Saturday, January 28, 2012

Tình Thư Của Một H. O.

Tình Thư Của Một H. O.

Tác Giả: Phạm Thái   
Thứ Ba, 20 Tháng 12 Năm 2011 11:36

Ánh nắng mặt trời xuyên qua khung cửa sổ làm Dũng choàng tỉnh.
Ngước mắt nhìn đồng hồ, gần 9 giờ sáng. Dù muốn nằm nán thêm chút nữa, nhưng Dũng cần gọi phone cho người bạn tên Hùng, nên bật dậy nhanh đi vào phòng vệ sinh. Cầm điện thoại lên chàng bấm số:
- A lô, Dũng đây. Hùng có phải không?
- Hùng đây. Ông bạn tôi đó ư? Sao, khỏe không? Cuối tuần sao thức dậy sớm thế?
- Tôi vẫn khỏe, còn ông? Mấy tiệm nail của vợ chồng ông ra sao?
Rồi Dũng nói ngay mục đích cuộc gọi:
- Đêm qua đọc bốn câu thơ ông gửi qua email, cảm thấy  hay tuyệt và có ý nghĩa quá. Ông lượm bài thơ nầy ở đâu thế?
- Hồi tháng rồi gia đình tôi đi dự lễ Vu Lan và nghe thuyết pháp ở ngôi chùa gần nhà. Bài pháp của sư cụ trụ trì có chứa đựng bốn câu thơ đó, hình như của Thiền sư Phước Hậu.
Không để Dũng cất tiếng, Hùng nói tiếp:
- Tôi biết ông phải thích bài thơ nầy, bởi vì ông đã nếm hương vị đạo pháp từ lâu. Chờ tôi đọc ông nghe bốn câu thơ nầy rồi hỏi ông vài câu.
Giọng Hùng rổn rảng đọc:

"Kinh điển lưu hành tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Năm nay tính lại chừng quên hết
Chỉ nhớ trong đầu một chữ Như ."

Hùng cười dòn dã trong phone:
-  Đối với ông bạn của tôi có còn…." Chỉ giữ trong đầu một chữ Thư " hay không?
- Đến tuổi lục tuần rồi bạn tôi vẫn còn máu tếu. Ông có biết hôm nay là ngày gì của bà xã tôi không mà ông nói đùa như thế? Thôi bye nhe, tôi còn nhiều việc phải làm hôm nay.
Chữ "Thư" mà Hùng cố tình hỏi Dũng có thể xem là tên một tiểu thư trâm anh đài các, con nhà giàu sang và quyền quý. "Thư" còn có thể xem là những cánh thư tình màu xanh cho lứa tuổi yêu nhau, làm phương tiện chuyên chở tâm tình với nhau. Và đó còn là tên của người con gái mà Hùng là một chứng nhân cho cuộc tình của Dũng và Quế Thư, gần bốn thập niên trước.
Sau cuộc chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972 chính quyền ban hành lệnh tổng động viên. Dũng và Hùng không đủ tiêu chuẩn học tiếp, phải vào trường sĩ quan Thủ Đức.
Dũng hồi tưởng lại trong thời gian đợi chờ lên đường nhập ngũ, chàng thường có mặt hằng ngày ngồi tán dóc với đám bạn ở câu lạc bộ trong sân trường đại học Văn Khoa Sài Gòn. Thời gian nầy trường sắp hết hạn ghi danh cho niên khóa mới của các tân sinh viên. Trong mấy ngày liên tiếp ngồi bên ly cà phê, Dũng chú ý đến một cô gái không thể nào chen vào sát đến căn phòng phụ trách ghi danh. Cô gái nầy luôn vận chiếc mini jupe khá cao lộ đôi chân thon dài hấp dẫn, khuôn mặt trái soan với làn da trắng hồng có nét lai tây và đôi mắt to tròn, sâu, đen lóng lánh như hai hạt ngọc. Dù bản tính nhát gái nhưng biết cô gái đã mấy ngày qua chưa thể chen lấn để ghi danh học được, Dũng gắng lấy can đảm tiến đến trước mặt cô gái và ngỏ ý ghi danh học giùm cho cô gái. Cô gái ngước mặt nhìn Dũng rồi nhỏ nhẹ nói:
- Vẫn còn đông người chen lấn, làm sao ông ghi danh được?
- Ngày mai là hạn chót ghi danh, cô đưa hồ sơ cho tôi, bảo đảm bốn giờ chiều nay cô trở lại lấy hồ sơ mà tôi vừa ghi danh xong.
- Dạ, nhưng mà…
Để cô gái không nghi ngại Dũng chỉ tay vào căn phòng lo việc ghi danh và nói thật cho cô gái an tâm:
- Bạn tôi ở trong ban đại diện của trường, đang ngồi trong đó giúp việc ghi danh. Trưa nay tôi đến gặp hắn và nhờ ghi danh giùm cho cô. Cô đừng lo gì hết.
Buổi chiều gặp Dũng ở dưới câu lạc bộ Văn Khoa, Hùng đưa trả hồ sơ ghi danh của cô gái cho chàng rồi cười nói tếu:
- Xong rồi. Gớm, tên ai cũng thường có ba chữ, còn tên cô bạn mầy dài  gấp đôi, tao viết mỏi cả tay!
Để rồi sau nhiều lần hẹn hò, tình yêu nở rộ lên trong lòng Dũng và Quế Thư bao giờ không hay. Có lẽ Dũng sắp đến ngày đầu quân vào quân đội, thời gian còn lại cho hai kẻ vừa nếm hương vị yêu đương quá ngắn ngủi, nên ngày nào chàng và Quế Thư cũng tìm cách gặp nhau. Trước ngày Dũng đi trình diện nhập ngũ, buổi chiều gió nhiều, mây đen che lấp hết ánh mặt trời như báo hiệu cơn mưa lớn sắp đổ xuống, Dũng đến lớp học của Quế Thư ở trên lầu ba đón nàng. Lớp học đã tan khá lâu, chàng trông thấy trong giảng đường chỉ còn Quế Thư và ông thầy người Mỹ đang trò chuyện với nhau. Thấy Dũng đến nàng ôm sách vở vội bước ra, trước cái nhìn không thân thiện của vị giáo sư người Mỹ. Sợ cơn mưa trút xuống chàng phóng xe nhanh đến rạp hát Eden. Đèn trong rạp vừa tắt, Quế Thư vùi đầu vào vai chàng, và những giọt nước mắt thấm ướt áo chàng.
Sau chín tháng thụ huấn ở quân trường Thủ Đức, Hùng vào sư đoàn bộ binh 21 ở tỉnh Chương Thiện, còn Dũng được chọn sư đoàn 7 bộ binh đóng ở tỉnh Mỹ Tho. Vì hoàn cảnh đất nước Dũng và Quế Thư phải tạm xa nhau, nhưng cả hai đều siêng năng thư từ , và chính những trang giấy màu xanh mỏng manh là chất keo sơn làm tình yêu giữa hai người bền chặt, thâm sâu hơn.
Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt khiến Dũng rất khó được cấp phép về thăm người mình yêu. Sau gần trọn năm không gặp mặt nhau, vào khoảng ba giờ chiều ngày thứ bảy 28 tết năm Ất Mão 1975 một quân nhân gác cổng đi vào văn phòng sư đoàn, báo cáo với Dũng rằng có một thiếu nữ muốn gặp chàng. Nghe thế Dũng ngạc nhiên quá sức, tự nghĩ cô giáo Loan thường ghé thăm chàng ở trại gia binh, chứ có bao giờ đòi gặp chàng ở ngay văn phòng sư đoàn đâu. Tự nghĩ như thế nhưng chàng cũng đứng lên đi ra ngoài. Và ngoài sức tưởng tượng Quế Thư bằng xương bằng thịt, không màng hiểm nguy, từ Sài Gòn xuống đây thăm chàng!
Đêm hôm ấy Dũng nhờ một thiếu úy khác trực giùm mình, trong căn phòng nhỏ hẹp và bừa bãi của chàng ở khu sĩ quan, hai người nằm ôm nhau tâm sự đến khuya bên tai nghe tiếng đại bác ầm ầm liên hồi. Nàng tiểu thư muốn ở lại với Dũng đến sáng thứ hai 30 tết mới trở về, nhưng Dũng lắc đầu dù trong lòng chàng chẳng muốn xa nàng, lòng buồn vô hạn bảo Quế Thư phải trở về sáng sớm ngày mai.  Bởi vì chiến sự xảy ra trước mắt, kề cận sát bên mình, súng đạn bom nổ không chừa một ai, và do đó sự  thương vong đến với người lính và thường dân chỉ trong tíc tắc. Tình yêu dành cho Dũng phải mảnh liệt lắm Quế Thư mới dũng cảm xuống đây thăm chàng, và cũng vậy, phải yêu Quế Thư thắm thiết lắm Dũng mới không sa ngã trước sự săn đón kiên trì của cô giáo Loan.
Sáng hôm sau nhằm ngày chủ nhật 29 tết bến xe đò về thành phố Sài Gòn quá đông, Dũng phải năn nỉ chủ xe nhiều lắm mới có vé cho Quế Thư trở về. Cặp mắt to đen của Quế Thư đỏ hoe, nàng cứ luôn lấy khăn chặm mắt khiến lòng Dũng xốn xang yêu thương nàng vô vàn. Lòng trầm buồn đứng nhìn chiếc xe đò từ từ lăn bánh đưa Quế Thư về với nơi chốn an bình hơn, chờ đến khi xe chạy khuất dạng Dũng mới hấp tấp quay về căn phòng mình. Vừa mặc đồ áo trận xong chàng nghe tiếng gõ cửa, cô giáo Loan đến thăm với bánh chưng, bánh tét, kẹo mứt, trái cây, không thiếu món nào hết trong những ngày tết, nhất là luôn có hai cây thuốc lá Captain tặng chàng. Đã từ lâu Dũng biết tình cảm sâu nặng của Loan dành cho, nhưng vài lần chàng đã khéo léo nói xa gần cho Loan hiểu đời lính trận bấp bênh, tử thần ở trước mắt, cũng chẳng thuyết phục được Loan dang chàng ra. Trái lại Loan kiên nhẫn bày tỏ tấm lòng đôn hậu và hiền hòa của mình, mong mỏi chiếm được con tim chàng trong tương lai.
Chiến cuộc càng xảy ra khốc liệt ở vùng một và vùng hai, và sau cùng thành phố Sài Gòn phải đớn đau thất thủ. Vào lúc 10 giờ sáng thứ tư ngày 30 tháng 4, vị Tổng Thống sau cùng của miền Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng và kêu gọi quân đội khắp nơi buông súng, giải tán.
Đúng một tuần lễ sau cũng tại bến xe đò mà mới hơn hai tháng trước Dũng đưa Quế Thư trở lại thành phố, hôm nay trong bộ đồ dân sự, chàng thất thểu trèo vào xe về Sài Gòn. Cơn mưa đổ xuống xối xả trên đường về thành phố.
Khoảng 5 giờ chiều Dũng mượn xe em gái lái về hướng nhà Quế Thư. Mưa đã tạnh từ lâu mà sao như có mưa sa bảo táp trong lòng Dũng khi biết căn  nhà Quế Thư đã có chủ mới! Quế Thư và toàn thể gia đình đã mất dạng trước ngày thành phố Sài Gòn đổi chủ thay tên.

