Monday, April 29, 2013

Hanoi’s War & Nguyễn Thị Liên-Hằng

Hanoi’s War & Nguyễn Thị Liên-Hằng

Image of Lien-Hang T. Nguyen

Lien-Hang T. Nguyen received her B.A. from the University of Pennsylvania and her Ph.D. from Yale University, and is currently an associate professor at the University of Kentucky. She is the author of Hanoi's War: An International History of the War for Peace in Vietnam (University of North Carolina Press, 2012).



Posted: 30/01/2013 in Nguyễn Mạnh Trinh, Tùy Bút / Tạp Ghi

Nguyễn Mạnh Trinh

cover-hanoi_war

Một cuốn sách mới về lịch sử chiến tranh Việt Nam của một nữ giáo sư sử học Hoa kỳ gốc Việt Nam xuất bản trong năm vừa qua đã đoạt giải thưởng Edward M.Coffman năm 2012. Tác phẩm” Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Việt Nam” và tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng.

Giải Edward M. Coffman là một giải thưởng hàng năm về sử học của The Society for Military History cho những tác phẩm đầu tay của những tác gỉa trong nội dung hòa hợp được những vấn đề liên quan với xã hội, chính trị, kinh tế, và lịch sử ngoại giao. Giải thưởng được lấy tên của một Professor Emeritus của đại học University of Wisconsin- Madison, Edward M. Coffman, một quân sử gia nổi tiếng của Hoa Kỳ.
Nguyễn Thị Liên-Hằng là giáo sư sử học của đại học University of Kentucky, tốt nghiệp Ph.D. tai đại học Yale và đã được nhiều fellow ship trong đó có fellow- ship Fubright về Việt Nam khảo cứu trong hai năm 2001 và 2002. Cô di tản khỏi Việt Nam khi mới vừa 5 tháng tuổi và trong giờ chót thứ 25 của thành phố Sài Gòn trước khi bị thất thủ.

Cô là giáo sư dạy về lịch sử bang giao quốc tế của Hoa Kỳ đặc biệt là chú trọng vào vùng Ðông nam Á, nhất là thời kỳ chiến tranh lạnh, tác phẩn Hanoi’s War là tác phẩm đầu tiên. Tác phẩm thứ hai đang viết với những khám phá về hệ thống quốc tế của phong trào phản chiến trong thời kỳ chiến tranh cũng như vai trò và vị trí của những khuôn mặt nổi bật của một thời ngoại giao với những tài liệu khảo sát từ văn khố Hoa Kỳ và các nước Âu Châu.

Chiến tranh Việt Nam chiếm một phần quan trọng trong quân sử Hoa kỳ. Một cuộc chiến với nhiều bí ẩn và từ từ được lộ ra từ những văn kiện bí mật của văn khố các quốc gia liên quan đến cuộc chiến. Hàng trăm cuốn sách phân tích về cuôc chiến này với nhiều khuynh hướng đặt trong bối cảnh của quan điểm chính trị riêng biệt. Trong khi hầu như là hầu hết các sử gia nghiên cứu về chiến tranh Việt nam đều chú trọng vào nguyên ủy sự can thiệp của Hoa Kỳ và Mỹ hóa những xung đột tạo ra, Nguyễn Thị Liên-Hằng lại chú ý trước tiên đến những quan hệ quốc tế mà các nhà lãnh đạo Bắc Việt theo đuổi cuộc chiến và Hoa kỳ đã can thiệp vào sau đó. Những chuyện kể đầy tính xác định đã dẫn dắt độc giả đi từ nơi chốn đầy bùn sình của đồng bằng sông Cửu Long đến nơi chốn đã bị bom đạn tàn phá của bình nguyên sông Hồng, từ những hành lang đầy quyền lực ở Hà Nội và từ Sài Gòn đến dinh Bạch ốc của tổng thống Richard Nixon, và từ nơi hòa hội ở Paris đến những hội nghị cao cấp ở Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, tất cả những khám phá cho thấy hòa bình không có một chút hy vọng nào ở Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, những siêu cường đã có ảnh hưởng rất lớn đến chiên tranh và hòa bình ở Việt Nam.

“Chiến tranh của Hà Nội” đã tỏ lộ ra rất hiển nhiên những vận động không chính thức với những người được coi là kẻ thù trong Thời kỳ chiến tranh lạnh và biểu hiện rằng cuôc chiến đấu trong bàn hội nghị để tìm kiếm hòa bình cũng ngập máu và chiều rộng có mực độ lớn hơn điều được tiên liệu. Dùng những tài liệu văn khố mà từ trước tới nay chưa được hé lộ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam sau thời kỳ đổi mới và cùng với những tài liệu từ văn khố các quốc gia khác có liên quan đến chiến tranh Việt Nam trên cả thế giới, tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng đã bộc lộ ra một chính sách chiến tranh của Bắc Việt: gây ra chiến tranh và tạo dựng hòa bình, không những của nhà cầm quyền Bắc Việt mà còn cả của chính phủ Nam Việt Nam, Nga Xô Viết, Trung Quốc và Hoa Kỳ đểtạo thành một bối cảnh toàn diện của cuộc chiến ở mức độ thế giới.

Tác giả đã viết Hanoi’s War như một cách thế để đập tan các huyền thoại về Việt Nam:” Trong nhiều vấn đề rút ra từ những bài học ở Việt Nam và áp dụng vào Afganistan, đó là lịch sử của chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử của cuộc chiến này liên tục thay đổi khi có bằng chứng mới xuất hiện, đặc biệt từ phía bên kia. Do không chú ý nhiều về việc tìm hiểu động cơ của kẻ thù, các động lực bên trong và các mối quan hệ đối ngoại, chúng ta luôn có một hình ảnh không đầy đủ và thiếu chính xác về cuộc chiến tranh đó.

