân tộc trên quyền lợi của thể chế
Ngay cả cố Tổng bí thư Lê Duẩn, người hiểu âm mưu xâm lược thâm độc của lãnh đạo Trung Quốc, buộc phải cương quyết chống lãnh đạo Trung Quốc, vẫn đã có lúc nghĩ rằng, khi chủ nghĩa xã hội thành công trên toàn thế giới, thì mối đe dọa từ Trung Quốc sẽ mất đi.
Chủ nghĩa xã hội sẽ không bao giờ thành công trên toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội, mặc dù trên lý thuyết chứa đựng những ý tưởng cao đẹp, nhưng trên thực tiễn tồn tại, là một mô hình què quặt không khoa học. Bởi vậy, vừa mới ra đời chưa lâu, chủ nghĩa xã hội đã bị tiến trình phát triển của xã hội loài người đào thải. Chủ nghĩa xã hội bị đào thải ngay ở nước Nga, nơi đã sinh ra mô hình chủ nghĩa xã hội, sau 74 năm. Chủ nghĩa xã hội bị đào thải ở Đông Âu sau 40 năm.
Đối với một nước, mô hình chủ nghĩa xã hội có tồn tại trong một thời gian nào đó, thì đấy chỉ là vấn đề tồn tại của một thể chế, một mô hình nhà nước. Một thể chế chỉ là một khoảng thời gian ngắn so với lịch sử phát triển của một Dân tộc. Thay đổi thể chế chỉ liên quan đến thay đổi chính sách, đường lối và quyền lợi của một bộ phận thuộc Dân tộc. Không nhóm người này lên cầm quyền thì sẽ có nhóm người khác lên nắm quyền. Nhưng tất cả họ đều thuộc một đất nước. Khi đề cập đến thể chế là nói đến vấn đề nội bộ. Còn khi nói đến độc lập Dân tộc, chủ quyền lãnh thổ là đề cập đến mối quan hệ với các nước khác. Bởi vậy không thể đặt quyền lợi của thể chế trên quyền lợi Dân tộc.
Từ đó suy ra: Bất cứ điều gì có lợi cho thể chế mà không có lợi cho Dân tộc thì dứt khoát không làm. Điều gì có lợi cho Dân tộc nhưng không có lợi cho thể chế thì cũng cứ làm.
Dân tộc trường tồn hơn thể chế. Nhắc đến Dân tộc trên bình diện quốc tế là đề cập đến vấn đề quan hệ Quốc gia. Bởi vậy, bất luận có chủ nghĩa xã hội hay không, mối đe dọa từ Trung Quốc không bao giờ triệt tiêu, chí ít là cho đến khi triệt tiêu phạm trù Dân tộc.
VI. Cách mạng thể chế
Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói đến phải Đổi mới thể chế trong thông điệp 2014. Đổi mới hoàn toàn thể chế tức là đã Cách mạng thể chế. Một thể chế mới văn minh dân chủ tiến bộ sẽ có nội dung hoàn toàn khác biệt với thể chế Trung Quốc hiện hành, và tự nó là một phép thoát Trung màu nhiệm hiệu quả nhất.
Việt Nam cần Đổi mới thể chế nhanh, vì bản thân nhân dân Trung Quốc cũng muốn Thay đổi thể chế, và dứt khoát nhân dân Trung Quốc sẽ làm được điều đó. Vấn đề chỉ ở thời gian. Việt Nam cần thoát Trung trước khi Trung “thoát Việt”.
V. Hòa nhập thế giới dân chủ văn minh
Xây dựng một nhà nước dân chủ văn minh, hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh hiện đại là biện pháp tốt nhất để bảo đảm nền độc lập của Dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Một mình một đường không giống ai, không phải là sáng tạo độc đáo, mà là tự tụt hậu yếu nghèo, tự cô lập chính mình. Mà đã nghèo khó thì sẽ bị ức hiếp phụ thuộc, sẽ mất đi độc lập Dân tộc và không có khả năng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Khăng khăng duy trì một thể chế lạc lõng để bảo toàn quyền lực, làm đất nước bị tụt hậu yếu nghèo, sẽ có tội trước Dân tộc, có lỗi với cháu con, và sẽ không tránh được sự phán xét khắc nghiệt của hậu thế.
Một nhà nước Việt Nam dân chủ văn minh sẽ cho phép xây dựng được một nước Việt Nam thực sự giàu có hùng cường – nhân tố quyết định sự thắng lợi trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc. Một nhà nước Việt Nam dân chủ văn minh sẽ huy động tổng hợp được sự đồng lòng nhất trí của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô địch trước mọi kẻ thù.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có, lời của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo còn sang sảng núi sông. Chắc chắn những Hào kiệt mới sẽ xuất hiện để từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô, Cách mạnh thể chế, và đưa Đất nước hòa nhập với thế giới văn minh dân chủ hiện đại.
V. T. D.
Tác giả gửi BVN