*
Hùng và Dũng cùng trình diện để đi tù cải tạo.  Hầu hết trại viên đều cảm thấy hạnh phúc trong ngày chủ nhật, vì ngày nầy trại cải tạo cho phép các bà mẹ, bà vợ, thân nhân của họ đến thăm và tiếp tế thực phẩm thuốc men cho họ. Thật giống như lần Quế Thư đột ngột và bất ngờ xuống thăm Dũng vào buổi chiều 28 tết, lần đầu tiên cô giáo Loan lặn lội đường xa vào thăm chàng, hai tay xách hai túi quà nặng trịch khiến chàng cảm động hết sức. Và cứ thế Loan tiếp tục nhiệm vụ thăm nuôi Dũng như vai trò của một người vợ hiền, khiến Hùng nằm kế bên nhau trong trại phải buộc miệng:
- Mầy số đẻ bọc điều, cô giáo yêu thương mầy quá cở thợ mộc còn chờ gì mà không lấy làm áp trại phu nhân chứ!
- Tao chưa biết tin tức gì của Quế Thư, nỡ lòng nào phụ ải tình nàng hỡi mầy?
- Mầy tự dối lòng chứ ai không biết Quế Thư và cả gia đình đều may mắn di tản ra nước ngoài rồi, bằng không nàng phải vào đây thăm mầy rồi.
Hơn ba năm sau với cấp bậc thiếu úy, Dũng và Hùng được phóng thích về với gia đình. Với tính năng động và lanh lẹn, Hùng lập đình với cô gái gốc Hoa và vượt thoát bằng đường biển vào cuối năm 1979, sau nầy được đinh cư ở thủ phủ Boston tiểu bang Massachusetts. Còn cuộc sống Dũng sau đó không đến nổi tệ, chàng mưu sinh bằng nghề dạy Anh ngữ cho các gia đình muốn thoát ly ra nước ngoài. Chàng vẫn còn được cô giáo Loan ghé thăm, nhiều lần Dũng không có mặt ở nhà, nàng vẫn chịu khó đợi chờ chàng về, khiến gia đình chàng phải thương mến và có cảm tình rất nhiều với Loan. Không nói ra Dũng cũng biết Loan mong mỏi nên duyên với chàng, vì vậy một hôm Dũng trải thẳng nỗi lòng mình cho Loan rõ:
- Loan à, thật là không hợp tình và hợp lý khi lấy em về làm vợ mà tâm tư anh cứ nghĩ đến bóng người khác.
- Em tự biết em quê mùa, xấu xí, không bằng vị tiểu thư xinh đẹp, đài các học cao của anh đâu. Nhưng em tự tin em sẽ mang hạnh  phúc cho anh và hứa sẽ là người vợ phục vụ cho anh suốt đời suốt kiếp.
Khi nghe Loan nói như thế Dũng giương mắt nhìn nàng với sự ngạc nhiên và thán phục, không ngờ Loan cũng biết những điều Đức Phật dạy bảo. Nếu trong thời gian ba năm dài trong trại cải tạo Dũng không làm quen với kinh điển Phật pháp, thì hôm nay nghe Loan thốt ra lời nói trên, ắt Dũng phải lấy làm tự mãn chứ đâu có cái nhìn ngưỡng phục nàng. Bởi vì Dũng nhớ lại một thời Đức Phật đến dự lễ cúng dường tại nhà của trưởng giả Cấp Cô Độc. Lúc ấy Đức Thế Tôn nghe nàng dâu của cư sĩ Cấp Cô Độc đang lớn tiếng với chồng, nên nhân đó Đức Thế Tôn thuyết bài pháp về bảy loại vợ, trong đó loại vợ như nữ tỳ được Đức Thế Tôn tán thán và ca ngợi.   
Hơn 13 năm sau Dũng và Loan cùng đứa con gái 12 tuổi sang Mỹ theo diện HO, và đến tá túc với gia đình Hùng. Lúc ngồi trên phi cơ bay qua Mỹ, Loan nheo mắt nhìn chồng cười:
- Thế là anh có cơ hội gặp cô tiểu thư của lòng anh rồi nhé.
- Cô ta ở đâu đến nay anh cũng không biết. Giả dụ cô ta ở Mỹ, bộ em tưởng đất Mỹ nhỏ bé như xứ Mỹ Tho của em sao mà dễ gặp.
Tuy nói thế Dũng có chút mơ tưởng biết đâu duyên lành đến cho chàng trùng phùng với Quế Thư. Rồi chàng cứ miên man nghĩ tiếp, nhưng gặp được Quế Thư có ích lợi chi đâu, nàng chắc rồi cũng phải lấy chồng, có con, thời gian còn đâu nhớ về bóng hình củ, kỷ niệm xưa? Giọt nước mắt của một tiểu thư tuôn rơi cho nỗi nhớ nhung xa cách năm nào, hẳn phải thay thế bằng những tiếng cười hạnh phúc bên chồng con trong nhà cao cửa rộng. Nhớ chi về dĩ vãng một thời tuổi trẻ chóng đổi thay!
Vợ chồng Hùng có hai con, hiện là chủ tiệm Nail, cuộc sống sung túc và khá giả. Còn Dũng tự biết phận mình như trâu chậm uống nước đục, ở Boston quá khó tìm việc làm nên vợ chồng chàng phải đành giã từ lòng ưu ái và tốt đẹp của vợ chồng Hùng, di chuyển đến thành phố Garden Grove, California sinh sống. May mắn làm sao vợ chồng Dũng được một hảng điện tử nỗi tiếng nhận vào làm Assembly, lương bổng dĩ nhiên không cao nhưng cũng khiến một HO mới qua Mỹ như chàng cảm thấy mãn nguyện vô cùng. Cuộc sống của vợ chồng Dũng lẳng lặng êm đềm trôi, bình dị và hạnh phúc bên nhau. Thỉnh thoảng Dũng tình cờ gặp vài người bạn cũ học ở đại học Văn Khoa, chàng hỏi bóng gió tin tức về Quế Thư nhưng không ai biết gì cả.
Thời gian trôi nhanh như gió thoảng mây bay, vợ chồng chàng sống vui vầy bên nhau đã hơn 10 năm nơi xứ người, cho đến một ngày Loan biết được hung tin khi bác sĩ khám phá nàng bị ung thư ngực đến thời kỳ trầm trọng. Bởi thấm hương vị Phật pháp từ lâu, nàng trầm tỉnh, không vật vã than khóc cũng không oán trách trời xanh, thấu hiểu sự vô thường theo nhau như sáng tối, như lật trở cái bàn  tay, nên nàng an bình tự tại chấp nhận số phận nghiệt ngã. Gần một phần tư thế kỷ sống bên Dũng, Loan hết lòng thương yêu, lo lắng và săn sóc cho chồng cho con, đổi lại nàng được chồng quí con ngoan khiến lòng nàng cảm thấy an vui và ấm ám vô cùng. Một đêm nằm gọn trong lòng Dũng, bằng giọng nói nửa như đùa nửa như trối trăn Loan thì thầm:
- Nè ông xã, sau nầy ráng đi tìm cô nàng tiểu thư của anh nhe.
- Em đừng nên nói đùa, anh chỉ biết có em mà thôi. Không có ai, không còn ai ở trong hay ở ngoài anh hết.
Ngước mắt âu yếm nhìn chồng, Loan nở nụ cười hiền hòa:
- Anh có bao giờ biết đã nhiều đêm tên tiểu thư được anh thốt lên trong cơn mớ ngủ hay sao?
- Em cứ trêu ghẹo anh mãi. Thôi khuya rồi anh tắt đèn để em ngủ trong vòng tay anh nhe.
- Mình có chịu em giúp tìm cô tiểu thư không?
- Hoàn toàn không. Em nhắm mắt ngủ đi.
Dũng tin lời tiết lộ của vợ là sự thật, càng khiến chàng kính phục và yêu thương vợ thắm thiết. Loan đã không hề tỏ vẻ ghen tương hay giận dữ gì hết, vẫn một lòng chung thủy với chồng, săn sóc và chìu chuộng chồng hết cả tấm lòng sắt son. Vài tháng sau trong trạng thái tâm vắng lặng và tỉnh không, Loan nhẹ nhàng trút hơi thở trước mặt chồng con và thân nhân ngay trong nhà.
Nói chuyện qua phone với Hùng về bốn câu thơ của thiền sư Phước Hậu xong, Dũng gọi phone nhắc nhở cho đứa con gái đang học bên New York biết hôm nay là ngày giỗ đầu tiên của Loan.
Thời tiết vào mùa thu ở miền nam California mát mẻ và trong lành, Dũng một mình lái xe đến nghĩa trang Vườn Hồng, nơi an nghỉ ngàn thu của người vợ yêu quí. Gió chiều nay thổi mạnh, lá rơi rụng đầy khắp nghĩa trang phủ lấp bãi cỏ xanh rì và nằm dầy đặc bên phần mộ Loan. Đốt xong nén nhang cho vợ, hồn Dũng dật dờ đạp trên đống lá khô đi trở về bãi đậu xe với nỗi cô đơn và hui quạnh. Bước vào chiếc Honda Acord, Dũng đề máy xe và bật nhạc lên, bài ca " Ngẫu Nhiên" của Trịnh Công Sơn mà vợ chàng rất ưa thích phát ra:

"…Mệt quá đôi chân này,
tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi
Mệt quá thân ta này,
nằm xuống với đất muôn đời
Kìa còn biết bao người,
dìu dắt tới quanh đây
Kìa còn biết bao người, dìu dắt tới quanh đây…."

Câu cuối của bài hát chí lý quá! Trước sau, sớm muộn, ai rồi cũng dắt dìu tới quanh nghĩa trang Vườn Hồng. Dũng vừa lùi xe ra vừa vói tay vặn volume lớn lên một chút, bỗng chàng nghe một tiếng ầm không to lắm phía đằng sau xe chàng. Dũng biết xe chàng bị đụng chạm với một chiếc xe khác rồi. Tắt máy chàng bước ra xe, cùng lúc một người đàn bà vận chiếc jupe màu đen cũng bước ra chiếc xe Mercedes E350  vừa va chạm với xe chàng. Hình như người đàn bà nầy là người  Á Đông, chàng nói " Hi" rồi bước đến xem xe mình bị đụng như thế nào. Vết đụng bị lỏm nhẹ ở ngay chính giữa phía sau xe, nên Dũng đoán rằng chàng hay người đàn bà vô ý lùi xe cùng một lúc mà đụng nhẹ vào nhau. Tự nghĩ  đúng là lỗi của mình, bởi tâm tư Dũng chú tâm lắng nghe bài hát  bài ca "Ngẫu Nhiên" nầy. Từ ngày Loan bạo bệnh mất đi, mỗi khi nghe bài ca nầy Dũng tưởng như người vợ dấu yêu đang thầm thì bên tai mình vậy.
Lúc ấy người đàn bà tiến gần đến Dũng, không nói lời nào, nhìn chàng đăm đăm, hai hàng lệ rơi trên má bao giờ, rồi kêu lên: "Ông, anh Dũng phải không?".  Vừa nghe qua thanh âm đó, chàng nhìn kỹ người đàn bà đứng đối diện và sửng sờ nhận ra là Quế Thư! Dũng kinh ngạc reo:
" Quế Thư . Em đây sao?".  Hỏi thế nhưng chàng dang hai cánh tay rộng ra ôm ghì Quế Thư vào lòng. Có cặp vợ chồng Mỹ già đi ngang qua tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy chủ nhân hai chiếc xe đụng nhau, lại ôm ghì lấy nhau với niềm hân hoan trong nước mắt ràn rụa lăn dài trên má người đàn bà!
Quế Thư nghẹn ngào trong vòng tay Dũng:
- Ngày đêm em cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát cho được gặp lại anh, chỉ cốt nói cho anh hiểu lý do em rời anh.
- Anh vui mừng lắm gặp được em.
Lau xong nước mắt Quế Thư nhìn Dũng đắm đuối hỏi:
- Anh viếng thăm mộ phần ai? Vợ anh phải không? Chị mất lâu chưa?
- Phải, vợ anh đã mất được tròn một năm rồi.
Nghe thế Quế Thư nói muốn đốt nén hương trước mộ Loan, đồng thời kể chàng nghe những gì xảy ra cho nàng kể từ ngày thành phố dấu yêu Sài Gòn đổi tên. Từ lúc bất ngờ gặp lại Quế Thư trong lòng chàng đã nhớ ngay đến lời nói của vợ chàng trước lìa đời, muốn giúp chàng tìm gặp nàng tiểu thư ngày xưa của chàng. Vì vậy chàng đồng ý sánh vai với Quế Thư chầm chậm đi bộ trở lại mộ phần Loan và chăm chú lắng nghe người yêu ngày xưa kể lại chuyện đã qua ở vào thời điểm hai người xa nhau.
Với giọng nhỏ nhẹ và đều đều nàng kể như anh biết ba em là một viên chức cao cấp trong bộ Ngoại Giao. Vào ngày thứ năm 24 tháng tư năm 1975 ba em đã thu xếp cho gia đình em vào tòa đại sứ Mỹ trước và ông sẽ đi sau trong vài ngày tới. Mạ em không đồng ý, nói toàn thể gia đình cùng đi một lúc chứ không chịu để ba em đi sau một mình. Ba mạ cãi vã nhau một hồi, cuối cùng ba em bắt buộc chìu theo ý của mạ em khiến em nhẹ thở, bởi vì lúc ấy em lo lắng cho anh cùng cực lòng nào bỏ đi! Anh ơi, em vẫn còn nhớ như in những ngày kế tiếp, lòng em luôn nghĩ đến anh và hằng đêm cầu khẩn Phật Bà gia hộ cho anh vượt qua tai biến. Qua ngày thứ sáu 25-4 em có hai giờ với giáo sư Paul, em thay đồ đi đến trường. Lớp học có le ngoe chưa đến 10 người nên sau khi nói vài lời, giáo sư cho tan lớp học ngay. Paul giữ em lại, lúc ấy lớp học trống rỗng và ông ta tỏ tình với em. Thật sự em đã biết Paul có cảm tình đặc biệt với em từ lâu, nhưng Paul lớn gần gấp đôi tuổi em, hơn nữa con tim em đã trao trọn về anh rồi, lời nói của ông Paul quả là thừa thãi. Hôm đó Paul cho em biết Sài Gòn rồi cũng xảy ra giống như Campuchia thôi, và khuyên em phải nên tìm cách rời ngay Sài Gòn. Ông ta còn nói đã được  lệnh chuẩn bị hồi hương vào cuối tháng nầy, và hỏi em có muốn về Mỹ với ông ta hay không? Sau cùng Paul đưa em số phone và căn dặn em cần gì hãy gọi cho ông ta trước tháng tư nầy. Nghe đến đây Dũng cắt ngang lời kể của Quế Thư:
- Ông Paul có phải là giáo sư đã ném cái nhìn kỳ quái đến anh lúc  anh đến lớp học đón em, em còn nhớ không?
- Em không nhớ điều nầy.
- Và em đã gọi cho Paul vào phút cuối?
Không trả lời Dũng Quế Thư tiếp tục kể như thể sẽ không có cơ hội nào nữa cho nàng thổ lộ tâm tư đã chôn kín bấy lâu nay.
-Sáng sớm ngày thứ ba 29-4 khoảng gần 8 giờ sáng chiếc xe chở toàn thể gia đình em đã có mặt trước bên ngoài Tòa Đại Sứ Mỹ, đã thấy đám đông cố gắng chen lấn để lọt vào trong và bị lính Mỹ chặn lại hết, kể cả chiếc xe ba em có giấy thông hành cao cấp và đặc biệt cũng không được phép lái vào trong Tòa Đại Sứ. Khuôn mặt ba em thất sắc, tức giận lên đến cực điểm rồi tuyệt vọng quay về nhà. Bước vào nhà ba em to tiếng với mạ ngay, còn mạ ôm mặt khóc òa. Tâm trạng em lúc ấy hoang mang và mâu thuẫn quá, anh ở xa không biết được đâu, không khí bao trùng khắp nơi thành phố Sài Gòn với sự sợ hãi vô bờ, ai cũng tìm cách thoát đi, nhất là những người có quyền có thế như ba em. Bởi quá đỗi tuyệt vọng không vào Tòa Đại Sứ Mỹ được, ba em trút cơn giận dữ vào mạ, đến chưa bao giờ em thấy ba em hung tợn như thế. Nằm trong phòng nghe rõ lời lớn tiếng của ba và tiếng khóc của mạ, khiến lòng em chán nản và buồn bã quá. Vì vậy em lấy lá thư mới nhất của anh mà em vừa nhận được mấy ngày qua, em đọc đi đọc lại nhiều lần, anh viết bi quan và tiêu cực quá cho cuộc tình đôi ta khiến em khóc sướt mướt. Bỗng đâu đứa em trai chạy lên gõ cửa phòng nói có ông Mỹ nào cần gặp em. Gặp Paul ở dưới lầu, hắn nói rất nhanh, không cần em phải đi theo ông ta, mà chỉ muốn giúp đưa gia đình em vào phi trường Tân Sơn Nhất rồi ông ta phải quay gấp trở vào Tòa Đại Sứ. Khoảng chừng nửa giờ sau ba mạ, hai đứa em và em ngồi trong xe Paul và ông ta lái xe nhanh về hướng phi trường. 
Trên bãi cỏ xanh thênh thang hai người dừng chân trước phần mộ Loan. Nghĩa trang chiều nay đìu hiu vắng người, mặt trời từ từ chìm bóng, gió càng lúc càng thổi mạnh kêu rì rào bên tai, Quế Thư nhìn thẳng vào Dũng khuôn mặt thoáng nét u buồn như muốn khóc, ngập ngừng khá lâu mới thốt lên lời:
- Anh Dũng, anh cần phải biết về chuyện…
Thấy Quế Thư ấp úng không nói tiếp, buộc Dũng phải hỏi:
- Chuyện gì, anh đang lắng nghe em.
- Chị Quế Thư cũng đã nằm dưới lòng đất lạnh như vợ anh vậy!
Vừa nghe qua Dũng bỗng rợn tóc gáy, sửng sờ nhìn người đàn bà đang đứng đối diện. Dù là một quân nhân, đã chứng kiến nhiều cái chết và đã nghe nhiều chuyện hồn ma bóng quế trong trại tù. Thế mà nơi nghĩa trang rộng thênh thang, vắng bóng người và gió vi vu thổi liên tục, cũng khiến Dũng rùng mình, ớn lạnh khi nghe người đàn bà trước mặt bảo rằng nàng không phải là Quế Thư! Hít vào hơi thở thật sâu giọng Dũng run run hỏi:
- Vậy em, vậy cô là. .?
- Em là Quế Phương, em ruột của chị Quế Thư.
  Trước sự ngạc nhiên và ngỡ ngàng của Dũng, Quế Phương nói với giọng u buồn:
- Anh chưa bao giờ gặp em, nhưng em đã nhìn thấy anh hai lần rồi   ở tại nhà em. Lúc trông thấy anh và khi nghe anh gọi tên chị Quế Thư em đoán chắc là anh. Câu chuyện em kể anh nghe dựa vàoquyển nhật ký của chị Quế Thư để lại và dặn dò em phải ráng  tìm gặp anh và kể cho anh biết tự tình của chị.
Quế Phương cho biết nàng kém hơn chị nàng hai tuổi, vóc dáng thon gầy, khuôn mặt trái soan như chị và giọng nói của hai chị em nghe na ná giống nhau. Hơn nữa thời gian hơn ba thập niên trôi qua làm sao Dũng không nhận lầm nàng là Quế Thư. Bước chân nặng nề của hai người trở về nơi đậu xe, Quế Phương vẫn đều đều kể cho Dũng nghe về cái chết thương tâm của Quế Thư.
Bằng vào những trang nhật ký của người chị để lại, Quế Phương hồi tưởng lại vào những năm tháng đầu tiên người Việt đến tị nạn trên xứ Mỹ vào năm 1975, Chính  Phủ Mỹ đã lập ra ba trại tỵ nạn ở ba tiểu bang khác nhau và gia đình Quế Thư được đưa đến trại tị nạn Fort Chaffe ở tiểu bang  Arkansas. Vì vậy đã không có sự khó khăn nào cho Paul kiếm tìm Quế Thư và Paul là người đứng tên bảo trợ cho gia đình nàng xuất trại về định cư ở thành phố Austin tiểu bang Texas với chàng. Sau đó Paul đã giúp tìm việc làm thích hợp cho ba mạ, làm đơn xin học bổng cho các chị em Quế Thư đi học và hơn một năm sau gia đình nàng hoàn toàn ổn định với cuộc sống mới trên đất khách.
Nghĩa cử tốt đẹp của Paul đã hoàn toàn chinh phục song thân Quế Thư, nên khi Paul ngỏ ý xin cưới Quế Thư ba mạ nàng không những đồng ý, mà còn mạnh mẽ ép buộc Quế Thư phải bằng lòng lấy Paul làm chồng. Ba nàng luôn  miệng nhắc nhở nếu Paul không xuất hiện vào phút chót đưa toàn thể gia đình vào phi trường Tân Sơn Nhất và rời khỏi Sài Gòn, chắc rồi  ba nàng phải nằm trong trại cải tạo biết bao giờ trở về!
Vì chữ hiếu Quế Thư phải đành để Paul giúp gia đình nàng rời bỏ Sài Gòn và xa rời Dũng. Nhưng lòng nàng vẫn còn nhớ còn yêu Dũng da diết và có mặc cảm phạm tội đã rời bỏ chàng không lời giả biệt. Quế Thư tự nghĩ con tim nàng đã thuộc hoàn toàn về Dũng, ngày nào chưa biết tin tức của chàng, nàng vẫn sống trong nỗi hy vọng đợi chờ mong manh ngày tạo ngộ với chàng. Do vậy dù ý thức được cái ơn lớn lao của Paul đối với gia đình nàng, nàng cũng không vì chữ hiếu thêm một lần nữa mà vâng lời song thân. Quế Thư mạnh mẻ khước từ lời cầu hôn lần thứ hai của Paul.
Sự cương quyết từ chối của Quế Thư đã khiến ba nàng ngạc nhiên và tức tối, nên ông đã không tiếc lời đay nghiến nàng là đứa con gái bất hiếu đối với đấng sinh thành và bất nghĩa đối với Paul nữa. Mạ cũng cùng ý nghĩ với ba nàng, tuy không lớn tiếng nặng lời như ba nàng, nhưng đêm nào cũng vào phòng ngủ Quế Thư ủ ê than thở nếu không có sự giúp đỡ của Paul thì gia đình mình không biết giờ nầy ra sao. Sau đó mạ nàng ca ngợi Paul hết lời, coi chàng không khác gì ông  thánh! Nhìn Dũng đang kiên nhẫn lắng nghe lời mình kể, Quế Phương nghẹn ngào kể tiếp một cách vắn tắt về cái chết của chị nàng. Trước căn bệnh trầm cảm đã cưu mang từ ngày xa quê hương và người tình, và trước sự ép buộc quá nặng nề từ song thân, một buổi chiều ở nhà một mình Quế Thư đã tự hủy mình bằng lọ thuốc ngủ.
Quế Phương ngưng kể, lấy khăn lau những giọt lệ ứa trên mi, đôi mắt tỏa ra nét u buồn vời vợi nhớ về biến cố thưong đau xảy ra cho gia đình nàng bởi tinh thần thủ cựu của song thân. Gió không ngừng thổi mạnh nghe ào ào, lay động những chiếc lá vàng khô nằm dưới mặt cỏ bay tung tóe, cũng không mạnh bằng ngọn bát phong trong lòng Dũng đang nổi lên từng cơn cho sự kết thúc đời người quá não nùng, bi thảm của người tình dấu yêu năm xưa!
Quế Phương không thể kể tiếp nữa và Dũng cũng chẳng muốn lắng nghe thêm, bước chân nặng trịch của hai người rồi cũng dừng lại nơi chỗ đậu xe. Đưa miếng giấy có số phone và địa chỉ nhà mình cho Dũng, Quế Phương buồn bã nói:
- Anh đến gặp em rồi em sẽ đưa cho anh báu vật mà chị Quế Thư  cất giữ đến cuối đời. Đó là những cánh thư màu xanh của anh được chị Quế Thư giữ kín trong hộp bánh LU. Và quyển nhật ký với những trang giấy vàng đục, loang nhòe nước mắt cùng dòng chữ cuối nhờ em hãy gắng tìm gặp anh.
- Vâng, anh sẽ đến gặp em.
Trước khi đóng cửa xe Quế Phương âu yếm nhìn Dũng nhỏ nhẹ:
- Chồng em đã qua đời hơn ba năm rồi, đứa con trai của em đã sống riêng từ lâu. Em bây giờ đang sống cuộc đời còn lại thừa thãi và cô đơn quá. Mong anh đến với em, nhé anh.
Thấy vẻ mặt Dũng u buồn không trả lời mình, Quế Phương nói dọa:
- Em sẽ báo cáo với bảo hiểm xe nếu anh không gọi em đó!
- Vâng, anh sẽ gọi em trong nay mai.