Người ta thường tin rằng miền Bắc Việt quyết định đi đến chiến tranh trong năm 1959-1960 là để cứu cuộc nổi dậy ở miền Nam khỏi bị diệt trừ và Ðảng Cộng sản có được sự ủng hộ không mệt mỏi của người dân Việt Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Nhưng bằng chứng gần đây tiết lộ rằng quyết định của đảng đi đến chiến tranh ở miềnNam Việt Nam có một mối liên hệ mật thiết với các vấn đề ở trong nước. Chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý về các vấn đề trong nước, gồm một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn phá, một phong trào trí thức bất đồng ý kiến và một kế hoạch của chính phủ không thành công để chuyển đổi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một trong những quan niệm sai lầm nhất của cuộc chiến Việt nam là ông Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo lỗi lạc của Bắc Việt. Thực tế ông chỉ là bù nhìn, trong khi Lê Duẩn, một người đứng bên lề lịch sử, lại là một kiến trúc sư, nhà chiến lược chính và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Ông Duẩn nghiêm khắc, không ồn ào, xa lánh sự chú ý, nhưng ông có ý chí sắt đá, có kỹ năng quản trị và tập trung sự cần thiết để thống trị Ðảng Cộng sản.

Cùng với một nhân vật là cánh tay phải của mình, ông Lê Ðức Thọ được coi như là một nhà ngoại giao cứng rắn bất khuất, người mà sau này đấu khẩu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán hòa bình Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững chắc, vẫn còn chi phối Hà Nội đến ngày nay. Các chính sách hiếu chiến của họ đã dẫn dắt Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại chế độ Sài Gòn và sau đó là Washing ton D.C., với bảo đảm rằng một nền hòa bình được thỏa thuận sẽ không bao giờ thay thế thắng lợi hoàn toàn. Ông Duẩn thống trị đảng với một bàn tay sắt và xem ông Hồ Chí Minh và Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, người nổi tiếng với việc đánh bại Pháp ở Ðiện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hành của ông ta. Ông ta loại bỏ ông Hồ, tướng Giáp và những người ủng hộ họ khi quyết định gần như hầu hết các quyết định quan trọng…”

Trong phần đầu, tác giả kể lại cuộc chia tay giữa hai nhân vật trọng yếu của cuộc chiến Việt Nam là Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ vào năm 1955 bên dòng sông Ông Ðốc ở Cà Mau. Lê Duẩn thì ở lại miền Nam và Lê Ðức Thọ xuống tàu Liên Xô tập kết ra Bắc nhưng để rồi trong ít năm sau kéo dài đến tàn cuộc, hai người đã cùng nhau lãnh đạo cuộc chiến và là một chìa khóa chính yếu để giải quyết chiến tranh. Thời điểm năm 1955 vẫn còn trong hạn định mà hòa ước Genève cho phép tự do lựa chọn nơi cư trú của cư dân hai miền. Trong lúc ở lại miền Nam, Lê Duẩn lập ra Trung Ương Cục miền Nam với những người đứng đầu như Phạm Hùng, Nguyễn văn Linh, Võ Văn Kiệt sẽ lãnh đạo cuộc chiến trong tương lai. Trở lại Hà Nội, Lê Duẩn quyết định phải thống nhất đất nước bằng võ lực và tiến hành những nỗ lực sửa soạn cho chiến tranh. Nghị quyết 15 của Ðảng Lao Ðông Việt nam (tức Ðảng Công sản VN) đã xác định rõ mục tiêu này. Chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” được xử dụng và tất cả những người bất đồng ý kiến với chủ trương trên bị thanh trừng triệt hạ. Hàng chục ngàn người kể cả những người có công trạng hoặc nổi tiếng bị bắt giam, tra tấn do một chế độ công an trị thi hành. Những tướng tá và nhân vật thân cận với tướng Võ Nguyên Giáp bị giam cầm, bị khai trừ khỏi đảng và nhiều khi bị thanh toán với những cái chết đầy bí ẩn. Do đó , luận cứ cho rằng tất cả Ðảng cộng sản một lòng đoàn kết trong chiến tranh là một luận cứ không tưởng chẳng có một chút nào trong sự thực. Sự đoàn kết chỉ có trong tuyên truyền và chế độ Cộng sản do Lê Duẫn lãnh đạo đã dùng sự khủng bố để đàn áp và bắt buộc mọi người phải tuân theo bằng bạo lực.

nguyen_thi_lien_hang
Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên-Hằng

Tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng viết “Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Việt nam” (Chiến tranh của Hà Nội: lịch sử quốc tế của cuộc chiến cho hòa bình ở Việt Nam) với chủ đích từ những tài liệu văn kiện mới để có nhận định làm sáng tỏ hơn lịch sử của cuộc chiến đã có quá nhiều hỏa mù che phủ từ những nhận định đầy tính chủ quan của những người phân tích. Những tài liệu văn kiện mới mà tác giả đã xử dụng được trong tác phẩm là tài liệu văn khố của bộ Ngoại Giao của chế độ Việt Nam Cộng sản ở Hà Nội. Trả lời tại sao lại có được may mắn xử dụng những tài liệu trên, tác giả trong cuộc phỏng vấn nói:

“Tôi có mặt đúng chỗ đúng lúc. Khi tôi bắt đầu cuộc nghiên cứu trong những năm cuối của thập niên 1990 về cơ bản lúc đó cả văn khố chủ yếu của Việt Nam là văn khố của Ðảng Cộng sản, văn khố của quân đội của bộ Quốc Phòng, văn khố của bộ Ngoại Giao đều cấm không cho các học giả được tham khảo, dù là người Việt Nam hay ngoại quốc. Chỉ có các giới chức làm việc trong các bộ liên hệ mới được tham khảo tài liệu. Nhưng tới những năm 2000 thì đã có một số thay đổi về chính sách đối với người Việt ở hải ngoại. Việt Nam mở cửa rộng hơn để đón các học gỉa từ các cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Họ muốn thu hút Việt kiều và tôi đã nắm ngay lấy cơ hội”