Nhìn lại lịch sử 40 năm trước – Nguyễn Tiến Hưng

Nhìn lại lịch sử 40 năm trước – Nguyễn Tiến Hưng

 
1
Ngày Song Bát (8.8.1974)



“It’s so sad, it’s so sad” (Thật là buồn, thật là buồn), tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ… Không ai nói năng gì nữa. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại,” TT Nixon viết để kết thúc cuốn hồi ký dài 1,120 trang. Ðây là lúc ông ngồi trên chiếc trực thăng rời Washington sau khi từ chức ngày hôm trước. Bà Patricia là phu nhân tổng thống.
Trước 10 giờ sáng ngày Thứ Năm, mồng 8 tháng 8, 1974, Phó Tổng Thống Gerald Ford cùng với Phụ tá John Marsh chủ tọa lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc Hội cho gia đình của bảy người quân nhân tử trận ở Việt Nam. Lễ nghi diễn ra tại Blair House, nhà khách của Tổng Thống [chúng tôi xin mở ngoặc để ghi lại là TT Thiệu đã lưu lại nơi đây vào tháng 4, 1972 khi TT Nixon mời ông tới Washington; chúng tôi có ghé thăm ông]. Lễ nghi vừa xong, ông Ford liền được Tướng Al Haig, chánh văn phòng cho biết Tổng Thống Nixon muốn gặp ông ngay. Ông vội vàng bước qua đường Pennsylvania sang tòa Bạch Ốc. Khi ông vừa tới, TT Nixon đứng lên bắt tay rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, trông mặt ông thật căng thẳng vì vừa trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn. Với một giọng nghiêm nghị nhưng kiềm chế, ông chậm rãi nói với ông Ford: “Tôi đã quyết định từ chức, quyền lợi đất nước đòi hỏi như vậy. Tôi không muốn nói tới chi tiết những lý do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đã đi tới quyết định rồi.” Buổi tối hôm ấy TT Nixon lên TV tuyên bố từ chức.
Chúng tôi gọi ngày này là “Ngày Song Bát,” ngày lịch sử của Hoa Kỳ, cũng là ngày đánh dấu buổi hoàng hôn của nền Cộng Hòa Việt Nam.
‘Water – gate’ hay cửa đập nước đã mở?
Watergate là tên của một tập hợp những cao ốc đẹp nằm trên đường Virginia cạnh bờ sông Potomac lãng mạn. Ðây là một khuôn viên gồm khách sạn, chung cư sang trọng và một cao ốc văn phòng. Nơi đây có trụ sở của “Ủy Ban Quốc Gia Ðảng Dân Chủ.” Nhân viên của Tổng Thống Nixon đã cho người đột nhập vào trụ sở này vào ngày 17 tháng 6, 1972 để cài đặt đường dây nghe lén vào mùa vận động bầu cử Tổng Thống 1972. Sau khi đổ bể, Quốc Hội điều tra, TT Nixon chối đi là ông không dính dáng gì đến việc này. Cuộc điều tra tiếp tục. Từ chuyện này dẫn tới chuyện khác. Tuy nhiên cũng chưa có bằng chứng nào kết tội tổng thống.
Tới trên hai năm sau, vào ngày 24 tháng 7, 1974 thì có bước ngoặt: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng Thống Nixon phải chuyển cho Chánh Án Sirica băng thu 64 cuộc nói chuyện tại văn phòng Tòa Bạch Ốc. Trước đó luật sư của Tòa Bạch Ốc đã tranh đấu để không chuyển băng. Hai bên giằng co rất quyết liệt vì những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong vụ Watergate. Chỉ ba ngày sau thì có biến cố lớn. TT Nixon kể lại về ngày 27 tháng 7, 1972: “Tôi đang tắm ở bãi biển Red Beach gần San Clemente khi Ủy Ban Tư Pháp Hạ Viện bỏ phiếu điều khoản thứ nhất của thủ tục bãi chức tổng thống (impeachment). Ðiều khoản này buộc tội tôi đã có những hành động cản trở việc điều tra Watergate. Số phiếu thuận là 27 và chống là 11, đúng như tôi vẫn e sợ. Tôi đang mặc quần áo trong chiếc xe trailer thì chuông điện thoại kêu và (phụ tá) Ziegler báo tin cho tôi. Ðây là giây phút tôi biết mình sẽ là tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon và một cái áo ở ngoài có vẽ dấu ấn của tổng thống.”
Cuốn băng “Smoking Gun”
Ngày 5 tháng 8, Tòa Bạch Ốc bắt buộc phải chuyển giao băng thu cuộc họp ngày 23 tháng 6, 1972. Băng này đã ghi lại rõ ràng là chỉ mấy ngày sau vụ đột nhập Watergate, chính TT Nixon đã họp với Phụ tá Haldeman để bàn tính việc ngăn chận cuộc điều tra. Theo kế hoạch thì Haldeman sẽ để cho CIA thông báo đại với FBI là vụ này dính tới an ninh quốc gia nên không điều tra nữa.“Một cách để xử lý vụ này,” Haldeman nói với tổng thống, “là ta cho Walters (CIA) gọi đại cho Pat (FBI) để chỉ nói ‘Chớ có dính líu gì tới việc này… việc này, chà… chúng tôi không muốn các anh đi sâu hơn nữa.’” (Stay the hell out of this… this is ah, business here we don’t want you to go any further on it). TT Nixon chấp thuận kế hoạch. Ông chỉ thị Haldeman, “Ðược rồi, tốt, tôi hiểu hết rồi… Anh gọi bọn họ vào. Tốt, cách xử lý tốt đấy. Phải cho thật cứng rắn. Ðó là cách họ đối xử với chúng ta và cũng là cách chúng ta sẽ đối xử với họ.”
Nghe băng này, các luật sư của Tòa Bạch Ốc thấy hết đường cứu chữa! Ðây là bằng chứng đi ngược lại với những lời phủ nhận của TT Nixon và ngược lại với những lý luận của các luật sư trước đó. Như vậy TT Nixon đã có tội là “cản trở việc thi hành luật pháp.” Người ta gọi cuốn băng này là “Smoking Gun,” nòng súng có khói (bằng chứng là súng đã có bắn).
Căn dặn người kế vị hãy cẩn thận với ông Kissinger
Trong những giờ phút cuối cùng, TT Nixon vẫn còn quan tâm đến VNCH. Ông viết về cuộc họp với ông Ford sáng ngày 8 tháng 8: “Chúng tôi nói tới những vấn đề ông Ford sẽ phải đối đầu khi ông lên chức tổng thống đúng 24 giờ nữa. Quan trọng nhất là chớ có để cho những người lãnh đạo ở Moscow hay Bắc Kinh nắm lấy việc từ chức của tôi để thử thách Hoa Kỳ tại Việt Nam và những nơi khác trên thế giới.”
Sau đó TT Nixon đã căn dặn người kế vị rằng nên dùng ông Kissinger nhưng phải cẩn thận đối với ông này. TT Ford kể lại lời trối trăn trong Hồi Ký ‘A Time To Heal':
“Tổng Thống Nixon đã khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt Nam và Campuchia và nhấn mạnh vai trò của Henry Kissinger trong việc này.” Ông thêm rằng, “Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình.”