*
Đứa con gái của Dũng mang hai ly trà xanh cho Hùng và Dũng đang ngồi bên nhau trong phòng khách, rồi lui ngay vào trong. Đôi bạn hình như không còn gì để nói, bởi vì Hùng về thăm bạn từ mấy ngày qua, đã được nghe Dũng cho biết quyết định giã từ cuộc sống tại gia và sáng sớm mai Hùng sẽ chở bạn lên chùa làm lễ xuất gia.
Hơn nửa năm qua không một lần nào Dũng gọi phone thăm Quế Phương kể từ ngày Dũng được nghe nàng kể cho biết sự hủy mình của chị Quế Thư, là người tình năm xưa của Dũng. Thật sự ý tưởng xuất gia đã nẩy mầm từ khi người vợ tình nghĩa của chàng bạo bệnh qua đời. Và khi được biết cái chết quá bi thương cho sự thủy chung của Quế Thư đối với mình, càng khiến Dũng dứt khoát thực hiện ý muốn xuất gia ở cuối đời.
Nhìn mái tóc trắng xóa hết trên đầu Hùng, Dũng liên tưởng đến ngày mai trên đầu mình:
Ngày mai con xuống tóc
Lánh xa đời ô trọc
Nguyện cho khắp tất cả
Niền an lạc hạnh phúc
  
Hùng nâng ly trà xanh lên nhìn bạn, thấy cái nhìn tự tại và hiền hòa của Dũng cũng cầm ly trà xanh trong tay nhìn mình. Đôi bạn tâm giao từ thời trung học nhìn nhau như thầm hiểu từ đây và mãi mãi từ đây, trong lòng Dũng:"Chỉ nhớ trong lòng một chữ như". Như có nghĩa là đấng Như Lai của muôn loài.

Chị Đã Lầm Đưa Em Sang Đây

Chị Đã Lầm Đưa Em Sang Đây

Tác Giả: Thủy Lâm Synh   
Thứ Sáu, 06 Tháng 1 Năm 2012 06:05

Trong số mấy chị em con bà Điền, Nga có lẽ được coi là đứa con gái nết na nhất nhà.
Ít ra đó cũng là lời nhận định của mẹ cô ta trong những khi ngồi lê với hàng xóm. Mà quả đúng như vậy, Nga là một đứa con gái thùy mị và đẹp vì rất giống bà Điền. Dù bây giờ tuổi bà đã quá sáu mươi, song khi nhìn, nét đài các vẫn đâu đó trên gương mặt của bà. Ngày xưa khi bà còn là nữ sinh của một trường trung học, không biết bao nhiêu chàng trai phải say sưa vì cái nhan sắc diễm kiều mà tạo hóa đã bỏ công uốn nắn. Và đó cũng có thể là lý do tại sao sau mấy năm đất nước thay đổi cơ chế chính trị, bà Điền đã không thể chấp nhận người chồng trở về với tấm thân tàn tạ vì, “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng suy ra đó cũng là lẽ thường tình của nghiệp vay trả.

Chồng bà là một sĩ quan cấp lớn. Ngày còn trong binh chủng, những hoạnh tài thường xuyên được coi là mốt thời thượng của một số sĩ quan tham ô; họ ném tiền vào những phòng trà như ném giấy lộn. Nhiều ông cặp với những cô tuổi chỉ đáng con mình. Kết quả của biến cố năm bảy lăm, chồng bà Điền đã bị liệng vào tù và bị ngược đãi cùng số phận với những người liêm chính, ngày đêm miệt mài bên lằn tên mũi đạn. Ngày trở về mất vợ, mất con, ông Điền trở thành đãng trí, phải sống bằng cơm của giáo hữu tại một xứ đạo. Ông có bổn phận kéo chuông vào mỗi buổi sáng. Tiếng chuông không bao giờ đúng giờ của ông ngân nga mãi trong lòng họ đạo, nó đã hâm nóng được từ tâm của bao người, nó thắp sáng thêm niềm tin Thiên Chúa. Nhưng buồn thay, tiếng chuông ấy không đủ sức làm rung động trở lại con tim bà Điền sau mấy mươi năm chồng vợ. Lý do dễ hiểu hơn cả vì nhan sắc bà Điền vẫn còn ít nhiều quyến rũ những ông hàng xóm góa vợ có khi tuổi còn nhỏ hơn bà cả chục.


Nhờ hưởng cái di sản cố hữu đó mà Nga cũng đẹp như mẹ. Khác với Nga, Hằng giống ba với cái lỗ mũi tẹt nom đần lắm. Có người bạo mồm còn cho rằng Hằng chắc lại là một đứa con khác dòng, bởi vì nhiều khi ông Điền cắm trại hơi lâu trên những khách sạn thuộc loại sang trọng trên Đà Lạt để ăn chả thì dưới Sài gòn bà Điền cũng chẳng tội gì nhịn nem. Nhưng biết đâu đó chỉ là thứ dư luận ác ý vì ganh tị với cuộc sống sung túc của gia đình bà Điền lúc bấy giờ cũng nên. Hằng thì không hề đắn đo chút nào, nàng vui sướng có đứa em xinh đẹp như Nga. Khi mới được bảo lãnh sang Mỹ, nước da Nga còn ngăm đen vì cái nắng khắc nghiệt của vùng nhiệt đới, nhưng mấy người sống chung quanh cứ tấm tắc khen Nga làm Hằng vui lắm. Nếu không là em ruột thì lời khen kia sẽ khiến cho Hằng nguýt còn nửa con mắt. Đàn bà và trẻ con là cái rốn của vũ trụ, khen người khác là gián tiếp chê mình rồi còn gì - họ giận ghê lắm.
Tin đồn Hằng có đứa em gái đẹp mới qua Mỹ truyền đi rất nhanh. Có người đã lớn tuổi, vợ con còn bỏ lại Việt Nam nhưng kẹt cứng vì đã trót khai độc thân bên trại tị nạn nên cũng ráng uốn, ép, sấy, gội, nhuộm cho mái tóc trở nên bồng bềnh, lê la tới nhà ra vẻ còn non dại để làm thân với Nga. Có cậu choai choai tuổi đáng em cũng cung kính mời Nga đi xem phim, đi nhảy nhót, karaoke cho nó có vẻ ta là người tiến bộ, bởi vì cậu ta nghe thiên hạ cứ bàn tán rằng mấy cô gái con “HO” ở Sài gòn mới qua tân thời lắm, không khéo người sinh tại Mỹ lạc hậu mất. Lại cũng có chàng hào phóng hơn, cứ mỗi lần ghé nhà Hằng thì ôm cả tá bông hồng, rồi chẳng lẽ cứ mua bông, chàng ta lại khuân cả thức ăn được order từ hiệu ăn khiến đôi lúc nhà Hằng khỏi cần nấu nướng đến hai ba ngày.