Có nhiều người rất ngạc nhiên vì xử dụng được những tài liệu trong văn khố thuộc hàng tối mật không phải là chuyện dễ dàng mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được. Tác giả đã giải thích là có sự thuận lợi bởi vì giới hữu trách Việt Nam coi thường công trình và khả năng của một sử gia trẻ tuổi người Việt Nam lớn lên và sinh sống ở hải ngoại. Họ nghĩ, với một đề tài có nhiều chất thách đố như chiến tranh Việt Nam có lẽ không thích hợp với một người thuộc nữ giới…

Sử gia George C. Herring, tác giả của “America’s Longest War, The United States in Việt nam” đã nhận xét: “Xử dụng những tài liệu mới mẻ và quan trọng của những văn khố từ khắp thế giới, mà phần đông là từ Việt Nam, Nguyễn Thị Liên-Hằng đã viết và tạo dựng được những điểm son đầu tiên và xác thực của cuộc hòa đàm đã dẫn dắt đến Nghị Hội Paris. Tác phẩm Hanoi’s War là một công trình đặc sắc, là những viên gạch xây dựng không thể bỏ qua cho sự thay đổi tức thì của lịch sử của những xung đột ở Việt Nam”.

Tác gỉa đã phỏng vấn nhiều nhân vật Việt Nam ở cả hai phe như Bùi Diễm, Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Hữu Ngọc, Lưu Đoàn Huỳnh, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Ðình Ước, Nguyễn Khắc Huỳnh, Nguyễn Ngọc Dung, Trần Thị Liên… để có thể xác định rõ ràng hơn tính chính xác của các tài liệu văn bản đã xử dụng trong văn khố. Căn bản của cuốn sách là nhửng tìm kiếm sưu khảo từ hàng ngàn tài liệu, công điện, sách báo và nhửng phần thu thanh ghi lại những cuộc phỏng vấn hàng trăm người có liên hệ đến cuộc chiến, phải nói là một dẫn chứng đồ sộ có nhiều tính thuyết phục.

”Hanoi’s War” gồm 4 phần chia ra làm 8 chương với nội dung: Phần 1 là Con đường của cuộc chiến tranh cách mạng: Lê Duẩn nắm quyền lực và chỉ đạo cuộc chiến cũng như hoach định chính sách ngoại giao trong thời gian chiến tranh; Phần 2: phá vỡ những huyền thoại cũ và nêu lên cuộc chiến tại Hà Nội tranh dành quyền lực mà rõ rệt nhất là trong thời kỳTổng Công Kích tết Mậu Thân và thời kỳ của Hội nghị hòa bình Paris và cả thời gian sau đó; phần 3: Theo đuổi bản hòa âm chiến thắng với những hoạt cảnh từ chiến trường đến bàn hội nghị cũng như cách thế vừa đánh vừa đàm của chế độ Hà Nội; phần 4 : tạo thành một nền hòa bình què quặt với những nỗ lực chống lại khuynh hướng chủ hòa trong nội bộ cũng như việc thúc đẩy cường độ chiến tranh để mưu tìm một hòa bình của kẻ chiến thắng.

Nhân vật chính của “Hanoi’s War” và là nhân vật chủ chốt là Lê Duẩn. Ông ta đã áp lực để làm cho Hồ Chí Minh phải ngưng lại ý kiến không muốn thực hiện leo thang chiến tranh vào những năm 1963-1964 để tìm một chiến thắng nhanh chóng trước khi Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam. Năm 1967- 1968 ở Bắc Việt đã có một cuộc thanh trừng với quy mô lớn nhằm vào những người phản đối chính sách của Lê Duẩn nhắm vào ông Hồ, tướng Giáp và những người thân cận chống lại kế hoạch Tổng công Kích tết Mậu Thân. Mặc dù cuộc chiến ở miền Nam lúc đầu đã tập họp được nhiều người miền Bắc để hỗ trợ đảng nhưng nó nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Ông Duẩn và ông Thọ phản ứng bằng cách gán cho những người phản đối phương cách điều hành chiến tranh tội phản quốc. Bằng cách tăng quyền hạn của lưc lượng an ninh nội bộ và an ninh tư tưởng, và Hà Nội chinh phục cuộc chiến ở miền Nam với chiêu bài yêu nước, Lê Duẩn đã có thể tiến hành một cuộc chiến tổng lực theo như đã hoạch định cho đến năm chấm dứt chiến tranh năm 1975.

Hai nước lớn trong phe Cộng sản là Trung Quốc và Liên Xô có những bất đồng sâu sắc cũng gây ra nhiều ảnh hưởng trong cuộc điều hành chiến tranh của Lê Duẩn. Chính sách đu dây lúc đầu ngả theo Trung Quốc để tiến tới một cuộc chiến tranh tổng lực và toàn diện nhưng lúc về sau khi quân đội Mỹ tham chiến trực tiếp thì viện trợ của Liên Xô đổ vào Bắc Việt. Năm 1968, sự tranh dành ảnh hưởng giữa hai nước này đã ở mức căng thẳng tột độ. Lê Duẩn tung ra hai chiến dịch Tổng Công Kích tết Mậu Thân và chiến dịch Xuân Hè năm 1972 mà cả hai Trung Quốc và Liên Xô không chấp thuận. Năm 1972, tổng thống Richard Nixon đi thăm Trung Quốc và Liên Xô nên cả hai nước gây áp lực để làm giảm bớt cường độ của trận chiến và kết thúc dựa trên các điều khoản của Nixon khi họ tranh dành nhau những ân huệ của Washington. Lê Duẩn phát động hai chiến dịch đẫm máu kể trên như một đòn tấn công chí mạng vào việc giảm bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ và hai ngước Cộng sản đàn anh này.