Như vậy TT Nixon đã hối hận vì để cho Kissinger lộng hành? Tuy người tiền nhiệm đã dặn dò như vậy, nhưng TT Ford vẫn khoán trắng cho ông Kissinger. Trở về văn phòng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho Kissinger: “Henry, tôi cần ông, đất nước cần ông. Tôi muốn ông tiếp tục ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để làm việc với ông.” Kissinger trả lời, “Thưa ngài, sẽ không có vấn đề gì. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với ngài chứ không phải là ngài cùng với tôi.” TT Ford mời ông Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức vụ cùng một lúc: Ngoại Trưởng và Cố Vấn An Ninh: tha hồ mà thao túng.
Miền Nam rung động
Tuy đã tiên đoán là Tổng Thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin này, Tổng Thống Thiệu vẫn bàng hoàng. Gặp ông ngay buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thấy ông không giấu nổi sự lo lắng. Vụ Watergate bắt đầu từ tháng 6, 1972 nhưng TT Nixon vẫn thắng cử nhiệm kỳ hai vào mùa Thu năm ấy. Tuy nhiên sau Hiệp Ðịnh Paris thì TT Thiệu đã thấy có điều gì không ổn. Ông kể lại là sau cuộc họp tại San Clemente ngày 3 tháng 4, 1973, khi TT Nixon chào tạm biệt để tiễn ông lên trực thăng (cùng chiếc Mariner One – xem hình) thì “hồn vía ông ta như để ở đâu đâu; trực thăng vừa cất cánh thì ông đã quay gót trở lại. Vội vã đi vào nhà.” Những lần trước khi hai người gặp nhau, dù ở đảo Midway hay ở Sài Gòn (1969), lễ nghi tiễn biệt đã kéo dài, TT Nixon vui vẻ giơ tay vẫy chào thật lâu (‘Khi Ðồng Minh Tháo Chạy,’ Chương 4). TT Thiệu bắt đầu e ngại nhưng vẫn còn chút hy vọng vì đã có được những cam kết tuy bí mật nhưng hết sức vững vàng của người lãnh đạo tối cao Hoa Kỳ. Mặc dù Hiệp Ðịnh Paris, TT Nixon cũng không nỡ lòng nào bỏ rơi Miền Nam. Ông vẫn tranh đấu cho viện trợ. Nhưng sau ngày Song Bát thì khác.
Ðang lúc bối rối như vậy thì TT Thiệu nhận ngay được một lá thư của tân Tổng Thống Ford gửi cho ông. Thư đề ngày 10 tháng 8, 1974 đã khẳng định: “Thưa tổng thống… tất cả những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với VNCH trong quá khứ thì vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.” Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Nhìn lại lịch sử, chúng tôi cho rằng đây chỉ là một mưu lược rất tinh xảo của ông Kissinger nhằm trấn an ông Thiệu. Vì Kissinger đã giấu nhẹm đi không cho TT Ford và Quốc Hội biết gì về những cam kết của TT Nixon, bây giờ ông phải tìm cách để tiếp tục che giấu. Nếu để ông Thiệu nại đến những cam kết này khi bị Quốc Hội cắt xén quá nhiều viện trợ thì sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào chỗ kẹt. Ðiều hay nhất là làm sao giữ cho Sài Gòn cứ yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc hạ màn. Ðó là điều ông Kissinger đã từng cố vấn TT Nixon: “Thưa tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu.” (‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,’ Chương 15).
Mấy ngày sau khi nhận được thư của TT Ford, sau một buổi họp của Hội Ðồng Tổng Trưởng tại Dinh Ðộc Lập, ông Thiệu bảo tôi ở lại nói chuyện thêm. Ông hỏi qua loa về cá nhân ông Ford, vì ông này quá mới mẻ đối với VNCH. Tôi nói với ông Thiệu về cái thông lệ của Hoa Kỳ là một tân tổng thống thường được Quốc Hội dành cho một “tuần trăng mật” chỉ dài khoảng 100 ngày, đôi khi lâu hơn. Trong thời gian này, họ dành mọi sự dễ dàng cho vị tân tổng thống. Không những TT Thiệu mà tất cả Nội Các cũng hết sức lo âu. Câu chuyện mọi người bàn bạc lúc ăn trưa trong những buổi họp hàng tháng vào sáng Thứ Tư tại Phủ Thủ Tướng cũng đều xoanh quanh Watergate và viện trợ Hoa Kỳ.
Ðể tìm hiểu rõ hơn về tình hình và xem Việt Nam Cộng Hòa phải xoay xở ra sao, chúng tôi đề nghị Tổng Thống Thiệu mời Giáo Sư Warren Nutter sang thăm. Ông là cựu phụ tá tổng trưởng Quốc Phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình Việt Nam Hóa. Ông cũng là người thầy kính mến của chúng tôi tại Ðại Học Virginia. Ông rất am hiểu đường đi nước bước của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và vấn đề quân viện. GS Nutter dự điểm tâm với TT Thiệu và chúng tôi sáng ngày 23 tháng 8 tại Dinh Ðộc Lập. Tổng Thống Thiệu nói về tình hình đang trở nên hết sức nguy ngập và bày tỏ sự lo ngại về viện trợ Hoa Kỳ.
Là người ủng hộ ông Thiệu từ lâu, ông Nutter cũng rất bối rối. Ông cảm thấy khó khăn khi giải thích hành động của Quốc Hội. Ông hứa khi về đến Washington sẽ cố gắng trình lên Tổng Thống Ford tình trạng nguy ngập ở Việt Nam. Ông than phiền: “Không có nhân vật cao cấp nào trong chính phủ để ý đến vấn đề Việt Nam nữa!” Câu nói của GS Nutter làm TT Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu. Về tới Washington, ông viết một lá thư cho bạn ông là John O. Marsh, Phụ Tá của TT Ford. Nutter nhất quyết rằng miền Nam sẽ tồn tại được nếu có phương tiện chống trả các cuộc tấn công của quân đội chính quy Bắc Việt. Nhưng nếu Hoa Kỳ ngưng viện trợ thì sẽ gây hậu quả trầm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Nutter viết cho ông Marsh và đưa cho tôi một bản sao:
“Tôi chưa thấy ông Thiệu và các tướng lãnh Việt Nam có khí sắc u sầu như vậy bao giờ. Họ sẽ càng mất tinh thần nếu Bắc Việt tiếp tục gây áp lực… Tôi tin rằng hành động của Quốc hội và hậu quả tai hại của việc cắt viện trợ là đầu mối của những xáo trộn chính trị và biểu tình trong vài tuần lễ gần đây (tại Sài Gòn). Tình hình sẽ bất ổn về cả chính trị lẫn quân sự, và mọi sự có thể đổ vỡ nếu không xoay ngược được chiều hướng này. Nếu phải lựa chọn, ta nên viện trợ quân sự trước, rồi kinh tế sau, để đương đầu với những đe dọa quân sự trước mắt…