“Nhưng lạ quá, đón đưa thì thế mà cả năm trôi qua không nghe Nga nó nói gì về con người may mắn nào được lọt vào mắt xanh của nó”. Hằng nghĩ như vậy, và không cần tinh ý lắm cũng thấy người nào rủ nó cũng đi chơi, mời ăn nó cũng nhiệt liệt hưởng ứng. Đôi khi Hằng hơi quan tâm cho cái dễ dãi của em mình, Hằng sợ một ngày nào đó vợ chồng nàng phải thành kính phân ưu vì Nga vớ phải thằng đá cá lăn dưa, nhưng Nga thì vẫn hồn nhiên, như không chút vướng bận vì chuyện gái trai. Khi Hằng úp mở hỏi những ưu tư vừa rồi thì Nga bĩu môi trả lời:
“Mấy tên đó dại gái lắm, em chấm không được tên nào cả. Ông Long thì già khú đế, hai má cáp sâu vào làm cho cái miệng nhọn thêm hơn, hai bên mép có hai chòm lông như đại diện cho mấy cha tuổi mùi. Đi đâu ông Long cũng chải chuốt, chưng diện với hi vọng thiên hạ sẽ nghĩ thầm ‘nhìn y phục biết tư cách’. Chàng ta đang làm giám đốc, kiêm phó giám đốc, kiêm thư ký và kiêm luôn nghề hút bụi, đổ rác trong văn phòng bán bảo hiểm, tương lai bồng bềnh như con thuyền trước cơn giông bão. Còn Tuấn thì cái mặt cứ y như còn dính bơ, phục sức lúc nào cũng quá lố trông rất chi là ngờ nghệch. Chưa hết trung học Tuấn đã bỏ ngang, hắn đang giúp việc trong một Salvation Army. Tuấn cho người ta cái cảm tưởng hắn đang tận tâm sử dụng nguyên kho thời trang của bá tánh đem tới biếu, tương lai như bầu trời sắp đổ mưa. Nhưng bên cạnh những khuyết điểm, hai người đó đều có cùng một ưu điểm là rất thích chi tiền cho em mua sắm.”
Hằng cười:
“Mầy văn minh thật, tao cứ tưởng ít nhất mầy cũng đã chấm được một đứa nào rồi chớ.”
Nga phẩy tay nói:
“Chưa hết đâu; còn một người nầy nữa, ông Hòa “Ph. D” ấy mà.”
Hằng cười ré lên:
“Tiến sĩ ở Houston đếm trên đầu ngón tay, ông Hòa mà mầy cũng tin ổng đỗ tiến sĩ à.”
“Ph. D là ‘phịa đại’ đó chị à.”
Hằng được trớn cười nghiêng ngửa.
“Mà tại sao mầy đặt cho ông ấy là Ph. D?”
“Đó là lời mấy con bạn học của em chứ đâu phải em đặt. Đầu đuôi như thế nầy: Hòa chẳng có nghề ngỗng gì cả, tà tà theo mấy anh chàng tổ chức show để được đón đưa ca sĩ cho ra vẻ ta đây sành cầm ca một tí. Lâu lâu hắn cũng tổ chức được vài show mời ca sĩ hạng ruồi trình diễn để tự phịa ‘ông bầu’ cho oai vệ. Hắn cũng có nhiều tài, toàn là phịa đại để lấy le với mấy cô ca sĩ. Có lần về Houston trình diễn, cô ca sĩ kia muốn đi thăm người anh ở thành phố Beaumont nên cô ta gọi nhờ Hòa chở đi. Được ca sĩ nhờ chở Hòa coi như một vinh hạnh hiếm có. Khi tới nhà người anh, cô ta nhớ lời Hòa nên giới thiệu với anh nàng rằng Hòa cũng là sĩ quan pháo binh. Gặp chỉ huy pháo binh thứ thiệt, Hòa mới lòi đuôi ra, hắn chỉ là trợ thủ pháo binh. Từ đó cái danh từ phịa đại mới được nối theo tên Hòa thành Hòa Ph.D. đấy chớ. Chuyện phét thì thế gian nầy có khối đứa, hơi sức đâu mà bàn. Điều đáng nói nhất là hắn theo tán em không được rồi phịa đại với bạn bè là em và hắn đã từng lên giường khiến một hôm em dọa thưa cảnh sát hắn mới câm mồm.”
Hằng hùa cùng em:
“Thứ đàn ông khốn nạn; gặp tao, tao đấm vỡ mặt cho biết.”
Nga cười:
“Cha đó ‘mát’ nặng.”
Hằng vừa soi gương nhổ lông mày vừa nói với Nga:
“Mầy cũng nên giảm đi chơi, để khỏi mang tiếng.”
Nga cười nhẹ:
“Có đi chơi mới có cơ hội tìm hiểu chớ chị.”
“Thì cũng vừa vừa thôi, tao thấy đêm nào mầy cũng đi; anh Tuyên thì mầy biết rồi, ảnh không dám ở nhà, nên còn có mình tao buồn thấy mồ.”
Nga trầm ngâm suy nghĩ, như cố xua đi mặc cảm tội lỗi, nàng đến bên chị, ý chừng muốn nói thêm điều gì, nhưng không mở miệng:
Cả tuần lễ đó Nga ở nhà. Hằng vui ghê lắm, thay vì mua thức ăn ngoài phố đem về, Hằng nấu nướng nhiều món. Trong bửa ăn Hằng nói trổng:
“Có đêm mình tui ở nhà chẳng có ai nói chuyện, mấy bửa rày sao xúm ở nhà hết vầy nè.!”
Nga liếc qua Tuyên nháy mắt, cười ranh mãnh.


Thời gian trôi rất nhanh, mới đây mà gia đình Hằng định cư tại thành phố nầy mười lăm năm rồi. Nga cũng qua Mỹ đã ba năm. Không phải dễ dàng mà Nga được qua Mỹ, diện chị em đã bị Mỹ xếp vào hàng thứ yếu, hồ sơ từ Bangkok đã chuyển về New Hampshire, ít nhất cũng chục năm may ra mới cứu xét. Cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 không ít người tị nạn phải bỏ thây ngoài biển cả để đổi lấy tự do. Nghe nguy hiểm quá, bà Điền không thể để Nga vượt biển. Bây giờ thì những người vượt biển thành công được niềm nở đón tiếp trở về. Dù không xa giá, tiền hô hậu ủng như quan trạng về làng khi xưa, nhưng ít nhất cũng chiếc van 12 chỗ ngồi có máy lạnh và thân nhân ngồi chật ních đón rước. Ai có thân nhân bảo lãnh cũng được ra đi. Những cuộc tiễn đưa vui như tết khiến thư nào bà Điền cũng thúc dục Hằng “gắng tìm cách bảo lãnh em mày qua Mỹ, ở đây lêu bêu không làm nên tích sự gì, tương lai tăm tối lắm con ạ”.

Không phải bà Điền biết gì nhiều về cái tương lai của người Việt di tản, nhưng có đui mù cũng nghe được một số Việt kiều về quê cứ oang oang rằng ở bên Mỹ sướng lắm - Con cái cứ đẻ ra là chính phủ gởi tiền về nhà cho mà ăn, không ai bắt buộc mình đi làm nếu mình không muốn. Đồng bào nào muốn lãnh tiền trợ cấp an sinh, cứ việc khai không có việc làm, ai muốn lãnh tiền tàn tật thì khai mắc bệnh đại khái là được chấp thuận ngay. Chính phủ Mỹ ngu lắm, không thèm vạch lá tìm sâu cho mệt, họ bận bịu với công việc đưa phi thuyền thám hiểm Hỏa tinh, bận dùng vệ tinh chụp không ảnh những nơi chế tạo hoặc tàng trữ vật liệu chế bom nguyên tử để giữ an ninh cho thế giới. Chưa hết, bà Điền còn nghe Việt kiều về quê kể rằng nếu ai đi học thì vô cùng xuất sắc. Người Việt học nghề giỏi hơn dân địa phương nhiều, mà cũng chẳng cần học cho mệt vì thi bùa đậu liền chớ khó khăn gì. Còn trong hãng xưởng toàn dân Việt Nam làm chủ, mà cái đó thì “khúc ruột ngàn dặm” nầy nói đúng; các hãng Nail Supply, các “hãng” làm móng tay, móng chân, “hãng” bán thực phẩm Á Đông, “hãng” báo Việt Ngữ, “hãng” sang băng cho người Việt thuê toàn người Việt làm chủ đấy chứ.
Nhưng bên nửa vòng quả đất, bà Điền đâu ngờ rằng: một con sâu làm rầu nguyên nồi canh, nhiều con sâu nó làm tan nát một cộng đồng. Ở không cứ xoi mói, rình mò – độc quyền yêu nước, ai làm khác ý mình thì cứ chụp cho cái mũ Cộng sản. Có những hội đoàn đầu đưôi chỉ ba người: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký chấm hết, không có một hội viên; cả chục năm cũng chưa làm nên trò trống gì. Ca sĩ hạng ruồi đi du lịch, ca vài bản nhạc vàng gỡ gạc tiền vé máy bay cũng bị những người mệnh danh là tranh đấu cho tự do lại chận đứng những người muốn tập hít thở thứ không khí tự do. Họ hô hào dân chủ nhưng lại hù dọa những người muốn thấy sinh khí dân chủ.
Bà Điền hiểu thế nào tùy bà ấy, bổn phận làm con, Hằng cố gắng đưa đứa em xinh xắn nhất nhà qua đây bằng cách cho Tuyên, chồng cô về Việt Nam làm đám cưới. Hằng phải đóng một vở bi kịch, chịu khổ nhục với những vết bầm trên gương mặt vốn đã không có gì khả ái. Hằng trả tiền cho luật sư và biếu xén hàng xóm vài cái chả giò để rủi ro chính quyền điều tra thì chung quanh lối xóm cũng từ tâm mà xác nhận có nghe thấy tiếng đánh đập của tên vũ phu. Và tiếp theo là Hằng mua vé cho Tuyên về Việt Nam giả cưới cô em vợ. Tuyên rất hí hửng đi làm việc đại nghĩa đó. Bây giờ chàng mới nghiệm ra cái chân lý ngàn đời mà ông bà xưa đã nói “Nước chảy hòn đá lăn cù, cô chị có xấu thì bù cô em”. Tuyên không bỏ qua cơ hội một viên sỏi bắn hai con chim. Lúc ấy cái hào quang Việt kiều vẫn còn le lói như ngọn đèn dầu hôi giữa bầu trời không trăng sao, vả lại trong tay có tiền nên ăn nói tầm phào cũng có lắm người nghe. Hằng hy sinh năm bảy trăm đô làm cái đám cưới để che mặt thế gian, lấp miệng láng giềng bằng bữa tiệc cưới mà ai được mời khi về cũng phải làm thêm gói mì cho chắc dạ. Véo ra vài trăm lo thuœ tục cho hợp tình, hợp lý cũng không có gì quá đáng. Dĩ nhiên trước đó những thủ tục li dị phải hoàn tất, Tuyên phải làm công hàm độc thân, giấy chứng nghiệm thử máu và theo pháp lý thì đây là lần đầu Tuyên cưới vợ.

II

Qua đây ăn trắng mặc trơn, Nga trở nên lộng lẫy, Hằng thường baœo với chồng rằng sau nầy đứa nào có phước mới đụng được nó.
Tuyên cười nói:
“ Nga làm người tình thì hết sẩy, nhưng lấy làm vợ thì nguy hiểm.”

“Tại sao?” Hằng lườm:
“ Đứa nào ngu mới lấy vợ đẹp, vì vợ mình đẹp ra đường có khối thằng muốn tán. ƠŒ đây trai thừa gái thiếu, em không thấy Nga nó có đến chục thằng đeo đuổi đó sao? Anh chỉ sợ nó vồ trúng đứa không ra gì thì tội nghiệp cho kiếp hồng nhan.”
Hằng chế nhạo:
“ Bữa nay ông xã tôi sao mà caœi lương thế.”
“ Thật đấy.” Tuyên đáp.
“ Nhưng anh có đồng ý là nó đẹp nhất nhà em không nào, lại có học thức nên suy nghĩ cũng chín chắn. Hi vọng nó sẽ có được người chồng xứng đáng, chứ ...chứ không phaœi như chị nó.”
Tuyên cười đùa:
“Bộ chị nó hối hận khi lấy anh sao?”
“Chứ còn gì nữa.” Hằng cười.
Tuyên chỉ ngón troœ lên trán nịnh vợ:
“Vợ anh là nhất, em không đẹp sắc saœo, nhưng rất có duyên, suốt cuộc đời nầy anh sẽ không thèm yêu ai khác.”
Hằng nũng nịu:
“Ông Clinton cũng nói thế, nhưng bây giờ thì xác nhận có dính líu tùm lum bà. À vụ ấy ra sao rồi hở anh?”
Tuyên ra dáng hiểu biết:
“Người không có chí khí thường bị ba thứ cám dỗ: tiền tài, danh vọng và sắc đẹp. Ông Clinton ngoi lên đỉnh cao chót vót với nhiều thuœ đoạn. Theo tin từ internet thì từ ngày ông ta làm thống đốc đến nay có đến trên bốn mươi ba người thân tín, hộ vệ, hoặc cố vấn đã ‘bị’ tự tưœ hoặc ‘tình nguyện’ mất tích hoặc do “tai nạn” mà qua đời. Danh vọng đã có trong tay, tiền tài thì danh nhân nầy xem chừng không rõ ràng cho lắm, mặc dù vụ White Water có khoaœng mười mấy người dính líu, trong đó những người bạn thân cuœa ông bà Clinton cũng lợi dụng tu chính thứ năm cứ ngậm miệng “trung quân” không chịu khai gì caœ, chính người nầy ‘ngã bệnh’ từ trần trong tù.
Hằng đến tủ lạnh lấy đưa cho Tuyên ly nước, nàng giục:
“Nói tiếp đi anh.”
Tuyên uống một hớp rồi tiếp:
“Còn cuộc đời tình ái khá lẩm cẩm cuœa ông vua nầy không có giấy mực nào taœ hết. Thêm vào đó đối tượng ăn chè cuœa ông là ‘thượng vàng hạ cám’ đến nỗi những nhà làm phim tại Hollywood khi được hoœi họ cho biết: Ông ta không biết thưởng thức (he doesn’t have a good taste) và họ cũng chẳng biết bắt đầu bằng người đàn bà nào trước để làm một cuốn phim cho người Mỹ xem chơi là bơœi vì họ gặp khó khăn để tìm kiếm những nữ tài tưœ có nhan sắc lôi thôi như những ‘người đi qua đời ông’. Nhưng dù sao thì ông vua nầy cũng tội nghiệp, sinh bất phùng thời, làm thiên tưœ mà không có quyền được tam cung lục viện thì uổng quá.”
Hằng đùa với chồng:
“Đàn ông các anh quá tay, bên nầy mà cho đa thê chắc ông nào cũng mấy bà chẳng chơi.”
Tuyên trề môi.
“Anh đã baœo là không thèm. Anh là loại có lý trí mà.”
Hằng mai mỉa:
“Lí tí thì có.”
Tuyên ôm hôn Hằng như thầm xác nhận anh ta là người chồng lý tươœng, đáng tin cậy. Hai chiếc thân bỗng ngã trên chiếc xa lông ngay phòng khách…