Tác giả “Hanoi’s War” cũng cho rằng chính Hoa Kỳ tự đánh bại mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam là một huyền thoại. Bắc Việt đã chủ ý gây chiến tranh và định hình được các hành động của Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng như trật tự cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới. Chính Lê Duẩn đã dồn hết toàn lực cho chiến thắng trong năm 1964 khiến Hoa kỳ bị thúc đẩy can thiệp trực tiếp vào chiến tranh. Không phải Bắc Việt là một đối thủ thụ động mà chính họ đã gây ra cuôc chiến với sự chấp nhân hy sinh mọi thứ để đạt được chiến thắng.

Vai trò của Hoa Kỳ và đồng minh là Nam Việt Nam đôi khi lỏng lẻo và mỗi phe vì lợi ích riêng của mình nên có những hành động trái ngược nhau và bất lợi cho liên minh Washington DC – Sài Gòn. Làm chậm việc rút quân Mỹ trong năm 1969 và phá tan các cuộc đàm phán hòa bình giữa ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ năm 1972-1973, các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm cho việc Mỹ rút khỏi Ðông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Mặc dù Washington DC có những lý do riêng về địa điểm chiến lược và nội bộ để can thiệp và ở lại Việt Nam nhưng các nhà lãnh đạo hai phe Bắc và Nam Việt Nam đã chi phối tính chất và tốc độ can thiệp của Hoa Kỳ.

Hanoi’s War là một cách nhìn lịch sử mới dựa trên những tài liệu thu thập được từ văn khố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng sản. Trách nhiệm của cuộc chiến tổn hại trên 2 triệu sinh mạng người Việt là trách nhiệm của Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ với chủ trương hiếu chiến không chấp nhận sống chung hòa bình với những người quốc gia. Giải pháp hòa bình bằng thương thuyết cũng bị gạt bỏ và chủ trương trung lập chế cũng bị phê phán. Chủ trương duy ý chí này của Lê Duẩn cũng đã gây ra hai cuộc chiến tiếp theo sau năm 1975 với Trung Quốc năm 1979 và với Khờ me Ðỏ năm 1980. Và cũng với đường lối ngoại giao cứng rắn nên Việt Nam bị cả thế giới cô lập tạo nên một thời kỳ tệ mạt nhất trong cả lịch sử dân tộc.

Saturday, April 27, 2013

SỰ NGUY HIỂM CỦA MÓN ĂN CÁNH GÀ

SỰ NGUY HIỂM CỦA MÓN ĂN CÁNH GÀ

 

Hãy ngừng ăn cánh gà thường xuyên, và đây là một câu chuyện hoàn toàn có thật.

Một cô bạn của tôi gần đây đã phát hiện ra một u nang phát triển trong dạ con, cô ấy đã phải giải phẩu để cắt khối u đó. Cô tưởng rằng mình sẽ hồi phục sau phẩu thuật, nhưng cô ấy đã nhầm. Chỉ vài tháng sau, hiện tượng cũ lại tái phát. Cô ấy rất đau khổ tới gặp bác sĩ phụ khoa xin tham vấn. Vị bác sĩ hỏi cô một câu làm cô rất bất ngờ.

- Có phải cô thường xuyên ăn món cánh gà?

- Và cô trả lời là: đúng. Đồng thời cô cũng thắc mắc, tại sao ông ấy biết được thói quen của mình.

Sự thật là trong thời buổi hiện đại này, các con gà đã được tiêm hormone tăng trưởng để đẩy nhanh sự phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh thực phẩm.

Gà thường bị tiêm một mũi hormone vào cổ hoặc vào cánh. Vì vậy, ở các bộ phận này, liều lượng hormone tập trung cao nhất. Các hormone này có tác dụng rất đáng sợ cho cơ thể và đẩy nhanh sự phát triển của gà. Điều nguy hiểm hơn là khi nó xuất hiện trong các hormone của phụ nữ, nó sẽ làm cho cơ thể người phụ nữ phát triển các u nang trong dạ con/tử cung. Vì vậy, mọi người hãy xem lại cách ăn uống của mình. Đừng nên ăn hoặc giảm hẳn việc thưởng thức món cánh gà chiên nước mắm nhé.

 
(Hiệp hội Y tế Singapore)




Mỹ sẽ có hành động quân sự ở Syria?

Mỹ sẽ có hành động quân sự ở Syria?

Mark Mardell
Biên tập viên Bắc Mỹ BBC
13:51 GMT - thứ bảy, 27 tháng 4, 2013
 
Ông Obama từng nói sẽ thay đổi chiến lược khi Syria dùng vũ khí hóa học.
Israel nói rằng vũ khí hóa học đã được sử dụng. Anh nói rằng có bằng chứng "có giới hạn nhưng tin được" cho thấy chất sarin đã được sử dụng.
Nay Tòa Bạch Ốc đã gửi một bức thư cho hai thượng nghị sĩ nói: "Giới tình báo của chúng ta đã đánh giá với mức độ tự tin khác nhau rằng chế độ Syria đã sử dụng vũ khí hoá học với quy mô nhỏ ở Syria,"
Tất nhiên ông Obama chưa bao giờ nói chính xác rằng thế trận sẽ thay đổi thế nào, nhưng hầu hết mọi người cho rằng ‎ông nói về một sự can thiệp quân sự nào đó.
Các quan chức Tòa Bạch Ốc đã xác nhận rằng nếu tin về việc Syria sử dụng vũ khí hóa học quy mô nhỏ được xác nhận, điều đó có nghĩa là chính quyền Syria đã vượt qua vạch đỏ của tổng thống. Tuy nhiên, ông Obama không hài lòng với thông tin tình báo thu thập ở mức hiện nay.
Bức thư của Tòa Bạch ốc nói thêm rằng bất kỳ quyết định nào sẽ phải phụ thuộc vào những dữ kiện "đáng tin cậy và có cơ sở để chúng ta chắc chắn ở mức độ nào đó".