“Ðể cho Miền Nam Việt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm cảnh chỉ vì hơn kém nửa tỷ đôla sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là sẽ xé nát lương tâm của Hoa Kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa Kỳ tuy còn mạnh nhưng đang yếu dần trên chính trường quốc tế.”
Thêm vào đó, Ðại Sứ Martin cũng cố gắng vận động tại Quốc Hội Hoa Kỳ, nhưng chẳng ai làm được gì vì ông Kissinger đã trở nên một ông quan toàn quyền.
Hoàng hôn của nền Cộng Hòa
Cuối Hè vào Thu, chân trời miền Nam đã tím lại. Chỉ vài ngày sau khi TT Ford viết bức thư cho TT Thiệu khuyên ông đừng có lo nghĩ gì cả vì “sau cùng VNCH sẽ được đầy đủ cả quân viện lẫn kinh viện,” Ủy Ban Chuẩn Chi Thượng Viện đã cắt thêm nữa: từ mức quân viện cho Tài khóa 1973 là 2.2 tỷ đôla bây giờ cắt xuống còn 700 triệu. Ðiều chỉnh theo lạm phát thật cao lúc ấy thì mãi lực của số tiền này chẳng còn bao nhiêu. Thực là tin sét đánh cho Bộ Tổng Tham Mưu VNCH. Ðối với TT Thiệu một chút hy vọng khi nhận được thư đầu tiên của vị tân tổng thống Mỹ đã tan biến đi như mây khói.
Ngoài chiến trường thì tình hình bắt đầu sôi động, đặc biệt là ở Ðức Dục và Thường Ðức. Tới cuối năm 1974 thì đạn dược và xăng nhớt đã cạn kiệt. Theo dự tính của Bộ Tổng Tham Mưu: dự trữ đạn dược tồn kho chỉ còn cung ứng được từ 30 tới 45 ngày. Ðại Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng kết luận rằng, “nếu tình hình chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo cùng một nhịp độ thì“số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng 6, 1975 nếu không nhận được thêm viện trợ.” Tình hình chiến sự đã tiếp tục xảy ra, lại theo một nhịp độ gia tăng. Không nhận được thêm viện trợ, lại còn bị Quốc Hội biểu quyết cúp hết quân viện, Miền Nam đã sụp đổ trước tháng 6, 1975.
***
Về miền Cali
Sau khi từ chức và trao quyền cho TT Ford, trưa ngày 9 tháng 8, 1974 nguyên TT Nixon và gia đình rời cửa trước Tòa Bạch Ốc từ từ đi trên tấm thảm đỏ dài dẫn tới Marine One, chiếc trực thăng của tổng thống. Sau đây là những dòng cuối cùng của cuốn ‘Nhật Ký Richard Nixon’ – viết về lúc giã từ thủ đô:
“Tôi bắt tay Jerry (Ford) – Pat ôm Betty (phu nhân TT Ford) – rồi hôn Julie (con gái) – và tạm biệt David (con trai). Rồi tôi đứng một mình. Lên hết cầu thang, tôi quay mình, nhìn lại một lần cuối… Tôi giơ tay vẫy chào lần cuối cùng. Tôi vẫn cười. Tôi bước vào trực thăng, cửa đóng lại, chiếc thảm đỏ được cuộn nhanh. Ðộng cơ bắt đầu nổ. Cánh quạt bắt đầu quay. Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.
“Bất chợt chiếc trực thăng từ từ bay lên. Những người ở dưới vẫy tay chào. Rồi chúng tôi đổi hướng. Bây giờ thì Tòa Bạch Ốc đã nằm phía sau chúng tôi. Chúng tôi bay thấp và ngang qua Washington Monument. Một lần đổi hướng nữa và hồ Tidal Basin đã nằm ở dưới. Rồi tới Jefferson Memorial.  
“Không ai nói năng gì. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. ‘Thật là buồn, thật là buồn’ tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ.”
“Sau một lần đổi hướng nữa chúng tôi đã bay về hướng phi trường Andrew, ở đó chiếc Air Force One đã đợi để đưa chúng tôi về California.”
“Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.”
Chắc chắn rằng trong những suy nghĩ của TT Nixon về những gì đã xẩy ra ông không khỏi hối hận vì đã sơ suất để phải chết đuối trong vũng lầy. Vào mùa bầu cử 1972, ông đã quá mạnh để thắng nhiệm kỳ hai, không cần phải cho nghe lén ở trụ sở Ðảng Dân Chủ. Thành tích của ông vẻ vang vì mở cửa Bắc Kinh lại rút hầu hết quân đội Mỹ khỏi Việt Nam. Chương trình Việt Nam Hóa – chứng minh cho ‘Học Thuyết Nixon’ – đang thành công.
Nhìn theo một khía cạnh tâm linh nào đó, ta có thể cho Ngày Song Bát cũng chỉ là điểm chốt của vận mệnh TT Nixon. Từ một chuyện nhỏ nhặt đã gây nên thảm cảnh. Một thanh niên người da mầu tên là Frank Wills, 24 tuổi, làm nhân viên bảo vệ cho một cao ốc văn phòng tại khuôn viên Watergate. Ðêm ngày 17 tháng 6, 1973, anh thủng thẳng đi quanh tòa nhà để xem xét, bất chợt anh thấy có miếng băng nhỏ dán vào ổ khóa một cánh cửa. Chẳng nghi ngờ gì, anh lấy tay gỡ miếng băng ra, đóng chặt cửa rồi tiếp tục đi kiểm tra như thường lệ. Ba mươi phút sau anh vòng lại chỗ cũ. Ấy chết, lại có thêm băng dán vào chốt cửa. Vội vàng, anh chạy lên lobby lấy điện thoại gọi cho cảnh sát Khu Vực II. Cảnh sát ập tới, bắt được năm người trong văn phòng Ðảng Dân Chủ đang cài dây nghe lén. Thế là chỉ trong giây phút “Water – gate” đã bắt đầu – cửa đập đã mở ra cho nước lũ tràn xuống.
Ta thử hỏi giả như anh Wills không vòng lại lần thứ hai thì lịch sử đã như thế nào? Vô tình, chỉ trong giây phút anh đã là người khởi sự quá trình dẫn đến ngày Song Bát. Một quá trình đã chấm dứt sự nghiệp của người tổng thống lừng danh. Ông đã đại thắng trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ hai – một đại thắng ‘landslide’ – long trời lở đất. Ðể rồi đại bại, sụp đổ. TT Nixon đã ra đi và giã từ thủ đô để trở về miền Cali, nơi có nắng âm hiền hòa hơn Washington.
Chưa tới chín tháng sau ngày Song Bát, miền Nam Việt Nam cũng sụp đổ theo ông. Những con thuyền bé nhỏ lênh đênh trên mặt Biển Ðông trông giống như những chiếc lá tre trôi dạt dào. Bao nhiêu người quay lại giã từ Sài Gòn một lần chót. Mệt lả, họ lẩm bẩm “thật là buồn, thật là buồn – It’s so sad, it’s so sad!” Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Không có lưng ghế, họ ngả đầu vào nhau, nhắm mắt lại, phó mặc cho số phận. Với chút may mắn, một số người đã vượt qua được đại dương. Từng đợt rồi lại từng đợt, họ kéo nhau về miền Cali, nơi có nắng ấm hiền hòa. Thêm một sự trùng hợp lạ lùng nữa: phần đông lớp người ra đi đầu tiên lại được đưa tới Camp Pendleton, gần ngay khu nhà Casa Pacifica của TT Nixon ở San Clemente. Cả hai đều nằm sát Ðường Xuyên Bang – Interstate 5.