Chìa khóa tra vào ổ, Nga bước vào nhà thấy cảnh tượng ngỡ ngàng, hai chiếc quần lót đang nằm chơi vơi bên cạnh đống quần áo giữa phòng khách, trên salon hai con người trần trụi, Nga bước thụt lùi ra cửa. Vợ chồng Hằng đang loay hoay tìm vật sở hữu, kẻ gài nút áo người gài nút quần. Mặc dù là vợ chồng, chuyện ái ân là việc bình thường như ăn uống, nhưng khi lửa lòng đã cháy, họ quên bẵng đi còn đứa em đang có chìa khóa cửa. Bị gặp thình lình, vợ chồng Hằng xấu hổ nên có những cử chỉ rất ư vụng về như vừa làm một việc mờ ám, hai gương mặt ngờ nghệt trông buồn cười. Nga bước ra ngoài, đầu óc nàng dày đặc những suy nghĩ, tưởng tượng về bối cảnh vừa xảy ra khiến cả người nàng nóng ran lên. Không phaœi Nga ngây thơ, trước khi qua Mỹ, số ‘người đi qua đời tôi’ cũng dăm ba. Nhưng nàng quan niệm chuyện phòng the phaœi kín đáo hơn mới đúng. Nga ngồi phệt xuống bậc thang trước nhà, hai tay nàng khoanh trên đầu gối chờ cho tâm hồn lắng dịu. Còn Hằng chưa hết ngượng, nhưng nàng cũng mở cửa định đuổi theo Nga, làm như nàng có lỗi gì với em. Nghe tiếng mở cửa Nga nhìn ngoái lại, nàng đứng lên bước vào nhà mà không nhìn thẳng vào mặt chị. Hằng đứng tần ngần ngay bậc thang, bàn tay thừa thải chờm ngắt vột một chiếc lá rồi thả rơi trước khi trở vào nhà. Ngang phòng khách, Nga nhìn Tuyên chữi ‘khốn nạn’ bằng đôi môi không lời. Tuyên đọc được nhưng anh ta chỉ cúi đầu, Nga đi thẳng vào phòng nàng. Nếu không có Hằng ở nhà thì có lẽ Tuyên đã đi theo năn nỉ như thói quen mỗi khi hai người giận nhau.

Một lát sau, Hằng bớt thẹn, đến gõ cưœa phòng Nga, nghiêng đầu dã lã hoœi trổng?
“Đi chơi đâu về thế?”
Nga xẵng giọng:
“Đi với đàn ông, có sao không?”
Chưa bao giờ Hằng nghe em nói vô lễ như vậy, máu trong người sôi sùng sục, nàng nổi nóng la lớn:
“ Con kia! Mầy nói chuyện với ai vậy?”
Nga không vừa:
“Tôi đi đâu kệ xác tôi, mắc gì bà phải hỏi, vắng tôi hai người càng tự do hơn, có thể trần truồng mà sinh hoạt.”
Nghe câu nói xốc óc ấy Hằng muốn tông cửa vào tát đứa em mất dạy. Nàng không ngờ con khốn nạn nầy tự nhiên lại hỗn láo với mình như vậy, nhưng có mặt Tuyên nàng cố giằng cơn tức. Nàng không muốn Tuyên nghĩ xấu cho em và cũng muốn bảo vệ câu Hằng thường nói Nga là đứa em dễ thương, hiền hậu như mẹ nàng thường baœo. Hằng cố nuốt cho cơn giận tan dần nhưng coi bộ nó như ngọn lưœa đang gặp gió. Nàng ái ân với chồng thì có tội gì với Nga chứ, nàng tự hỏi như vậy. Hằng bực mình về phòng nằm và cảm thấy uổng công bảo lãnh Nga qua đây. Cùng lúc ấy Hằng cũng cảm thấy hơi quê vì không lôi nhau vào phòng như những lần trước. Nhưng đây là nhà nàng, Tuyên là chồng nàng đứa nào dám làm gì, bà vả cho rụng hết răng. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: ‘hay là đuổi Nga ra khỏi nhà’ vì có Nga, nàng thiếu hẳn tự do. Có những lúc nguồn khoái cảm dâng lên tột độ, Hằng muốn gào lên, nhưng Tuyên cứ đưa ngón tay đè lên mội nàng bởi không muốn Nga nằm phòng kế bên lắng nghe. Trong cơn tức Hằng còn đủ tỉnh trí nghĩ ra phải trả lời với mẹ nàng ra sao khi biết Nga dọn ra. ‘Nhưng sợ gì’, lỗi tại nó cả.’
Cơn giận chưa nguôi, Hằng trở lại phòng Nga, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
“Tao thương nên tìm cách baœo lãnh mày qua đây, đi thì có keœ đón người đưa, qua tới nơi mầy lại học đòi theo cuộc sống xa hoa, đi chơi suốt đêm không coi tao ra cái thứ gì caœ. Mầy có biết đâu ngày tao đi vượt biển trên ghe cả chục người chết, tao nằm như con mắm trong khoang tàu, phần khát nước phần ói mửa, qua Mỹ phaœi lo đầu tắt mặt tối, còn nghĩ đến bố mẹ, nghĩ đến tụi bay đang sống cơ cực. Có đêm mày đi không về, anh Tuyên phải xách xe chạy vòng vòng kiếm không ra.
“Bà biết tui đi đâu không?”
“Đi với trai chứ đâu.”
“Tui đi với ch...”
Sau chữ ch... Nga kịp ngừng, Tuyên giật thót người, chàng chỉ sợ chữ ‘chồng bà’ mà Nga dám phun ra để chọc cho Hằng tức thêm thì bỏ mẹ. Nga nói lí nhí:
“Bà đưa tôi qua đây chỉ vì bà muốn tôi làm đày tớ chớ bà tưœ tế lắm sao.”
Hằng sôi gan:
“Con kia, mầy làm với tao, tao vẫn chia bốn sáu như những người thợ chớ tao có bóc lột mầy đâu.”
“Ừ, tui bốn bà sáu, công bình quá há. Người dưng vẫn chia 5/5.”
“Mầy ăn, ở trong nhà tao, tao có tính tiền mầy không? Tiền chi phí anh Tuyên về làm đám cưới với mầy tốn kém ra sao mầy có biết không? Tao không muốn truyền nghề cho người khác, tại sao mầy không nghĩ tới.”
Nga vừa nói vừa khóc.
“Bà không kiếm thợ vì sợ sau khi quen biết, thợ móc nối khách rồi mở tiệm đối diện mà giựt hết khách của bà. Và một điều là bà muốn lãnh oeo phe nên mới li dị, lãnh hai ba đầu lương, chính phủ cấp thẻ khám bệnh, khỏi mua bảo hiểm chớ tử tế gì.”
Hằng càng giận thêm, nàng nghĩ: cả làng đi làm neo, có ai chịu giã từ oeo phe đâu mà con nầy nói móc. Trong bỗng chốc nàng muốn tống cổ Nga về lại VN cho nó sống cuộc đời đói meo cho biết. Nga vẫn còn thút thít, Hằng nghĩ rằng Nga có thể đã biết lỗi nên nàng bồi thêm:
“Mầy biết không, tao dạy cho mầy từng li từng tí; từ việc đắp bột, cắt da cho đến dán móng giả. Mầy thi năm lần bảy lượt không đậu tao phải chạy chọt mua bằng cho mầy chỉ vì mầy là em tao. Còn nữa, người ta phải tốn đến hai ba chục ngàn đô mới qua được Mỹ, tại sao mầy ăn cháo đá bát như thế con kia.”
Nga nằm nghiêng, nàng lấy gối che lên mặt như không muốn nghe, Hằng quày quả bước về phòng riêng. Cơn giận chưa tan, trong thâm tâm nàng rất hối hận vì đã đưa Nga qua đây.

Một lát sau, nghe sóng lặng gió êm, Tuyên mò vô phòng đến ngồi bên mép giường vợ nói:
“Em nầy, Nga nó lớn rồi, nó đi chơi với kép mà em cứ hoœi đi đâu làm sao nó traœ lời.”
“Kép cũng phaœi có nơi, đụng đâu đi đó, ai rủ nó cũng đi như con đĩ vậy à.”
Tuyên ôn tồn:
“Thì nó cũng phaœi đi chơi mới chọn người vừa ý chứ.”
Hằng thơœ ra mệt moœi, gieo mình xuống giường nàng dặn Tuyên:
“Từ nay em nhờ anh theo dõi nó cho kỹ, nó đi ăn với ai, ngủ với ai anh phải cho em biết.
Tuyên làm bộ ngây thơ.
“Nó lớn rồi, theo dõi rất khó, hơn nữa đi đâu, ngủ nhà ai là quyền của nó, theo dõi để làm gì?”
Hằng ú ớ:
“Thì mình...ờ...”
Mà theo dõi để làm gì. Có bắt quả tang nó ngủ với ai mình cũng không có quyền nói. Ở cái xứ nầy cha mẹ còn không nói được con, huống chi Nga chỉ là đứa em, mà Nga cũng đã lớn tuổi đâu phải vị thành niên. Tuy vậy, những lời mắng trả, mắng treo, xúc phạm của Nga khiến Hằng không ngủ được. Hằng tức tối vô cùng. Hằng định cho Nga nghỉ việc và tống cổ ra khỏi nhà lập tức. Hôm sau cơ thể Hằng uể oải vì mất ngủ, lại thiếu đi một người thợ nên Hằng rất bận. Khi có người khách hỏi Nga thì Hằng mới sực nhớ gọi về nhà. Hằng định nói cho Nga biết là nên đi tìm nhà ở chớ nàng không muốn chứa nữa. Điện thoại gọi về reo nhiều lần nhưng không ai bắt. Tuyên thì thường xuyên vắng nhà không nói làm gì nhưng Nga cũng đi đâu mất, Hằng đoán là nó đi mướn nhà hoặc tìm chỗ khác mà làm. Khách đã giết Hằng cái thời gian suy nghĩ, nàng cắm đầu làm việc cho đến tối mới về.

Khi về đến nhà, trời nhá nhem tối, Hằng gõ cửa phòng Nga trước tiên, không thấy trả lời. Hằng mở cửa bước vào, các hộc tủ kéo ra trống trơn, Hằng kéo cánh cửa phòng treo quần áo thì không còn thấy áo quần Nga ở đó nữa. Một thoáng nghĩ trong đầu Hằng là Nga đã dọn ra ngoài ở với bồ rồi. “Mầy ở đâu thì ở không mắc mớ gì tới tao nữa, thứ em mất dạy’. Hằng đi rửa mặt, chờ Tuyên về để ăn cơm tối, nàng uể oải gieo mình xuống giường, bao nhiêu ý nghĩ ngược xuôi trong đầu, nàng thiếp đi lúc nào không biết cho đến khi có tiếng điện thoại reo, Hằng chờm nhấc phone, bên kia đầu dây, tiếng Tuyên nói pha với tiếng xe hơi đang chạy nên nghe không rõ, Hằng vội vàng báo cáo với Tuyên:
“Con đĩ Nga dọn đi rồi, nó không để lại gì cả. A!ử mà anh đang ở đâu? sao không về ăn tối, khổ cho anh quá, li dị làm gì để anh cứ phải trốn tránh. Cũng do con đĩ Nga báo hại.”
Hằng có ngờ đâu Tuyên và Nga đã lộng giả thành chân. Hai người đã hưởng cả ‘tháng trăng mật’ khi lên xuống sở ngoại vụ làm giấy.
Tuyên cười khúc khích trả lời:
"Bây giờ Houston đã 4 giờ sáng rồi mà ăn tối gì.
Hằng dụi mắt nhìn đồng hồ quả thật gần sáng, nàng mới hay mình đã ngủ một giấc khá dài. Nàng lặp lại:
“Anh làm gì mà giờ nầy chưa về? lại châu đầu với mấy ông cờ bạc chứ gì?”
Đầu dây kia Tuyên trả lời:
“Anh sẽ không về nữa đâu. Anh và Nga gọi để chào tạm biệt em. À, anh đã mượn đỡ số tiền chúng ta một thời gian, khi có anh trả lại.
Hằng á khẩu, buông ống nghe, nàng nghiến răng trèo trẹo. Nàng nhào tới cái tủ sắt, loay hoay vặn qua vặn về ba con số đến chục lần mà cánh tủ không mở được. Khi định thần, nàng xoay từ từ mở được tủ, quả nhiên tiền bạc, vòng vàng không còn gì cả. Mười mấy năm dài tha phương cầu thực, tình chồng vợ đậm đà thế mà hôm nay con đĩ ngựa đã cướp chồng nàng rồi. Hằng đập tay thình thịch xuống giường, khóc nức nở như một đứa trẻ:
“Trời cao đất rộng ơi... đời tôi sao khổ thế này... nuôi ong tay áo, hu. hu...”
Trong bóng đêm âm thầm nàng cầu mong Chúa quyền năng gây cho tên gian phu và con quỷ cái đó những tai nạn khủng khiếp nhất, như ngài đã từng giáng xuống cho những ai chối bỏ ngài, chúng sẽ bị nát thây từng mảnh vụn. Rồi nhờ sự tin tưởng mơ hồ ấy mà lòng Hằng dễ chịu đôi chút, nàng chưa thể tin nổi là một người sùng đạo như nàng lại bị gạt gẫm một cách thê thảm như vậy. Một người mà mỗi sáng Chủ Nhật đều hối cả gia đình đi lễ như Tuyên lại tàn nhẫn đến như thế. Trong một thoáng rất nhanh Hằng còn tin rằng Tuyên sẽ trở về với đầy đủ số tiền do nàng làm ra và cùng Nga năn nĩ nàng tha lỗi. Nàng sẽ mắng cho một trận rồi dẫn hai người cùng đi xưng tất cả tội lỗi với bề trên. Chuyện đó nếu có xảy ra thì đều do Thiên Chúa sai khiến là bởi vì Hằng tin rằng tất cả việc làm trên thế gian nầy đều do Thiên Chúa sắp đặt. Hằng đâu biết rằng, khi xúi Tuyên về Việt Nam cưới em vợ là Chúa đã ‘thêm cánh cho hùm’. Tuyên bề ngoài đạo mạo, nhưng bên trong là một tên đểu cáng. Từ những lần đưa Nga đi làm giấy tờ ở thành phố ****. Tuyên đã không bỏ lỡ cơ hội ve vãn đứa em vợ trẻ, đẹp hơn chị của nó nhiều. Những lần đi bổ túc giấy tờ với Nga là những lần Tuyên thấy trong trí con vợ mình thô kệch, bủn xỉn, ăn nói thô lỗ, chưa hề có con mà ngực và mông mềm như cháo. Cái ý đồ phản bội vợ, lớn dần… lớn dần trong óc hắn. Riêng Nga thì trước đó không có ý định chống lại chị, nàng chỉ dễ dãi cho Tuyên chỉ vì muốn xuất ngoại. Hơn nữa, Tuyên đã có lần bắn tiếng cho Nga biết rằng cái chìa khóa vào ngưỡng cửa nước Mỹ đang nằm trong tay hắn. Rồi khi đến Mỹ Tuyên bám sát Nga như đỉa, hắn đã không cho Nga một cơ hội nào quen biết bạn trai. Dĩ nhiên hắn có ngàn thủ đoạn để giữ con mồi béo bỡ ấy cho riêng mình nhưng cũng lại đồng thời xúi dục những người chẳng ra chi nhào vô tán cô em vợ. Hắn ởm ờ làm mai để thủ những quà cáp lặt vặt như ly cà phê, tô hủ tiếu v.v...
Tuyên ly gián Nga với Hằng bằng cách bịa rằng Hằng đã nói rằng Nga là đứa con gái làm biếng, vụng về, chẳng biết nấu ăn, ngủ dậy giường chiếu không gọn gàng. Thực tế những thứ ấy Hằng nói sai. Nga nấu mì gói và luộc trứng rất giỏi, còn chăn mền chiều dùng nữa mắc gì phải xếp. Điều làm Nga bực mình hơn cả là Hằng nói Nga không phải con cùng cha với Hằng, câu nói ấy hàm chứa một ý đồ nhục mạ, bêu riếu mẹ nàng với Tuyên làm Nga càng lồng lộn. Vì lẽ đó nên Nga không còn kính nể chị mà còn tìm cách trả thù. Từ đó Nga quan niệm lên giường với Tuyên cũng là lối ‘phỏng tay trên’ cho đáng đời Hằng. Thêm một cơ hội cho Tuyên là Hằng đang lãnh oeo phe, sợ chính phủ theo dõi, nên Hằng xúi Tuyên đừng ở nhà thường xuyên. Hằng mê muội nên Tuyên đề nghị việc gì cũng đúng cả, nàng tin tưởng Tuyên tuyệt đối đến nỗi đi lễ nhà thờ Tuyên cũng ngồi sát Nga còn Hằng thì ngồi chơi vơi một mình. Việc nầy thì nên lắm, vì trong đám người đi lễ, đôi mắt cú vọ bà Thục, một người chỉ quyét dọn tại sở oeo phe chốc chốc liếc mắt nhìn chị em Hằng như đang theo dõi. Nhiều lần như thế Hằụng khuyên Tuyên và Nga đi lễ nhà thờ Mỹ hoặc nằm nhà cho chắc ăn. Thậm chí người ta đồn rằng thấy Tuyên đi chơi thân mật với Nga thì Hằng lại mừng vì đó chính là những yếu tố an toàn cho cái check oeo phe hàng tháng. Chị em Hằng thay phiên nghỉ một ngày trong tuần cũng nằm trong kế hoạch của Tuyên. Tuyên sống với Nga phè phởn như chính hắn là chồng thật của Nga.