Nhiều rủi ro
"Với rủi ro đi kèm, và những gì chúng ta đã rút ra từ kinh nghiệm gần đây, đánh giá của tình báo thôi không thể đã là đủ" Thư của Tòa Bạch Ốc
Cũng hơi oái oăm khi người người ta thấy ông Obama phát biểu tại lễ khai mạc Thư viện mang tên Tổng thống George W Bush ở Texas mới đây.
Người ta nay cũng dễ dàng quên đi rằng tổng thống Obama khi được bầu lên là người bình tĩnh và có quan điểm chống ông Bush.
Ông từng xem cuộc chiến Iraq là sự sai lầm nghiêm trọng, xảy ra do hệ quả của cả tình báo tồi và ‎nhiệt huyết sẵn sàng lâm chiến lúc đó.
Lá thư của Tòa Bạch Ốc nói rằng: "Với rủi ro đi kèm, và những gì chúng ta đã rút ra từ kinh nghiệm gần đây, đánh giá của tình báo thôi không thể đã là đủ."
Những người thuộc đảng Cộng hòa đang nói rằng chế độ Assad đã vượt quá vạch đỏ và rằng chính phủ Syria sẽ cảm thấy khích lệ nếu không thấy có hành động gì.
Họ cũng nói rằng không nên để trách nhiệm thanh tra cho Liên Hiệp Quốc.
Rõ ràng ông Obama không muốn lâm chiến ở Syria. Ông coi cuộc chiến nếu xảy ra là quá phức tạp, quá khó và bất trắc.
Hành động của Mỹ tại đây sẽ có một tác động rất lớn vào cách nhìn đối với Hoa Kỳ trong khu vực – khẳng định thêm những hình ảnh về nước Mỹ mà ông muốn thay đổi.
Nhưng Hoa Kỳ có lẽ đang di chuyển từ từ và thận trọng để có hành động.
Hiện không có dấu hiệu nào về thời gian hoặc không chắc chắn về điều gì sẽ thực sự xảy ra. Điều này rất đúng phong cách của Obama: đó là sự thận trọng, việc ông muốn kéo các đồng minh cùng tham gia, sự miễn cưỡng phải phán xét một cách vội vàng.
Kẻ thù thì gọi đó là đòn tung hỏa mù. Ngay cả đồng minh của Mỹ đôi khi cũng thấy sốt ruột. Tôi nghi ngờ là sẽ có bất kỳ sự lo ngại nào chi phối một tổng thống từng nói rằng gửi người lính trẻ tham chiến là điều khó khăn nhất mà ông phải làm.

Điều khiển phi cơ không người lái từ Anh

Điều khiển phi cơ không người lái từ Anh

13:05 GMT - thứ bảy, 27 tháng 4, 2013
Phi cơ không người lái
Phi cơ không người lái lần đầu được điều khiển từ các căn cứ ở Anh
Các phi cơ vũ trang không người lái lần đầu tiên được điều khiển từ bên Anh, theo Bộ Quốc phòng nước này.
Các giới chức quốc phòng Anh nói các phi cơ Reaper đã tiến hành các phi vụ bay được kiểm soát từ căn cứ không quân hoàng gia RAF Waddington, Lincolnshire, nơi mà các nhóm vận động dự tính tổ chức các cuộc phản đối.
Các phi cơ không người lái được sử dụng để theo dõi, giám sát, nhưng có thể được trang bị vũ khí nếu được chỉ huy từ mặt đất tại Anh quyết định.
Các nhà vận động nói rằng việc chuyển đổi kiểm soát các phi vụ sang Anh đánh dấu một sự "mở rộng quan trọng trong chương trình phi cơ không người lái của quốc gia".
Họ đang kêu gọi chính phủ từ bỏ việc sử dụng các phi cơ này, cho rằng chúng làm cho các chính trị gia được dễ dàng hơn khi khởi động các can thiệp quân sự, đồng thời đã đang làm tăng thương vong cho dân thường.
"Khoảng 890 người trong số tử vong này là dân thường và đa số các vụ không kích được thực hiện dưới thời của chính quyền Tổng thống Barack Obama"
Cơ quan Báo chí Điều tra
Bộ Quốc phòng Anh đã bảo vệ việc sử dụng các phi cơ loại này tại Afghanistan, nói rằng chúng đã giúp cứu mạng sống của vô số nhân viên quân sự và thường dân.
Tất cả 10 chiếc phi cơ Reaper đều được đặt căn cứ tại Afghanistan nhằm hỗ trợ quân Anh và các lực lượng liên minh và chúng có thể mang theo các loại bom với trọng lượng 500 cân Anh, cùng hỏa tiễn Hellfire nhằm tấn công quân nổi dậy.
Các phi cơ này được điều khiển từ xa, nhưng cất cánh và hạ cánh cần sự giúp đỡ của con người, tại căn cứ không quân Kandahar.

'Chỉ giám sát'

Phóng viên quốc phòng của BBC Caroline Wyatt nói rằng "đa số" những phi vụ của các phi cơ không người lái của Anh được sử dụng để giám sát.
Bộ Quốc phòng cho BBC hay các phi cơ của Anh không được sử dụng cho các phi vụ nhắm mục tiêu ám sát, không giống như các phi cơ Predator do Mỹ sử dụng ở những nơi như Pakistan.
"Các phi vụ bay không người lái được tiến hành có nhiệm vụ theo dõi và cung cấp thông tin tình báo"
Ước tính cho thấy các cuộc tấn công không người lái của CIA tại Pakistan làm thiệt mạng lên đến 3.533 người từ năm 2004 đến năm 2013.
Khoảng 890 người trong số tử vong này là dân thường và đa số các vụ không kích được thực hiện dưới thời của chính quyền Tổng thống Barack Obama, theo nghiên cứu của Cơ quan Báo chí Điều tra.
Đầu năm nay, Liên Hợp Quốc đã mở một cuộc điều tra về tác động đối với thường dân của các vụ không kích bởi phi cơ không người lái và các vụ giết người nhắm mục tiêu khác và cho hay một khuôn khổ pháp lý phù hợp cần được thiết lập để kiểm soát trách nhiệm.
Bộ Quốc phòng Anh nói khi vũ khí được trang bị, các quy tắc chi phối việc sử dụng sẽ áp dụng tương tự như ở các loại phi cơ có người lái.
Trước đây, nhân viên Không quân Hoàng gia Anh kiểm soát các phi cơ không người lái từ căn cứ không quân Creech, tại tiểu bang Nevada, Mỹ.
Tháng Mười năm ngoái, Không quân Hoàng gia đã lập 13 phi đội ở căn cứ RAF Waddington nằm ở phía nam của Lincoln, nơi có khoảng 100 nhân viên làm việc, bao gồm các phi công, các nhân viên điều hành hệ thống và các kỹ sư có nhiệm vụ kiểm soát Afghanistan.
Trong một tuyên bố đưa ra hôm thứ Năm, Không quân Hoàng gia Anh nói các phi cơ không người lái đã bắt đầu hỗ trợ các Lực lượng Hỗ trợ an ninh quốc tế và bộ binh Afghanistan.
Các phi vụ được tiến hành có nhiệm vụ theo dõi và cung cấp thông tin tình báo, do các phi cơ có vũ trang được điều khiển từ xa từ căn cứ RAF Waddington thực hiện.