Friday, August 8, 2014

Việt Nam - Trung Cộng: Ai nợ ai?


Việt Nam - Trung Cộng: Ai nợ ai?


07022014-vn-cn-who-own-oth.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã phát biểu cho rằng“ mang ơn thì có cách trả ơn chứ không thể áp đặt”
Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã phát biểu cho rằng“ mang ơn thì có cách trả ơn chứ không thể áp đặt” AFP    



Một số người cho rằng VN mang ơn và nợ Trung Cộng. Tại cuộc gặp với cử tri ngày 26-6-2014, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã phát biểu cho rằng“ mang ơn thì có cách trả ơn chứ không thể áp đặt”. Nhận thức như thế có đúng hay không và thực chất của vấn đề này là gì? Anh Vũ cho biết thêm chi tiết.
Láng giềng thì có mang ơn thì không
Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có một quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho quan hệ Việt Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm.
Quan hệ VN-Trung Cộng luôn là chủ đề nóng bỏng trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào cũng đều mang tính thời sự. Đặc biệt trong lịch sử cận đại, từ năm 1945 đến nay thì mối quan hệ giữa 2 quốc gia cộng sản cũng để lại không ít các vấn đề thăng trầm.
Chúng ta không quên sự giúp đỡ của Trung Cộng trong hai cuộc kháng chiến, nhưng mang ơn không có nghĩa là muốn áp đặt cái gì thì áp đặt
Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang
Hiện nay, quan hệ Việt – Trung đang xấu đi một cách nhanh chóng, đặc biệt sau việc Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong lãnh hải của VN. Nhất là khi phía TQ bạch hóa các tư liệu về quan hệ giữa hai nước liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và vu cáo rằng VN vong ơn bội nghĩa.
Tại cuộc gặp với cử tri ngày 26-6-2014, khi nói về quan hệ VN-Trung Cộng, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang đã phát biểu cho rằng "Chúng ta không quên sự giúp đỡ của Trung Cộng trong hai cuộc kháng chiến, nhưng mang ơn không có nghĩa là muốn áp đặt cái gì thì áp đặt”.
Bình luận về phát biểu của Chủ tịch Trương Tấn Sang, ông Khuất Duy Chiến một sĩ quan quân đội thuộc Binh đoàn 559 trong chiến tranh chống Mỹ, đã nghỉ hưu cho biết: ông hoàn toàn không tán đồng ý kiến của Chủ tịch Nước. Theo ông các nhà lãnh đạo Việt nam trong quá khứ đã mắc phải sai lầm khi biến VN thành nơi thử nghiệm và đối đầu giữa các thế lực quân sự quốc tế hàng đầu. Đây là cuộc chiến giữa ý thức hệ CS và ý thức hệ tự do dân chủ. Việc Trung Cộng ủng hộ và giúp đỡ VN không ngoài mục đích cổ vũ tình đoàn kết cộng sản quốc tế để chống kẻ thù chung.
Trong chiến lược bành trướng xuống phía Nam của Chủ nghĩa CS, VN đã lĩnh vai trò tiền đồn của phe XHCN, do đó đối với nhân dân Việt Nam thì chính Trung Quốc nợ xương máu, nợ cả việc chia cắt đất nước
ông Khuất Duy Chiến
Từ Ninh bình, ông Khuất Duy Chiến nói với chúng tôi:
“Trong chiến lược bành trướng xuống phía Nam của Chủ nghĩa CS, Việt nam đã lĩnh vai trò tiền đồn của phe XHCN, do đó đối với nhân dân Việt Nam thì chính Trung Cộng nợ xương máu, nợ cả việc chia cắt đất nước. Tất cả nằm trong phương châm "Đánh Mỹ tới người Việt nam cuối cùng" của Mao Trạch Đông. Nên nhớ như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng nói "Ta đánh Mỹ là đánh cho phe XHCN, đánh cho cả Liên xô, Trung Cộng".”

Nói về sự giúp đỡ của Trung Cộng đối với cách mạng VN từ năm 1945 đến nay, ông Nguyễn Tường Thụy một cựu chiến binh ở Hà nội thấy rằng cuộc chiến tranh Việt nam (1955-1975) về bản chất là một cuộc chiến tranh ý thức hệ, vì lúc đó VN tự xác định mình là tiền đồn XHCN. Do vậy chính quyền CS đã nhận được sự ủng hộ của các nước XHCN, nếu không có sự ủng hộ này thì VN không thể chiến thắng được.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến ý thức hệ của Chủ nghĩa Cộng sản, Trung quốc chỉ bỏ ra súng đạn đảng cộng sản Việt Nam bỏ người (1,2 triệu bộ đội hy sinh trong cuộc chiến ý thức hệ này)
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến ý thức hệ của Chủ nghĩa Cộng sản, Trung Cộng chỉ bỏ ra súng đạn đảng cộng sản Việt Nam bỏ người (1,2 triệu bộ đội hy sinh trong cuộc chiến ý thức hệ này)

Ông Nguyễn Tường Thụy nói với chúng tôi:
“Tất cả những người lính Miền Bắc đi vào miền Nam lúc ấy thì tất cả trang bị từ đầu đến chân, quân trang quân dụng đều của Trung Cộng cả, còn Liên xô thì viện trợ các vũ khí hạng nặng. Tôi nghĩ rằng nếu như nợ Trung Cộng thì là Ban lãnh đạo Đảng CSVN nợ Trung Cộng chứ nhân dân VN thì không nợ Trung Cộng.”

Trong bài viết “Việt nam không mang ơn Trung Cộng” của tác giả Vương Trí Dũng trên trang Bauxite gần đây, tác giả đã viết rằng “Ngay từ ban đầu lãnh đạo Trung Cộng giúp Việt Nam là vì lợi ích của chính Trung Cộng. Nếu Trung Cộng không có lợi, lãnh đạo Trung Cộng đã không giúp Việt Nam. Không phải tự nguyện hay do Việt Nam đề nghị, mà lãnh đạo Trung Cộng buộc phải giúp Việt Nam vì lợi ích sát sườn trực tiếp của chính Trung Cộng. Lãnh đạo Trung Cộng không phải tình cờ hay chỉ thông thường mà có chủ mưu sâu xa thâm độc trong lá bài giúp đỡ Việt Nam. Lãnh đạo Trung Cộng giúp Việt Nam chống Pháp và Mỹ không chỉ bảo vệ lợi ích của Trung Cộng trước sự đe dọa của Pháp và Mỹ mà còn có mục đích chiếm đoạt thống trị Việt Nam.”