Hằng nằm vất vưởng như cái xác không hồn sau khi mất cả chì lẫn chài, chỉ còn một điều sót lại đó là niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa quyền năng. Tuy nhiên câu kinh ‘lạy cha cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ và tha kẻ có nợ chúng tôi’ không thích hợp trong hoàn cảnh nầy. Hằng đang tức cành hông, giận sôi gan, nàng không thể nào chấp nhận tha thứ một cách dễ dàng như vậy. Nàng muốn sửa lại câu kinh ấy bằng ‘lạy cha đưa đẩy những kẻ có tội mang tiền trả lại cho con, rồi sau đó cha phải làm cho họ thân tàn ma dại’.
Lòng ấm ức, nước mắt tuôn ràng rụa. Chao ôi! Đời nàng sao lại có ngày hôm nay, Hằng nguyền rũa chửi bới đủ điều. Đã thế thỉnh thoảng, Tuyên vẫn gọi về trêu dăm ba câu rồi cúp máy. Hằng nghiến răng muốn vỡ cả hàm, nàng thề đến chết cũng không bao giờ tha kẻ có nợ.
Ta đã lầm đưa ngươi sang đây

Chị Đã Lầm Đưa Em Sang Đây

Chị Đã Lầm Đưa Em Sang Đây PDF Print E-mail
Tác Giả: Thủy Lâm Synh   
Thứ Sáu, 06 Tháng 1 Năm 2012 06:05
Trong số mấy chị em con bà Điền, Nga có lẽ được coi là đứa con gái nết na nhất nhà.
I

Ít ra đó cũng là lời nhận định của mẹ cô ta trong những khi ngồi lê với hàng xóm. Mà quả đúng như vậy, Nga là một đứa con gái thùy mị và đẹp vì rất giống bà Điền. Dù bây giờ tuổi bà đã quá sáu mươi, song khi nhìn, nét đài các vẫn đâu đó trên gương mặt của bà. Ngày xưa khi bà còn là nữ sinh của một trường trung học, không biết bao nhiêu chàng trai phải say sưa vì cái nhan sắc diễm kiều mà tạo hóa đã bỏ công uốn nắn. Và đó cũng có thể là lý do tại sao sau mấy năm đất nước thay đổi cơ chế chính trị, bà Điền đã không thể chấp nhận người chồng trở về với tấm thân tàn tạ vì, “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng suy ra đó cũng là lẽ thường tình của nghiệp vay trả.

Chồng bà là một sĩ quan cấp lớn. Ngày còn trong binh chủng, những hoạnh tài thường xuyên được coi là mốt thời thượng của một số sĩ quan tham ô; họ ném tiền vào những phòng trà như ném giấy lộn. Nhiều ông cặp với những cô tuổi chỉ đáng con mình. Kết quả của biến cố năm bảy lăm, chồng bà Điền đã bị liệng vào tù và bị ngược đãi cùng số phận với những người liêm chính, ngày đêm miệt mài bên lằn tên mũi đạn. Ngày trở về mất vợ, mất con, ông Điền trở thành đãng trí, phải sống bằng cơm của giáo hữu tại một xứ đạo. Ông có bổn phận kéo chuông vào mỗi buổi sáng. Tiếng chuông không bao giờ đúng giờ của ông ngân nga mãi trong lòng họ đạo, nó đã hâm nóng được từ tâm của bao người, nó thắp sáng thêm niềm tin Thiên Chúa. Nhưng buồn thay, tiếng chuông ấy không đủ sức làm rung động trở lại con tim bà Điền sau mấy mươi năm chồng vợ. Lý do dễ hiểu hơn cả vì nhan sắc bà Điền vẫn còn ít nhiều quyến rũ những ông hàng xóm góa vợ có khi tuổi còn nhỏ hơn bà cả chục.

Nhờ hưởng cái di sản cố hữu đó mà Nga cũng đẹp như mẹ. Khác với Nga, Hằng giống ba với cái lỗ mũi tẹt nom đần lắm. Có người bạo mồm còn cho rằng Hằng chắc lại là một đứa con khác dòng, bởi vì nhiều khi ông Điền cắm trại hơi lâu trên những khách sạn thuộc loại sang trọng trên Đà Lạt để ăn chả thì dưới Sài gòn bà Điền cũng chẳng tội gì nhịn nem. Nhưng biết đâu đó chỉ là thứ dư luận ác ý vì ganh tị với cuộc sống sung túc của gia đình bà Điền lúc bấy giờ cũng nên. Hằng thì không hề đắn đo chút nào, nàng vui sướng có đứa em xinh đẹp như Nga. Khi mới được bảo lãnh sang Mỹ, nước da Nga còn ngăm đen vì cái nắng khắc nghiệt của vùng nhiệt đới, nhưng mấy người sống chung quanh cứ tấm tắc khen Nga làm Hằng vui lắm. Nếu không là em ruột thì lời khen kia sẽ khiến cho Hằng nguýt còn nửa con mắt. Đàn bà và trẻ con là cái rốn của vũ trụ, khen người khác là gián tiếp chê mình rồi còn gì - họ giận ghê lắm.
Tin đồn Hằng có đứa em gái đẹp mới qua Mỹ truyền đi rất nhanh. Có người đã lớn tuổi, vợ con còn bỏ lại Việt Nam nhưng kẹt cứng vì đã trót khai độc thân bên trại tị nạn nên cũng ráng uốn, ép, sấy, gội, nhuộm cho mái tóc trở nên bồng bềnh, lê la tới nhà ra vẻ còn non dại để làm thân với Nga. Có cậu choai choai tuổi đáng em cũng cung kính mời Nga đi xem phim, đi nhảy nhót, karaoke cho nó có vẻ ta là người tiến bộ, bởi vì cậu ta nghe thiên hạ cứ bàn tán rằng mấy cô gái con “HO” ở Sài gòn mới qua tân thời lắm, không khéo người sinh tại Mỹ lạc hậu mất. Lại cũng có chàng hào phóng hơn, cứ mỗi lần ghé nhà Hằng thì ôm cả tá bông hồng, rồi chẳng lẽ cứ mua bông, chàng ta lại khuân cả thức ăn được order từ hiệu ăn khiến đôi lúc nhà Hằng khỏi cần nấu nướng đến hai ba ngày.

“Nhưng lạ quá, đón đưa thì thế mà cả năm trôi qua không nghe Nga nó nói gì về con người may mắn nào được lọt vào mắt xanh của nó”. Hằng nghĩ như vậy, và không cần tinh ý lắm cũng thấy người nào rủ nó cũng đi chơi, mời ăn nó cũng nhiệt liệt hưởng ứng. Đôi khi Hằng hơi quan tâm cho cái dễ dãi của em mình, Hằng sợ một ngày nào đó vợ chồng nàng phải thành kính phân ưu vì Nga vớ phải thằng đá cá lăn dưa, nhưng Nga thì vẫn hồn nhiên, như không chút vướng bận vì chuyện gái trai. Khi Hằng úp mở hỏi những ưu tư vừa rồi thì Nga bĩu môi trả lời:
“Mấy tên đó dại gái lắm, em chấm không được tên nào cả. Ông Long thì già khú đế, hai má cáp sâu vào làm cho cái miệng nhọn thêm hơn, hai bên mép có hai chòm lông như đại diện cho mấy cha tuổi mùi. Đi đâu ông Long cũng chải chuốt, chưng diện với hi vọng thiên hạ sẽ nghĩ thầm ‘nhìn y phục biết tư cách’. Chàng ta đang làm giám đốc, kiêm phó giám đốc, kiêm thư ký và kiêm luôn nghề hút bụi, đổ rác trong văn phòng bán bảo hiểm, tương lai bồng bềnh như con thuyền trước cơn giông bão. Còn Tuấn thì cái mặt cứ y như còn dính bơ, phục sức lúc nào cũng quá lố trông rất chi là ngờ nghệch. Chưa hết trung học Tuấn đã bỏ ngang, hắn đang giúp việc trong một Salvation Army. Tuấn cho người ta cái cảm tưởng hắn đang tận tâm sử dụng nguyên kho thời trang của bá tánh đem tới biếu, tương lai như bầu trời sắp đổ mưa. Nhưng bên cạnh những khuyết điểm, hai người đó đều có cùng một ưu điểm là rất thích chi tiền cho em mua sắm.”
Hằng cười:
“Mầy văn minh thật, tao cứ tưởng ít nhất mầy cũng đã chấm được một đứa nào rồi chớ.”
Nga phẩy tay nói:
“Chưa hết đâu; còn một người nầy nữa, ông Hòa “Ph. D” ấy mà.”
Hằng cười ré lên:
“Tiến sĩ ở Houston đếm trên đầu ngón tay, ông Hòa mà mầy cũng tin ổng đỗ tiến sĩ à.”
“Ph. D là ‘phịa đại’ đó chị à.”
Hằng được trớn cười nghiêng ngửa.
“Mà tại sao mầy đặt cho ông ấy là Ph. D?”
“Đó là lời mấy con bạn học của em chứ đâu phải em đặt. Đầu đuôi như thế nầy: Hòa chẳng có nghề ngỗng gì cả, tà tà theo mấy anh chàng tổ chức show để được đón đưa ca sĩ cho ra vẻ ta đây sành cầm ca một tí. Lâu lâu hắn cũng tổ chức được vài show mời ca sĩ hạng ruồi trình diễn để tự phịa ‘ông bầu’ cho oai vệ. Hắn cũng có nhiều tài, toàn là phịa đại để lấy le với mấy cô ca sĩ. Có lần về Houston trình diễn, cô ca sĩ kia muốn đi thăm người anh ở thành phố Beaumont nên cô ta gọi nhờ Hòa chở đi. Được ca sĩ nhờ chở Hòa coi như một vinh hạnh hiếm có. Khi tới nhà người anh, cô ta nhớ lời Hòa nên giới thiệu với anh nàng rằng Hòa cũng là sĩ quan pháo binh. Gặp chỉ huy pháo binh thứ thiệt, Hòa mới lòi đuôi ra, hắn chỉ là trợ thủ pháo binh. Từ đó cái danh từ phịa đại mới được nối theo tên Hòa thành Hòa Ph.D. đấy chớ. Chuyện phét thì thế gian nầy có khối đứa, hơi sức đâu mà bàn. Điều đáng nói nhất là hắn theo tán em không được rồi phịa đại với bạn bè là em và hắn đã từng lên giường khiến một hôm em dọa thưa cảnh sát hắn mới câm mồm.”
Hằng hùa cùng em:
“Thứ đàn ông khốn nạn; gặp tao, tao đấm vỡ mặt cho biết.”
Nga cười:
“Cha đó ‘mát’ nặng.”
Hằng vừa soi gương nhổ lông mày vừa nói với Nga:
“Mầy cũng nên giảm đi chơi, để khỏi mang tiếng.”
Nga cười nhẹ:
“Có đi chơi mới có cơ hội tìm hiểu chớ chị.”
“Thì cũng vừa vừa thôi, tao thấy đêm nào mầy cũng đi; anh Tuyên thì mầy biết rồi, ảnh không dám ở nhà, nên còn có mình tao buồn thấy mồ.”
Nga trầm ngâm suy nghĩ, như cố xua đi mặc cảm tội lỗi, nàng đến bên chị, ý chừng muốn nói thêm điều gì, nhưng không mở miệng:
Cả tuần lễ đó Nga ở nhà. Hằng vui ghê lắm, thay vì mua thức ăn ngoài phố đem về, Hằng nấu nướng nhiều món. Trong bửa ăn Hằng nói trổng:
“Có đêm mình tui ở nhà chẳng có ai nói chuyện, mấy bửa rày sao xúm ở nhà hết vầy nè.!”
Nga liếc qua Tuyên nháy mắt, cười ranh mãnh.