Chủ đề liên quan

Friday, April 26, 2013

Hoa Kỳ và Nhật cho phép Boeing 787 bay trở lại

Hoa Kỳ và Nhật cho phép Boeing 787 bay trở lại

Một chiếc Boeing 787 của hãng hàng không Nhật Bản ANA phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Takamatsu hôm 16/01/2013. 
Một chiếc Boeing 787 của hãng hàng không Nhật Bản ANA phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Takamatsu hôm 16/01/2013. REUTERS/Kyodo/Files

Cục Hàng không Dân dụng Mỹ hôm qua, 25/04/2013 đã công bố thông báo chấm dứt lệnh cấm bay chiếc Boeing 787 « Dramliner », được ban hành từ giữa tháng Giêng sau những trục trặc nghiêm trọng trong bộ phận bình điện.


Trong thông báo nói trên, cơ quan hàng không dân dụng của Mỹ yêu cầu các hãng hàng không sử dụng máy bay Boeing 787 phải lắp đặt trên các bình điện những hệ thống cách điện và cách nhiệt, để nếu có bị chạm điện hoặc nóng lên, thì các bình điện kác của máy bay không bị ảnh hưởng lây.
Các bình điện và bộ phận sạc điện trên những chiếc Boeing cũng phải được thay thế hết và theo hãng Boeing, việc này sẽ mất khoảng năm ngày cho mỗi máy bay.
Về phần Bộ Giao thông Nhật Bản hôm nay cũng đã chính thức chấp thuận cho các hãng hàng không của nước này sử dụng trở lại các máy bay Boeing 787 đã bị cấm bay từ giữa tháng giêng, với thêm một số điều kiện để bảo đảm an toàn.
Kể từ sau những trục trặc khiến các bình điện nóng lên quá mức, khoảng 50 chiếc Boeing 787 đã được giao trên toàn thế giới bị cấm bay.
Hãng United Continental của Mỹ hôm qua cho biết họ dự trù các chiếc Boeing 787 của hãng này sẽ bay trở lại vào ngày 10/6 tới trong chuyến bay đến Nhật Bản. Hai hãng hàng không của Nhật là ANA và JAL cũng nghĩ là sẽ có thể sử dụng trở lại Boeing 787 trong tháng 6 tới, giống như hãng hàng không Ba Lan LOT.
Tập đoàn Boeing sẽ phải bồi thường cho một số hãng hàng không, nhất là hai hãng Nhật ANA và JAL, những hãng đã phải hủy hàng ngàn chuyến bay từ giữa tháng Giêng đến cuối tháng Năm.

Kinh tế thất bại- bất mãn công khai- gia tăng đàn áp

Việt-Long, RFA, phỏng theo The New York Times, Apr 24, 2013-
2013-04-26

14826_2734116169767_13750215_305.jpg
Giáo dân ký kiến nghị đòi hủy điều 4 hiến pháp 1992 tại nhà thờ Thái Hà.
Courtesy Huỳnh Ngọc Chên Blog

Sụp đổ đè lên chính nó

Tủ sách đầy những tuyển tập của Marx, Engels và Hồ Chí Minh, dấu ấn của một sự nghiệp trung thành với đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng nhà học giả 77 tuổi nói ông không còn là “tín đồ” của Đảng.
Từng là cố vấn cho hai thời Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Phước Tường, (tức giáo sư Tương Lai- ghi chú của người dịch), đang nói lên những tiếng nói phản kháng mạnh mẽ chính quyền Việt Nam, giống như bao nhiêu người khác ở Việt Nam ngày nay.
“Hệ thống của chúng tôi bây giờ là chế độ toàn trị độc đảng. Tôi xuất thân từ bên trong hệ thống ấy – Tôi hiểu tất cả những khiếm khuyết, những bất cập, những suy đồi thoái hóa của nó. Hệ thống này không được sửa chữa thì sẽ sụp đổ đè lên trên chính bản thân nó”  - Ông trả lời một cuộc phỏng vấn, tại nhà ở ngoại ô thành phố Sàigòn.
gs-tuong-lai
Nhà học giả Mác-Xít: GS Tương Lai Nguyễn Phước Tường - trinhanmedia.com.vn photo
Đảng từng chiến thắng lực lượng miền Nam Việt Nam do Mỹ yểm trợ năm 1975 đang đối diện sự phẫn nộ ngày càng tăng trước một nền kinh tế suy sụp, vì chia rẽ do những tranh cãi giữa những người bảo thủ ôm chặt truyền thống muốn duy trì xã hội dưới những nguyên tắc chỉ đạo của xã hội chủ nghĩa đi đôi với quyền lực độc tôn, chống lại bên kia là những người kêu gọi (áp dụng) một hệ thống đa nguyên hơn cùng với sự hội nhập hoàn toàn với chủ nghĩa tư bản.Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là đảng đang đấu tranh đối phó với một xã hội được thông tin đầy đủ hơn, nhiều phê phán hơn, nhờ những tin tức và ý kiến phổ biến qua internet, thoát khỏi (vòng bưng bít) của truyền thông do Nhà nước kiểm soát.
Từ khi thống nhất xứ sở 38 năm về trước. đảng Cộng sản đã trải qua thử thách với những cuộc xung đột với Trung Cộng và Cambodia, những khủng hoảng tài chính và chia rẽ nội bộ. Sự khác biệt của ngày nay, theo học giả chuyên gia hàng đầu về Việt Nam Carl A. Thayer, là sự phê phán giới lãnh đạo “đã bùng nổ trên khắp nước.”
Trong một môi trường toàn trị khác, những chia rẽ trong đảng đã và đang thực sự khuyến khích tự do ngôn luận vì các phe phái đều hăng hái bôi nhọ lẫn nhau, theo học giả Thayer. Ông nói: “
Có một nghịch lý ở Việt Nam là những bất đồng bừng nở, và những đàn áp cũng gia tăng cùng lúc” 