Trung Cộng nợ Việt Nam thì có…

Trả lời câu hỏi trong cuộc chiến tranh VN với sự chi viện rất lớn của Trung Cộng và các nước XHCN thì VN có nợ Trung Cộng hay không? Ông Khuất Duy Chiến thấy rằng sự giúp đỡ của Trung Cộng trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ là sự giúp đỡ dưới trách nhiệm của tình đoàn kết quốc tế vô sản. Mà thực chất là các bên với cùng mục đích chung để bành trướng ý thức hệ cộng sản trên toàn cầu, trên cơ sở sử dụng xương máu của người Việt để thực hiện ý đồ đó.
Cái nợ của Trung Cộng đối với nhân dân VN là nợ máu và nợ lãnh thổ, nên không thể nói VN mang ơn Trung Cộng được. Nếu như ban lãnh đạo Đảng CSVN mang ơn thì đấy là chuyện của họ. Còn quan điểm của tôi là một công dân VN, là một người VN tôi không chấp nhận được điều này
Ông Nguyễn Tường Thụy
Ông Khuất Duy Chiến nói với chúng tôi:

“Nói về nợ, thì Trung Cộng đã từng giúp Việt Nam lương thực, quân trang, quân dụng, vũ khí... trong chiến tranh chống Mỹ . Nhưng đó là họ làm nghĩa vụ quốc tế, dựa trên chiến lược của ý thức hệ của Chủ nghĩa Cộng sản, với mong muốn nhuộm đỏ toàn thế giới. Chẳng qua là một bên bỏ sức người, một bên bỏ sức của thôi. Thử hỏi rằng nếu xét về người và của thì cái gì quý hơn?”

Ông Nguyễn Tường Thụy thấy rằng trong các cuộc chiến tranh kéo dài đã có khoảng 4-5 triệu người VN của cả hai bên đã chết trong các cuộc chiến này mà không thể tiền bạc nào trả nổi. Đúng ra Trung Cộng phải mang ơn VN đã dùng xương máu của từng ấy triệu người chiến đấu cho việc lan tỏa của Chủ nghĩa CS. Cái nợ đó là nợ bằng máu của người VN, mà theo ông VN chằng có gì phải mang ơn Trung Cộng. Đó là chưa kể đến việc Trung Cộng đã lợi dụng để bành trướng về lãnh thổ, lãnh hải cụ thể là Bãi Tục lãm và Quần đảo Hoàng sa, đảo Gạc ma… của VN.
Ông Nguyễn Tường Thụy nói với chúng tôi:
“Cái nợ của Trung Cộng đối với nhân dân VN là nợ máu và nợ lãnh thổ, nên không thể nói VN mang ơn TQ được. Nếu như ban lãnh đạo Đảng CSVN mang ơn thì đấy là chuyện của họ. Còn quan điểm của tôi là một công dân VN, là một người VN tôi không chấp nhận được điều này”.

Tư duy cùng chung ý thức hệ cộng sản và chuyện ‘ơn nghĩa’ giữa hai đảng đang khiến cho chính quyền Hà Nội chưa thể đưa ra biện pháp dứt khoát, rõ ràng trong việc giải quyết căng thẳng Trung Cộng xâm chiếm Biển Đông như hiện nay.
Hồ Choa
nơi gửi Hà Nội
Giáo sư Tương Lai có nói:"Không có Mác thì thế giới tốt đẹp hơn"; tương tự:"Không có CS thì VN tốt đẹp hơn". CS đã rước 'voi'Tàu giày mã tổ VN.
10/07/2014 23:18

Tú Gàn

nơi gửi Sài gòn
Cộng sản Việt nam nên nhớ "món nợ quá hời" của đất nước Chùa Tháp:
Ví như Campuchia năm 1979 tài liệu Tình báo Trung cộng đốt không hết đã có chương trình, kế hoạch: "Đến năm 1981 sẽ đưa (hai mươi) 20 triệu người Trung quốc sang thay thế người Khơ me trên toàn nước Cambốts,..."
07/07/2014 20:09

Tú Gàn

nơi gửi Sài gòn
Có những "món nợ" cũng nên kể cho rõ:
1. Vùng Phú Thọ cũ có nhiều ngôi mộ của "bộ đội Trung Cộng" thời đánh MỸ, những năm 1979 khi chiến tranh Biên giới phía Bắc Trung Cộng "khai quật" lấy đi các Chum vại trong đó đựng súng ống, vũ khí chiến tranh - hình chum vại ăn vào lòng đất mà không phải hài cốt chắc bà con còn nhớ, vì Tình báo Tàu lấy vũ khí xong không kịp xóa hiện trường.
2. Chân núi Tam Đảo thuộc xã Bắc sơn, Đa phúc, Vĩnh phú cũ có những đường hầm ở được cả Trung Đoàn trong lòng núi, có chỗ sinh hoạt ăn, ở, giếng nước, nhà tắm,... do Trung Cộng khai thác vàng tạo thành "căn cứ địa" cho việc thôn tính Việt nam - Vừa Đào vàng vừa làm hầm tạo chỗ trú ẩn.
07/07/2014 20:02

Tú Gàn

nơi gửi Sài gòn
Không cứ thời xưa bạn nay cũng bạn:
1. Ngày xưa Trung Cộng giúp Việt nam đánh Mỹ; Việt nam giúp Trung Cộng đánh quân Tưởng Giới Thạch góp phần giải phóng Trung Cộng năm 1949.
2. "Thù bạn ngày nay có khác xưa/ Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa"- Xưa là bạn nay là thù là chuyện bình thường, đặc biệt với Trung Cộng thì cả Thế giới cũng phải cảnh giác thì Việt nam "Ôm lấy làm gì cho rặm bụng.
Thời đánh MỸ hàng hóa các nước XHCN viện trợ Vn qua đường bộ Trung Cộng ăn chặn mất nhiều chứ - Ai nợ ai?
07/07/2014 10:57

thaodan

nơi gửi hanoi
Trung Cộng đang nợ máu của người dân việt nam thì có, chống pháp, chống mỹ là để bảo vệ phía nam chợ trung quốc, việt nam đã dùng máu của hàng triệu người của mình để bảo vệ cho Trung Cộng khỏi bị mỹ và pháp vào sát lách mình,năm 1979 Trung Cộng đưa quân sang giết hàng vạn đồng bào ta và phá hủy bao nhiêu thành phố làng mạc mà hiện nay ta còn chưa khắc phục được, sao việt nam đòi trung quốc phải bồi thường chiến tranh, hữu nghị, đồng chí gì ,mà đi giết hàng vạn đồng bào của nhau? vì dân vì nước gì mà im lặng không dám nói khi chúng giết hàng vạn đồng bào chiến sĩ mình, này 1 số kẻ còn câm như hến hưởng lợi từ Trung Cộng để im lặng khi chúng đưa giàn khoan HD981 vào vùng biển của mình, dối trá lừa dẫn qua mấy ông ơi,RFA hãy vạch mặt các thủ đoạn chính trị của những kẻ neo mép lừa dan nhé

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?


Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-08-06
   
         
    08062014-time-to-declas-thanhdo-conf.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh  
Hội nghị Thành đô 1990
Hội nghị Thành đô 1990
Files Photos
Hội Nghị Thành Đô là cụm từ nhức nhối đối với người quan tâm tới vận mệnh đất nước có liên quan đến yếu tố Trung Cộng. Hồi gần đây sự đòi hỏi minh bạch hội nghị này ngày một xuất hiện nhiều hơn trong giới sĩ phu cũng như tướng lãnh quân đội Nhân dân Việt Nam.
Bí ẩn vẫn bao trùm Hội nghị Thành Đô
Trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 Hội nghị Thành Đô được tổ chức tại Tứ Xuyên quy tụ lãnh đạo cao cấp của hai nước Việt Nam-Trung Cộng cho đến nay vẫn còn để lại trong lòng người dân nhiều câu hỏi về những gì mà hai bên bàn luận. Những khuôn mặt phía Việt Nam như Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng, cố vấn ban chấp hành Trung ương Đảng. Phía bên kia là Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Cộng cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Cộng.
Qua hình ảnh, những cái bắt tay đi kèm những nụ cười cho biết họ vừa bàn thảo những sự kiện quan trọng nhưng không ai được đọc hay nghe những gì mà hai bên thỏa thuận bên trong hội nghị. Từ đó đến nay, sự bí mật, hay nói đúng hơn là bưng bít vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô như một vùng cấm của người cộng sản mặc dù nội dung của nó liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc.
Lịch sử cho thấy bất cứ sự thỏa hiệp mờ ám nào dù tinh vi tới đâu cũng bị lật tẩy. Không ai có thể buộc kẻ thù không được công bố những gì mà trong quá khứ đã trót bằng lòng với chúng. Câu chuyện công hàm Phạm Văn Đồng là một thí dụ lớn nhất mà nhà nước có thể lấy làm bài học vì thời gian dù có bao lâu vẫn không mài mất được chữ ký của một Thủ tướng.
Qua hình ảnh, những cái bắt tay đi kèm những nụ cười cho biết họ vừa bàn thảo những sự kiện quan trọng nhưng không ai được đọc hay nghe những gì mà hai bên thỏa thuận bên trong hội nghị. Từ đó đến nay, sự bí mật, hay nói đúng hơn là bưng bít vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô
Công hàm Phạm Văn Đồng do Hà Nội quá lâu không lên tiếng giải bày khiến Trung Cộng có lợi thế như một yếu tố phân hóa quần chúng không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền khi xảy ra vấn đề tranh chấp biển đảo với Trung Cộng. Tương tự như vậy, Trung Cộng đã dùng sự mập mờ của Hội Nghị Thành Đô để bịt miệng lãnh đạo Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử khiến tay họ trót nhúng chàm vì quá tin vào người bạn xã hội chủ nghĩa.
Năm 2004 tập hồi ký của nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho thấy phần nào sự bí ẩn phía sau khi ông bị Trung Cộng gạt ra khỏi Hội Nghị vì quan điểm chống Trung Cộng công khai của ông. Yếu tố này một lần nữa chứng minh sự gượng ép của những người đại diện Việt Nam tham gia hội nghị và mãi một phần tư thế kỷ sau đó bí mật vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô.
Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang là người từng nhiều lần tiếp xúc với nguyên Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cho biết:


Chụp ảnh lưu niệm sau hội đàm Thành Đô


Chụp ảnh lưu niệm sau hội đàm Thành Đô
Trung Cộng đưa ra một điều kiện tiên quyết đó là Việt Nam thực tâm muốn bình thường, cải thiện quan hệ ngoại giao với Trung Cộng thì việc đầu tiên là Việt Nam phải loại bỏ Bộ trưởng Thạch, đó là điều anh ấy nói riêng với tôi và sau này tôi được biết anh ấy nói công khai trong Bộ Ngoại giao. Còn nhiều việc anh ấy nói với tôi nữa nhưng tôi chưa dám công bố bởi vì có thể những việc đó anh ấy sẽ viết trong cuốn hồi ký của anh ấy.
Anh ấy là người rất hiểu Trung Cộng và hiểu tận tim gan của họ. Ví dụ như Trung Quốc nói rằng đảo Hoàng Sa có xương của người Trung Cộng thì ảnh đập lại anh ấy nói nếu như thế thì ngay thủ đô Hà Nội cũng sẽ là đất của Trung Cộng bởi vì gò Đống Đa có rất nhiều xương của Trung Cộng vì người Hán bị vua Quang Trung tiêu diệt chất thành cả một cái gò như thế. Nếu nói đâu có xương của người Hán người Trung Cộng thì nơi đó là dất của Trung Cộng thì phi khoa học.
Việt Nam một tỉnh tự trị của Trung Cộng?
Tài liệu về hội nghị này hết sức ít ỏi khiến bao nhiêu học giả muốn nghiên cứu về nó phải chịu thua vì sự trung thành của người trong cuộc. Bí mật càng giữ, sự xuyên tạc sự thật về nó càng khiến người ta tin hơn, đặc biệt nếu sự xuyên tạc ấy đến công khai từ phía Trung Cộng khi hai nước chạm trán với nhau trên vấn đề biên cương lãnh thổ.
Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Cộng đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Cộng đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên
Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã
Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã vừa cùng nhau công bố những chi tiết mà hai cơ quan này gọi là sự thật về “Kỷ Yếu Hội Nghị” trong những ngày vừa qua với những câu chữ như sau:
Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Cộng đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Cộng đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên , và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Cộng.”
Với những từ ngữ tuyên giáo như thế không ai có thể tin rằng lãnh đạo Việt Nam đã mù quáng đến nỗi đi tới quyết định như vậy mặc dù sự xụp đổ của Liên Xô đã khiến đảng Cộng sản Việt Nam phải tìm cách dựa vào Trung Cộng để sống còn.
Dù sao thì Chủ nghĩa Xã hội cũng không thể biến Việt Nam thành một tỉnh tự trị của Trung Cộng vì ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cộng với Phạm Văn Đồng không đủ chính danh để ký một văn tự vô giá trị như thế.
Tuy nhiên vì Hà Nội tiếp tục im lặng nên câu hỏi đã dần dần biến thành sự thật cho dù chỉ phân nửa sự thật đến từ Hoàn Cầu Thời Báo.
Phản ứng của nhân sĩ trí thức và tướng lãnh Việt Nam rõ ràng là phẫn nộ và họ đòi hỏi nhà nước phải bạch hóa sự kiện Thành Đô. Trước tiên là Thiếu tướng Lê Duy Mật sau đó là Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang cùng nhiều người khác đã công khai kiến nghị lãnh đạo phải giải thích minh bạch những điều mà Trung Cộng đưa ra như đã từng đưa sự việc công hàm Phạm Văn Đồng khiến Hà Nội phải ngậm bù hòn làm ngọt không thể tiến tới một vụ kiện phản đối Trung Cộng.
Hoàn Cầu Thời báo thì nó không phải là cơ quan chính thức của dảng và nhà nước Trung Cộng cho nên nó đưa như thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, bản thân cá nhân tôi thì tôi không tin đó là sự thật. Thế nhưng nếu mình im lặng trong chuyện này thì bất lợi cho mình. Phải có một kênh thông tin nào đó để phản bác lại chuyện đó
Đại tá Nguyễn Đăng Quang
Nói với chúng tôi Thiếu tướng Lê Duy Mật cho biết:
Vấn đề Thành Đô quan hệ như thế nào nó ảnh hưởng ra sao và hậu họa của nó thế nào thì giờ mình cũng chưa thật rõ cho nên tôi nêu ra vấn để để các đồng chí lãnh đạo xem xét và đồng thời có ý kiến với toàn bộ đảng toàn nhân dân thế thôi. Bây giờ thì cứ chờ họ xem quan điểm, thái độ và cách giải quyết như thế nào. Còn bây giờ mình hãy nêu vấn đề, một vài ví dụ thế thôi. Nó là vấn đề bang giao chiến lược và của tập thể chứ không phải của một cá nhân nào.
Đại tá Nguyễn Đăng Quang không tin vào những thông tin này tuy nhiên theo ông nếu nhà nước vẫn chủ trương im lặng thì không khác gì trao vũ khí tuyên truyền cho giặc, ông chia sẻ:
Cái thông tin này thì bản thân tôi nghĩ rằng không phải là thật. Hoàn Cầu Thời báo nó tung ra để gây chia rẽ mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam với nhau thôi và gây phân hóa trong người dân Việt Nam với nhau.
Hoàn Cầu Thời báo thì nó không phải là cơ quan chính thức của dảng và nhà nước Trung Cộng cho nên nó đưa như thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. bản thân cá nhân tôi thì tôi không tin đó là sự thật. Thế nhưng nếu mình im lặng trong chuyện này thì bất lợi cho mình. Phải có một kênh thông tin nào đó để phản bác lại chuyện đó.
Còn chuyện có công bố cho dân biết về Hội nghị Thành Đô hay không thì tôi nghĩ rằng không phải là chuyện dễ làm nhưng phần nào ít nhiều gì cũng phải cho người dân biết.
Hội Nghị Thành Đô như một giọt nước tràn ly, đây là cơ hội để nhà nước bạch hóa một sự thật được giữ kín trong suốt 24 năm. Tuy nhiên bí mật khi đã trở thành gai nhọn thì cách hay nhất vẫn phải chịu đau mà lấy gai lể nó.