Thời gian trôi rất nhanh, mới đây mà gia đình Hằng định cư tại thành phố nầy mười lăm năm rồi. Nga cũng qua Mỹ đã ba năm. Không phải dễ dàng mà Nga được qua Mỹ, diện chị em đã bị Mỹ xếp vào hàng thứ yếu, hồ sơ từ Bangkok đã chuyển về New Hampshire, ít nhất cũng chục năm may ra mới cứu xét. Cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 không ít người tị nạn phải bỏ thây ngoài biển cả để đổi lấy tự do. Nghe nguy hiểm quá, bà Điền không thể để Nga vượt biển. Bây giờ thì những người vượt biển thành công được niềm nở đón tiếp trở về. Dù không xa giá, tiền hô hậu ủng như quan trạng về làng khi xưa, nhưng ít nhất cũng chiếc van 12 chỗ ngồi có máy lạnh và thân nhân ngồi chật ních đón rước. Ai có thân nhân bảo lãnh cũng được ra đi. Những cuộc tiễn đưa vui như tết khiến thư nào bà Điền cũng thúc dục Hằng “gắng tìm cách bảo lãnh em mày qua Mỹ, ở đây lêu bêu không làm nên tích sự gì, tương lai tăm tối lắm con ạ”.

Không phải bà Điền biết gì nhiều về cái tương lai của người Việt di tản, nhưng có đui mù cũng nghe được một số Việt kiều về quê cứ oang oang rằng ở bên Mỹ sướng lắm - Con cái cứ đẻ ra là chính phủ gởi tiền về nhà cho mà ăn, không ai bắt buộc mình đi làm nếu mình không muốn. Đồng bào nào muốn lãnh tiền trợ cấp an sinh, cứ việc khai không có việc làm, ai muốn lãnh tiền tàn tật thì khai mắc bệnh đại khái là được chấp thuận ngay. Chính phủ Mỹ ngu lắm, không thèm vạch lá tìm sâu cho mệt, họ bận bịu với công việc đưa phi thuyền thám hiểm Hỏa tinh, bận dùng vệ tinh chụp không ảnh những nơi chế tạo hoặc tàng trữ vật liệu chế bom nguyên tử để giữ an ninh cho thế giới. Chưa hết, bà Điền còn nghe Việt kiều về quê kể rằng nếu ai đi học thì vô cùng xuất sắc. Người Việt học nghề giỏi hơn dân địa phương nhiều, mà cũng chẳng cần học cho mệt vì thi bùa đậu liền chớ khó khăn gì. Còn trong hãng xưởng toàn dân Việt Nam làm chủ, mà cái đó thì “khúc ruột ngàn dặm” nầy nói đúng; các hãng Nail Supply, các “hãng” làm móng tay, móng chân, “hãng” bán thực phẩm Á Đông, “hãng” báo Việt Ngữ, “hãng” sang băng cho người Việt thuê toàn người Việt làm chủ đấy chứ.
Nhưng bên nửa vòng quả đất, bà Điền đâu ngờ rằng: một con sâu làm rầu nguyên nồi canh, nhiều con sâu nó làm tan nát một cộng đồng. Ở không cứ xoi mói, rình mò – độc quyền yêu nước, ai làm khác ý mình thì cứ chụp cho cái mũ Cộng sản. Có những hội đoàn đầu đưôi chỉ ba người: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký chấm hết, không có một hội viên; cả chục năm cũng chưa làm nên trò trống gì. Ca sĩ hạng ruồi đi du lịch, ca vài bản nhạc vàng gỡ gạc tiền vé máy bay cũng bị những người mệnh danh là tranh đấu cho tự do lại chận đứng những người muốn tập hít thở thứ không khí tự do. Họ hô hào dân chủ nhưng lại hù dọa những người muốn thấy sinh khí dân chủ.
Bà Điền hiểu thế nào tùy bà ấy, bổn phận làm con, Hằng cố gắng đưa đứa em xinh xắn nhất nhà qua đây bằng cách cho Tuyên, chồng cô về Việt Nam làm đám cưới. Hằng phải đóng một vở bi kịch, chịu khổ nhục với những vết bầm trên gương mặt vốn đã không có gì khả ái. Hằng trả tiền cho luật sư và biếu xén hàng xóm vài cái chả giò để rủi ro chính quyền điều tra thì chung quanh lối xóm cũng từ tâm mà xác nhận có nghe thấy tiếng đánh đập của tên vũ phu. Và tiếp theo là Hằng mua vé cho Tuyên về Việt Nam giả cưới cô em vợ. Tuyên rất hí hửng đi làm việc đại nghĩa đó. Bây giờ chàng mới nghiệm ra cái chân lý ngàn đời mà ông bà xưa đã nói “Nước chảy hòn đá lăn cù, cô chị có xấu thì bù cô em”. Tuyên không bỏ qua cơ hội một viên sỏi bắn hai con chim. Lúc ấy cái hào quang Việt kiều vẫn còn le lói như ngọn đèn dầu hôi giữa bầu trời không trăng sao, vả lại trong tay có tiền nên ăn nói tầm phào cũng có lắm người nghe. Hằng hy sinh năm bảy trăm đô làm cái đám cưới để che mặt thế gian, lấp miệng láng giềng bằng bữa tiệc cưới mà ai được mời khi về cũng phải làm thêm gói mì cho chắc dạ. Véo ra vài trăm lo thuœ tục cho hợp tình, hợp lý cũng không có gì quá đáng. Dĩ nhiên trước đó những thủ tục li dị phải hoàn tất, Tuyên phải làm công hàm độc thân, giấy chứng nghiệm thử máu và theo pháp lý thì đây là lần đầu Tuyên cưới vợ.

II

Qua đây ăn trắng mặc trơn, Nga trở nên lộng lẫy, Hằng thường baœo với chồng rằng sau nầy đứa nào có phước mới đụng được nó.
Tuyên cười nói:
“ Nga làm người tình thì hết sẩy, nhưng lấy làm vợ thì nguy hiểm.”

“Tại sao?” Hằng lườm:
“ Đứa nào ngu mới lấy vợ đẹp, vì vợ mình đẹp ra đường có khối thằng muốn tán. ƠŒ đây trai thừa gái thiếu, em không thấy Nga nó có đến chục thằng đeo đuổi đó sao? Anh chỉ sợ nó vồ trúng đứa không ra gì thì tội nghiệp cho kiếp hồng nhan.”
Hằng chế nhạo:
“ Bữa nay ông xã tôi sao mà caœi lương thế.”
“ Thật đấy.” Tuyên đáp.
“ Nhưng anh có đồng ý là nó đẹp nhất nhà em không nào, lại có học thức nên suy nghĩ cũng chín chắn. Hi vọng nó sẽ có được người chồng xứng đáng, chứ ...chứ không phaœi như chị nó.”
Tuyên cười đùa:
“Bộ chị nó hối hận khi lấy anh sao?”
“Chứ còn gì nữa.” Hằng cười.
Tuyên chỉ ngón troœ lên trán nịnh vợ:
“Vợ anh là nhất, em không đẹp sắc saœo, nhưng rất có duyên, suốt cuộc đời nầy anh sẽ không thèm yêu ai khác.”
Hằng nũng nịu:
“Ông Clinton cũng nói thế, nhưng bây giờ thì xác nhận có dính líu tùm lum bà. À vụ ấy ra sao rồi hở anh?”
Tuyên ra dáng hiểu biết:
“Người không có chí khí thường bị ba thứ cám dỗ: tiền tài, danh vọng và sắc đẹp. Ông Clinton ngoi lên đỉnh cao chót vót với nhiều thuœ đoạn. Theo tin từ internet thì từ ngày ông ta làm thống đốc đến nay có đến trên bốn mươi ba người thân tín, hộ vệ, hoặc cố vấn đã ‘bị’ tự tưœ hoặc ‘tình nguyện’ mất tích hoặc do “tai nạn” mà qua đời. Danh vọng đã có trong tay, tiền tài thì danh nhân nầy xem chừng không rõ ràng cho lắm, mặc dù vụ White Water có khoaœng mười mấy người dính líu, trong đó những người bạn thân cuœa ông bà Clinton cũng lợi dụng tu chính thứ năm cứ ngậm miệng “trung quân” không chịu khai gì caœ, chính người nầy ‘ngã bệnh’ từ trần trong tù.
Hằng đến tủ lạnh lấy đưa cho Tuyên ly nước, nàng giục:
“Nói tiếp đi anh.”
Tuyên uống một hớp rồi tiếp:
“Còn cuộc đời tình ái khá lẩm cẩm cuœa ông vua nầy không có giấy mực nào taœ hết. Thêm vào đó đối tượng ăn chè cuœa ông là ‘thượng vàng hạ cám’ đến nỗi những nhà làm phim tại Hollywood khi được hoœi họ cho biết: Ông ta không biết thưởng thức (he doesn’t have a good taste) và họ cũng chẳng biết bắt đầu bằng người đàn bà nào trước để làm một cuốn phim cho người Mỹ xem chơi là bơœi vì họ gặp khó khăn để tìm kiếm những nữ tài tưœ có nhan sắc lôi thôi như những ‘người đi qua đời ông’. Nhưng dù sao thì ông vua nầy cũng tội nghiệp, sinh bất phùng thời, làm thiên tưœ mà không có quyền được tam cung lục viện thì uổng quá.”
Hằng đùa với chồng:
“Đàn ông các anh quá tay, bên nầy mà cho đa thê chắc ông nào cũng mấy bà chẳng chơi.”
Tuyên trề môi.
“Anh đã baœo là không thèm. Anh là loại có lý trí mà.”
Hằng mai mỉa:
“Lí tí thì có.”
Tuyên ôm hôn Hằng như thầm xác nhận anh ta là người chồng lý tươœng, đáng tin cậy. Hai chiếc thân bỗng ngã trên chiếc xa lông ngay phòng khách…

Chìa khóa tra vào ổ, Nga bước vào nhà thấy cảnh tượng ngỡ ngàng, hai chiếc quần lót đang nằm chơi vơi bên cạnh đống quần áo giữa phòng khách, trên salon hai con người trần trụi, Nga bước thụt lùi ra cửa. Vợ chồng Hằng đang loay hoay tìm vật sở hữu, kẻ gài nút áo người gài nút quần. Mặc dù là vợ chồng, chuyện ái ân là việc bình thường như ăn uống, nhưng khi lửa lòng đã cháy, họ quên bẵng đi còn đứa em đang có chìa khóa cửa. Bị gặp thình lình, vợ chồng Hằng xấu hổ nên có những cử chỉ rất ư vụng về như vừa làm một việc mờ ám, hai gương mặt ngờ nghệt trông buồn cười. Nga bước ra ngoài, đầu óc nàng dày đặc những suy nghĩ, tưởng tượng về bối cảnh vừa xảy ra khiến cả người nàng nóng ran lên. Không phaœi Nga ngây thơ, trước khi qua Mỹ, số ‘người đi qua đời tôi’ cũng dăm ba. Nhưng nàng quan niệm chuyện phòng the phaœi kín đáo hơn mới đúng. Nga ngồi phệt xuống bậc thang trước nhà, hai tay nàng khoanh trên đầu gối chờ cho tâm hồn lắng dịu. Còn Hằng chưa hết ngượng, nhưng nàng cũng mở cửa định đuổi theo Nga, làm như nàng có lỗi gì với em. Nghe tiếng mở cửa Nga nhìn ngoái lại, nàng đứng lên bước vào nhà mà không nhìn thẳng vào mặt chị. Hằng đứng tần ngần ngay bậc thang, bàn tay thừa thải chờm ngắt vột một chiếc lá rồi thả rơi trước khi trở vào nhà. Ngang phòng khách, Nga nhìn Tuyên chữi ‘khốn nạn’ bằng đôi môi không lời. Tuyên đọc được nhưng anh ta chỉ cúi đầu, Nga đi thẳng vào phòng nàng. Nếu không có Hằng ở nhà thì có lẽ Tuyên đã đi theo năn nỉ như thói quen mỗi khi hai người giận nhau.