Thêm bất đồng, gia tăng đàn áp

Khi những tiếng nói bất đồng gia tăng gấp bội trong 92 triệu người dân thì cũng là lúc chính quyền ra sức đàn áp. Các tòa án đã tuyên án tù nhiều bloggers, nhà báo, nhà hoạt động, nhưng lời chỉ trích, nhiều nhất là trên mạng online, vẫn tiếp tục, không giảm sút. Chính quyền cản phá một số trang nhà và địa chỉ internet, nhưng nhiều người Việt sử dụng software hay những trang nhà khác để đi vòng và lách khỏi kiểm duyệt.
“Thêm nhiều người đang cố gắng tự bày tỏ chính mình hơn trước đây, và chỉ trích chính quyền” Ông Trương Huy San, một tác giả, nhà báo, và là một blogger nổi tiếng với bút hiệu Huy Đức nói. “Và những điều họ nói đã gay gắt hơn rất nhiều” Ông San, từng là nghiên cứu sinh đại học Harvard, là tác giả quyển sách “Bên thắng cuộc”, có thể là cuốn sách lịch sử có tính chất bao hàm đầu tiên của Việt Nam trong thời kỳ từ 1975, cũng là cuốn sách sử đầu tiên từ lúc đó mang tính cách phê phán, được một người từ bên trong Việt Nam viết lên.
huy-duc
Nhà báo Huy Đức Trương Huy San - lamtamnhu.blogspot.com photo

Bộ sách được nhiều người đọc ở Việt Nam, gồm 2 quyển, tác giả mang bút hiệu Huy Đức, được in ra không có giấy phép của chính quyền. Bộ sách mô tả cuộc thanh trừng những đảng viên không trung thành và việc chiếm đoạt tài sản của các sở hữu chủ các doanh nghiệp ở miền Nam Việt Nam.

Bề mặt lành, bề đáy vỡ

Với những du khách hời hợt đến thăm Việt Nam, bề mặt nổi của sự tiến bộ kinh tế có thể làm họ khó lòng hiểu được tâm trạng bi quan sâu đậm mà nhiều người bày tỏ trong nước. Hằng triệu người mà mươi năm trước chỉ đi xe đạp, ngày nay phóng xe gắn máy qua các nhà máy và cao ốc văn phòng. Nền kinh tế bừng nở trong thập niên 1990 sau cuộc đổi mới đã sản sinh cho Việt Nam một sự pha trộn của một nền kinh tế thị trường được đảng Cộng sản kèm cặp chặt chẽ. Cả ngày nay nền kinh tế Việt Nam cũng vẫn được dự trù tăng trưởng khoảng 4 tới 5% cho năm nay, một phần nhờ vào thế mạnh xuất khẩu gạo, cà phê và các sản phẩm nông nghiệp khác. Tuy nhiên thị trường bất động sản đóng băng vì xây dựng dư thừa quá đáng, các ngân hàng chất đầy nợ xấu, báo chí đăng tải những bài nói về nạn thất nghiệp gia tăng, và xứ sở Việt Nam được xếp vào hàng ngũ những nước tham nhũng nhất thế giới, do Transparency International, một tổ chức theo dõi tham nhũng toàn cầu, đánh giá (Việt Nam xếp hạng 123 trong danh sách 176 quốc gia, trong đó những nước mang số hạng càng nhỏ là những nước càng ít tham nhũng)
Giới doanh nghiệp Việt Nam than phiền về những quy định của chính phủ quá sức chịu đựng, bị áp đặt do một đảng tự tin họ là thành phần tiên phong của các doanh nghiệp tư bản. Và nhiều người nói Việt Nam không có định hướng, mặc dù có vẻ có một dân số trẻ siêng năng và không thể áp chế được. “Trong 21 năm ở xứ này tôi chưa bao giờ thấy trong giới trí thức và chủ doanh nghiệp có mức độ bất mãn đến thế đối với hệ thống (chính quyền,) Ông Peter R. Ryder, giám đốc Indochina Capital, một công ty đầu tư ở Việt Nam, nói “Có nhiều cuộc thảo luận rất có ý nghĩa trong cộng đồng doanh nghiệp, và trong nội bộ đảng – giữa những người hết sức quan tâm đến chiều hướng mà quốc gia đang đi theo”
le-dang-doanh
TS Lê Đăng Doanh - 24h.com.vn photo
Tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân, một hội nghị được Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Việt Nam tổ chức vào thượng tuần tháng tư hằng năm, những người tham dự “đang tranh nhau cơ hội đứng trước chiếc microphone,” theo lời ông Lê Đăng Doanh, một nhà kinh tế hàng đầu tham dự diễn đàn mà ông mô tả là “đầy sóng gió.”
Ông nói có sự chỉ trích lan truyền rộng rãi rằng tuy nền kinh tế cần tái cấu trúc sâu rộng, nhưng “hầu như “chẳng có gì được thi hành.”
“Đó là khủng hoảng niềm tin” Ông Doanh nói. “Năm nào cũng hứa hẹn sẽ tốt đẹp hơn, nhưng người dân chẳng thấy gì”