Wednesday, August 6, 2014

Thưa cô em cũng muốn tin

Thưa cô em cũng muốn tin nhưng không thể !
   https://m.youtube.com/watch?v=euXXqIf3fYE                  

Chị Khánh Ly mó dái ngựa ở Hà Nội

Chị Khánh Ly mó dái ngựa  ở Hà Nội


T3, 08/05/2014 - 01:51
alt
Mặc dù có được giấy phép về biểu diễn lần 2 trong nước, chương trình của ca sĩ Khánh Ly đã gặp nhiều khó khăn từ chính quyền, kể cả ngay trước giờ mở màn biểu diễn.
Sự kiện được làm rùm beng nhất, là vào tối ngày 2 tháng 8 ở Hà Nội, với quyền hạn là giám đốc Trung tâm bảo vệ quyền tác giả trong nước, ông Phó Đức Phương đã bất ngờ đòi đến giữa buổi diễn và gây xáo trộn chương trình, sau khi đòi ca sĩ Khánh Ly phải trả ngay một số tiền bản quyền ca khúc trình diễn trong chương trình là 268 triệu đồng, tức vào khoảng 13.000 Mỹ kim.
Hầu hết mọi người đều bất ngờ về chuyện kỳ quái này. Dựa theo luật từ Trung tâm bảo vệ quyền tác giả của ông dựng nên, ông Phó Đức Phương nói rằng chương trình của ca sĩ Khánh Ly phải trích từ 15% đến 21% tổng doanh thu của đêm diễn để nộp trước cho ông. Trong khi theo luật chính thức của Nhà nước CSVN, thì cả chương trình chỉ phải trả tiền bản quyền bài hát khoảng 30 triệu đồng, tức khoảng gần 1500 Mỹ kim.
Hầu hết các bài hát được diễn trong chương trình là của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đại diện bản quyền hiện nay là bà Trịnh Vĩnh Trinh, nhưng bà Trinh đã cố ý tránh mặt và phối hợp để cho Trung tâm quyền tác giả này hành động và gây rối, thậm chí không trả lời các cuộc gọi cầu cứu từ nhà tổ chức đêm diễn của ca sĩ Khánh Ly.
Cũng từ vụ quấy rối này của ông cán bộ văn hoá Phó Đức Phương, mà người ta cũng được biết thêm nội tình các chương trình diễn của ca sĩ Khánh Ly từ trước đến nay.
Ban tổ chức chương trình các đêm diễn của ca sĩ Khánh Ly cho biết đợt diễn trước thất bại hoàn toàn về doanh thu, kế đến là chương trình này, chỉ hy vọng là bán được 75% vé ở Hà Nội và 65% vé ở các nơi khác. Chương trình gặp nhiều khó khăn, đến mức ở ngay Hà Nội, các bảng quảng cáo cũng bị cấm không được treo lên.
Ai cũng thấy là rõ ràng có một sự điều khiển từ trong nội bộ chính quyền CSVN trong việc gây khó cho các chương trình biểu diễn của ca sĩ Khánh Ly ở Việt Nam. Cho đến nay ban tổ chức chương trình vẫn chưa thể xin được giấy phép biểu diễn ở Sài Gòn. Một viên chức ở Uỷ ban Nhân dân Thành phố giấu tên cho biết, lệnh của chủ tịch Lê Hoàng Quân là chỉ cho Khánh Ly diễn đến Bình Dương là mốc cuối cùng chứ không được vào diễn ở Saigon. Đặc biệt là sang năm 2015 thì dứt khoát không cấp giấy phép để vào diễn ở thành phố.
Sự kiện cán bộ văn hoá Phó Đức Phương bất ngờ đưa ra chuyện đòi số tiền bản quyền tác giả khổng lồ và phải nộp trước đêm diễn là điều chưa từng có ở Việt Nam. Sự kiện này cũng như cho thấy rõ có sự hậu thuẫn từ giới chức cấp cao nhằm ngăn cản các cuộc biểu diễn của ca sĩ Khánh Ly bằng cách gây các vụ tai tiếng cho chương trình. (N. Khanh)