Một lát sau, Hằng bớt thẹn, đến gõ cưœa phòng Nga, nghiêng đầu dã lã hoœi trổng?
“Đi chơi đâu về thế?”
Nga xẵng giọng:
“Đi với đàn ông, có sao không?”
Chưa bao giờ Hằng nghe em nói vô lễ như vậy, máu trong người sôi sùng sục, nàng nổi nóng la lớn:
“ Con kia! Mầy nói chuyện với ai vậy?”
Nga không vừa:
“Tôi đi đâu kệ xác tôi, mắc gì bà phải hỏi, vắng tôi hai người càng tự do hơn, có thể trần truồng mà sinh hoạt.”
Nghe câu nói xốc óc ấy Hằng muốn tông cửa vào tát đứa em mất dạy. Nàng không ngờ con khốn nạn nầy tự nhiên lại hỗn láo với mình như vậy, nhưng có mặt Tuyên nàng cố giằng cơn tức. Nàng không muốn Tuyên nghĩ xấu cho em và cũng muốn bảo vệ câu Hằng thường nói Nga là đứa em dễ thương, hiền hậu như mẹ nàng thường baœo. Hằng cố nuốt cho cơn giận tan dần nhưng coi bộ nó như ngọn lưœa đang gặp gió. Nàng ái ân với chồng thì có tội gì với Nga chứ, nàng tự hỏi như vậy. Hằng bực mình về phòng nằm và cảm thấy uổng công bảo lãnh Nga qua đây. Cùng lúc ấy Hằng cũng cảm thấy hơi quê vì không lôi nhau vào phòng như những lần trước. Nhưng đây là nhà nàng, Tuyên là chồng nàng đứa nào dám làm gì, bà vả cho rụng hết răng. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: ‘hay là đuổi Nga ra khỏi nhà’ vì có Nga, nàng thiếu hẳn tự do. Có những lúc nguồn khoái cảm dâng lên tột độ, Hằng muốn gào lên, nhưng Tuyên cứ đưa ngón tay đè lên mội nàng bởi không muốn Nga nằm phòng kế bên lắng nghe. Trong cơn tức Hằng còn đủ tỉnh trí nghĩ ra phải trả lời với mẹ nàng ra sao khi biết Nga dọn ra. ‘Nhưng sợ gì’, lỗi tại nó cả.’
Cơn giận chưa nguôi, Hằng trở lại phòng Nga, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
“Tao thương nên tìm cách baœo lãnh mày qua đây, đi thì có keœ đón người đưa, qua tới nơi mầy lại học đòi theo cuộc sống xa hoa, đi chơi suốt đêm không coi tao ra cái thứ gì caœ. Mầy có biết đâu ngày tao đi vượt biển trên ghe cả chục người chết, tao nằm như con mắm trong khoang tàu, phần khát nước phần ói mửa, qua Mỹ phaœi lo đầu tắt mặt tối, còn nghĩ đến bố mẹ, nghĩ đến tụi bay đang sống cơ cực. Có đêm mày đi không về, anh Tuyên phải xách xe chạy vòng vòng kiếm không ra.
“Bà biết tui đi đâu không?”
“Đi với trai chứ đâu.”
“Tui đi với ch...”
Sau chữ ch... Nga kịp ngừng, Tuyên giật thót người, chàng chỉ sợ chữ ‘chồng bà’ mà Nga dám phun ra để chọc cho Hằng tức thêm thì bỏ mẹ. Nga nói lí nhí:
“Bà đưa tôi qua đây chỉ vì bà muốn tôi làm đày tớ chớ bà tưœ tế lắm sao.”
Hằng sôi gan:
“Con kia, mầy làm với tao, tao vẫn chia bốn sáu như những người thợ chớ tao có bóc lột mầy đâu.”
“Ừ, tui bốn bà sáu, công bình quá há. Người dưng vẫn chia 5/5.”
“Mầy ăn, ở trong nhà tao, tao có tính tiền mầy không? Tiền chi phí anh Tuyên về làm đám cưới với mầy tốn kém ra sao mầy có biết không? Tao không muốn truyền nghề cho người khác, tại sao mầy không nghĩ tới.”
Nga vừa nói vừa khóc.
“Bà không kiếm thợ vì sợ sau khi quen biết, thợ móc nối khách rồi mở tiệm đối diện mà giựt hết khách của bà. Và một điều là bà muốn lãnh oeo phe nên mới li dị, lãnh hai ba đầu lương, chính phủ cấp thẻ khám bệnh, khỏi mua bảo hiểm chớ tử tế gì.”
Hằng càng giận thêm, nàng nghĩ: cả làng đi làm neo, có ai chịu giã từ oeo phe đâu mà con nầy nói móc. Trong bỗng chốc nàng muốn tống cổ Nga về lại VN cho nó sống cuộc đời đói meo cho biết. Nga vẫn còn thút thít, Hằng nghĩ rằng Nga có thể đã biết lỗi nên nàng bồi thêm:
“Mầy biết không, tao dạy cho mầy từng li từng tí; từ việc đắp bột, cắt da cho đến dán móng giả. Mầy thi năm lần bảy lượt không đậu tao phải chạy chọt mua bằng cho mầy chỉ vì mầy là em tao. Còn nữa, người ta phải tốn đến hai ba chục ngàn đô mới qua được Mỹ, tại sao mầy ăn cháo đá bát như thế con kia.”
Nga nằm nghiêng, nàng lấy gối che lên mặt như không muốn nghe, Hằng quày quả bước về phòng riêng. Cơn giận chưa tan, trong thâm tâm nàng rất hối hận vì đã đưa Nga qua đây.

Một lát sau, nghe sóng lặng gió êm, Tuyên mò vô phòng đến ngồi bên mép giường vợ nói:
“Em nầy, Nga nó lớn rồi, nó đi chơi với kép mà em cứ hoœi đi đâu làm sao nó traœ lời.”
“Kép cũng phaœi có nơi, đụng đâu đi đó, ai rủ nó cũng đi như con đĩ vậy à.”
Tuyên ôn tồn:
“Thì nó cũng phaœi đi chơi mới chọn người vừa ý chứ.”
Hằng thơœ ra mệt moœi, gieo mình xuống giường nàng dặn Tuyên:
“Từ nay em nhờ anh theo dõi nó cho kỹ, nó đi ăn với ai, ngủ với ai anh phải cho em biết.
Tuyên làm bộ ngây thơ.
“Nó lớn rồi, theo dõi rất khó, hơn nữa đi đâu, ngủ nhà ai là quyền của nó, theo dõi để làm gì?”
Hằng ú ớ:
“Thì mình...ờ...”
Mà theo dõi để làm gì. Có bắt quả tang nó ngủ với ai mình cũng không có quyền nói. Ở cái xứ nầy cha mẹ còn không nói được con, huống chi Nga chỉ là đứa em, mà Nga cũng đã lớn tuổi đâu phải vị thành niên. Tuy vậy, những lời mắng trả, mắng treo, xúc phạm của Nga khiến Hằng không ngủ được. Hằng tức tối vô cùng. Hằng định cho Nga nghỉ việc và tống cổ ra khỏi nhà lập tức. Hôm sau cơ thể Hằng uể oải vì mất ngủ, lại thiếu đi một người thợ nên Hằng rất bận. Khi có người khách hỏi Nga thì Hằng mới sực nhớ gọi về nhà. Hằng định nói cho Nga biết là nên đi tìm nhà ở chớ nàng không muốn chứa nữa. Điện thoại gọi về reo nhiều lần nhưng không ai bắt. Tuyên thì thường xuyên vắng nhà không nói làm gì nhưng Nga cũng đi đâu mất, Hằng đoán là nó đi mướn nhà hoặc tìm chỗ khác mà làm. Khách đã giết Hằng cái thời gian suy nghĩ, nàng cắm đầu làm việc cho đến tối mới về.

Khi về đến nhà, trời nhá nhem tối, Hằng gõ cửa phòng Nga trước tiên, không thấy trả lời. Hằng mở cửa bước vào, các hộc tủ kéo ra trống trơn, Hằng kéo cánh cửa phòng treo quần áo thì không còn thấy áo quần Nga ở đó nữa. Một thoáng nghĩ trong đầu Hằng là Nga đã dọn ra ngoài ở với bồ rồi. “Mầy ở đâu thì ở không mắc mớ gì tới tao nữa, thứ em mất dạy’. Hằng đi rửa mặt, chờ Tuyên về để ăn cơm tối, nàng uể oải gieo mình xuống giường, bao nhiêu ý nghĩ ngược xuôi trong đầu, nàng thiếp đi lúc nào không biết cho đến khi có tiếng điện thoại reo, Hằng chờm nhấc phone, bên kia đầu dây, tiếng Tuyên nói pha với tiếng xe hơi đang chạy nên nghe không rõ, Hằng vội vàng báo cáo với Tuyên:
“Con đĩ Nga dọn đi rồi, nó không để lại gì cả. A!ử mà anh đang ở đâu? sao không về ăn tối, khổ cho anh quá, li dị làm gì để anh cứ phải trốn tránh. Cũng do con đĩ Nga báo hại.”
Hằng có ngờ đâu Tuyên và Nga đã lộng giả thành chân. Hai người đã hưởng cả ‘tháng trăng mật’ khi lên xuống sở ngoại vụ làm giấy.
Tuyên cười khúc khích trả lời:
"Bây giờ Houston đã 4 giờ sáng rồi mà ăn tối gì.
Hằng dụi mắt nhìn đồng hồ quả thật gần sáng, nàng mới hay mình đã ngủ một giấc khá dài. Nàng lặp lại:
“Anh làm gì mà giờ nầy chưa về? lại châu đầu với mấy ông cờ bạc chứ gì?”
Đầu dây kia Tuyên trả lời:
“Anh sẽ không về nữa đâu. Anh và Nga gọi để chào tạm biệt em. À, anh đã mượn đỡ số tiền chúng ta một thời gian, khi có anh trả lại.
Hằng á khẩu, buông ống nghe, nàng nghiến răng trèo trẹo. Nàng nhào tới cái tủ sắt, loay hoay vặn qua vặn về ba con số đến chục lần mà cánh tủ không mở được. Khi định thần, nàng xoay từ từ mở được tủ, quả nhiên tiền bạc, vòng vàng không còn gì cả. Mười mấy năm dài tha phương cầu thực, tình chồng vợ đậm đà thế mà hôm nay con đĩ ngựa đã cướp chồng nàng rồi. Hằng đập tay thình thịch xuống giường, khóc nức nở như một đứa trẻ:
“Trời cao đất rộng ơi... đời tôi sao khổ thế này... nuôi ong tay áo, hu. hu...”
Trong bóng đêm âm thầm nàng cầu mong Chúa quyền năng gây cho tên gian phu và con quỷ cái đó những tai nạn khủng khiếp nhất, như ngài đã từng giáng xuống cho những ai chối bỏ ngài, chúng sẽ bị nát thây từng mảnh vụn. Rồi nhờ sự tin tưởng mơ hồ ấy mà lòng Hằng dễ chịu đôi chút, nàng chưa thể tin nổi là một người sùng đạo như nàng lại bị gạt gẫm một cách thê thảm như vậy. Một người mà mỗi sáng Chủ Nhật đều hối cả gia đình đi lễ như Tuyên lại tàn nhẫn đến như thế. Trong một thoáng rất nhanh Hằng còn tin rằng Tuyên sẽ trở về với đầy đủ số tiền do nàng làm ra và cùng Nga năn nĩ nàng tha lỗi. Nàng sẽ mắng cho một trận rồi dẫn hai người cùng đi xưng tất cả tội lỗi với bề trên. Chuyện đó nếu có xảy ra thì đều do Thiên Chúa sai khiến là bởi vì Hằng tin rằng tất cả việc làm trên thế gian nầy đều do Thiên Chúa sắp đặt. Hằng đâu biết rằng, khi xúi Tuyên về Việt Nam cưới em vợ là Chúa đã ‘thêm cánh cho hùm’. Tuyên bề ngoài đạo mạo, nhưng bên trong là một tên đểu cáng. Từ những lần đưa Nga đi làm giấy tờ ở thành phố ****. Tuyên đã không bỏ lỡ cơ hội ve vãn đứa em vợ trẻ, đẹp hơn chị của nó nhiều. Những lần đi bổ túc giấy tờ với Nga là những lần Tuyên thấy trong trí con vợ mình thô kệch, bủn xỉn, ăn nói thô lỗ, chưa hề có con mà ngực và mông mềm như cháo. Cái ý đồ phản bội vợ, lớn dần… lớn dần trong óc hắn. Riêng Nga thì trước đó không có ý định chống lại chị, nàng chỉ dễ dãi cho Tuyên chỉ vì muốn xuất ngoại. Hơn nữa, Tuyên đã có lần bắn tiếng cho Nga biết rằng cái chìa khóa vào ngưỡng cửa nước Mỹ đang nằm trong tay hắn. Rồi khi đến Mỹ Tuyên bám sát Nga như đỉa, hắn đã không cho Nga một cơ hội nào quen biết bạn trai. Dĩ nhiên hắn có ngàn thủ đoạn để giữ con mồi béo bỡ ấy cho riêng mình nhưng cũng lại đồng thời xúi dục những người chẳng ra chi nhào vô tán cô em vợ. Hắn ởm ờ làm mai để thủ những quà cáp lặt vặt như ly cà phê, tô hủ tiếu v.v...
Tuyên ly gián Nga với Hằng bằng cách bịa rằng Hằng đã nói rằng Nga là đứa con gái làm biếng, vụng về, chẳng biết nấu ăn, ngủ dậy giường chiếu không gọn gàng. Thực tế những thứ ấy Hằng nói sai. Nga nấu mì gói và luộc trứng rất giỏi, còn chăn mền chiều dùng nữa mắc gì phải xếp. Điều làm Nga bực mình hơn cả là Hằng nói Nga không phải con cùng cha với Hằng, câu nói ấy hàm chứa một ý đồ nhục mạ, bêu riếu mẹ nàng với Tuyên làm Nga càng lồng lộn. Vì lẽ đó nên Nga không còn kính nể chị mà còn tìm cách trả thù. Từ đó Nga quan niệm lên giường với Tuyên cũng là lối ‘phỏng tay trên’ cho đáng đời Hằng. Thêm một cơ hội cho Tuyên là Hằng đang lãnh oeo phe, sợ chính phủ theo dõi, nên Hằng xúi Tuyên đừng ở nhà thường xuyên. Hằng mê muội nên Tuyên đề nghị việc gì cũng đúng cả, nàng tin tưởng Tuyên tuyệt đối đến nỗi đi lễ nhà thờ Tuyên cũng ngồi sát Nga còn Hằng thì ngồi chơi vơi một mình. Việc nầy thì nên lắm, vì trong đám người đi lễ, đôi mắt cú vọ bà Thục, một người chỉ quyét dọn tại sở oeo phe chốc chốc liếc mắt nhìn chị em Hằng như đang theo dõi. Nhiều lần như thế Hằụng khuyên Tuyên và Nga đi lễ nhà thờ Mỹ hoặc nằm nhà cho chắc ăn. Thậm chí người ta đồn rằng thấy Tuyên đi chơi thân mật với Nga thì Hằng lại mừng vì đó chính là những yếu tố an toàn cho cái check oeo phe hàng tháng. Chị em Hằng thay phiên nghỉ một ngày trong tuần cũng nằm trong kế hoạch của Tuyên. Tuyên sống với Nga phè phởn như chính hắn là chồng thật của Nga.

Hằng nằm vất vưởng như cái xác không hồn sau khi mất cả chì lẫn chài, chỉ còn một điều sót lại đó là niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa quyền năng. Tuy nhiên câu kinh ‘lạy cha cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ và tha kẻ có nợ chúng tôi’ không thích hợp trong hoàn cảnh nầy. Hằng đang tức cành hông, giận sôi gan, nàng không thể nào chấp nhận tha thứ một cách dễ dàng như vậy. Nàng muốn sửa lại câu kinh ấy bằng ‘lạy cha đưa đẩy những kẻ có tội mang tiền trả lại cho con, rồi sau đó cha phải làm cho họ thân tàn ma dại’.
Lòng ấm ức, nước mắt tuôn ràng rụa. Chao ôi! Đời nàng sao lại có ngày hôm nay, Hằng nguyền rũa chửi bới đủ điều. Đã thế thỉnh thoảng, Tuyên vẫn gọi về trêu dăm ba câu rồi cúp máy. Hằng nghiến răng muốn vỡ cả hàm, nàng thề đến chết cũng không bao giờ tha kẻ có nợ.
Ta đã lầm đưa ngươi sang đây