Vùng tâm bão

Ở tâm của cơn bão chính trị là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người nắm giữ quyền lực từ năm 2006. Phong cách mạnh dạn và chương trình kinh tế nhiều cao vọng của ông đầu tiên giúp ông được nhiều người ủng hộ vì ông bứt khỏi khuôn thuớc ù lì của các “quan lớn” trong giới lãnh đạo đảng Cộng sản.
Nhưng ông làm cho nhiều đảng viên xa lánh khi giải tán ban cố vấn từng là bộ máy lãnh đạo đằng sau chưong trình đổi mới (và trong ban cố vấn đó có ông Tường, học giả Mác-Xít, trong số nhìều đảng viên cao cấp). Quan trọng hơn nữa, chính sách biểu hiệu của ông Dũng, là thúc đẩy mạnh mẽ việc kiến tạo những công ty quốc doanh theo mẫu những đại công ty tư nhân của Hàn quốc, đã phản tác dụng.
Được điều hành do những giám đốc có quan hệ gần gũi với hệ thống giai tầng của đảng Cộng sản, các doanh nghiệp này mở rộng thành nhiều doanh nghiệp nhỏ mà họ không đủ trình độ quản lý, theo các nhà kinh tế nói, và đem đầu cơ vào thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Hai đại công ty quốc do anh lớn nhất suýt sụp đổ và rơi xuống tình trạng gần chìm ngập trong nợ nần không trả nổi.
Ông Tường, nhà học giả Mác-Xít, nói mối căng thẳng trong đảng Cộng sản đã tăng cao là do khó khăn kinh tế.
v-n-p-m
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - xaluan.com photo

Vào tháng 2, ông góp chung tay viết một lá thư ngỏ lên Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, kêu gọi sửa đổi hiến pháp của quốc gia để “bảo đảm quyền lực thực sự phải thuộc về nhân dân.” Ông vẫn chưa hề nhận được một tiếng hồi âm.
Ông Tường nói ông vẫn khao khát xúc tiến thay đổi từ những ngày ông làm cố vấn cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người đã có công kiến tạo lại nền kinh tế trong thập niên 1990.
Nhưng ngày hôm nay ông Tường cảm thấy áp lực của thời gian. Ông bị ung thư, tuy có vẻ thuyên giảm, và ông nói về cơn bệnh như một loại giải phóng tri tuệ thúc đẩy ông nói lên những gì mà hiện lúc này ông coi là sự thật.

Hà nội 36 phố chuồng

Hà nội 36 phố chuồng

Mái ngói rêu phong dần được thay thế bằng mái tôn, những lồng sắt, chuồng cọp xuất hiện ngày một nhiều trên ban công hay nóc của các tòa nhà cũ kỹ... khiến phố cổ Hà Nội thêm ngột ngạt, nhếch nhác.

image
Phố Hàng Đường nhìn từ trên cao, nhà thò nhà thụt. Mặt tiền con phố này nham nhở từ nhiều năm nay khi người dân cơi nới thêm tầng để tăng diện tích ở.


image

Người đi đường ngước mắt lên cao rất dễ dàng bắt gặp nhiều ngôi nhà có mặt tiền nham nhở, vôi vữa bong tróc bởi sự cơi nới hay thờ ơ của người dân.

image

Nhìn từ trên cao, hầu hết nóc nhà phố Hàng Buồm, Hàng Giấy và nhiều khu vực khác đã bị sửa sang, không còn cảnh ngói phủ đầy rêu đặc trưng của phố cổ Hà thành hàng chục năm về trước. Các khoảng sân, ban công thoáng đãng cũng được tận dụng làm tum để ở hoặc phơi phóng.

image
Do diện tích không được mở rộng trong khi người ngày một đông nên nhiều gia đình ở phố cổ đã liên tục cơi nới, xây các "chuồng cọp" chồng lên nhau.


image
Trong khu phố cổ đất chật người đông, những chuồng cọp quây tôn rộng chưa đầy 10 m2 như thế này có thể là chỗ sinh hoạt lý tưởng của một gia đình.


image

Mái tôn giăng kín, nhà mọc khắp nơi khiến nhiều ngôi nhà chỉ một chỗ có ánh sáng là tầng thượng.

image

Một khe hở hiếm hoi đủ để đứng phơi quần áo.

image

Còn nhiều hộ gia đình khác ở nhà số 60 Hàng Buồm phải bật đèn điện giữa ban ngày để soi lối đi và phơi quần áo..

Nước bồn cầu chảy khắp khu tập thể

Suốt 40 năm, do sống trong không gian chật hẹp, cũ nát, hơn 100 hộ dân ở khu tập thể ĐH Y Hà Nội phải xây thêm nhà vệ sinh, xả thải qua ống nhựa bắc qua đầu người dân khiến mùi hôi thối bốc lên nồng nặc.


image
Năm 1974, khu nhà E4, tập thể ĐH Y Hà Nội được xây dựng để phục vụ sinh viên. Sau đó, 112 căn hộ được chuyển thành nhà ở cho cán bộ của trường.


image

Diện tích chật chội, lại không có nhà vệ sinh nên hầu hết các căn hộ đều được cơi nới và xây thêm "chuồng cọp" để làm nhà vệ sinh, bếp, phòng tắm. Trải qua hàng chục năm, những chuồng cọp xuống cấp, nhem nhuốc, sắt thép hoen rỉ, rêu mọc khắp nơi.

image

Nhà chỉ rộng 12m2 (dài gần 7 m, rộng 1,8 m) mà có tới 5 người nên gia đình bà Ngô Thị Lịch (phòng 40E) phải làm thêm gác xép để ngủ.

image

Còn khu bếp, vệ sinh... được gia đình tự cơi nới thêm phía trước nhà.

image

Mỗi nhà cơi nới một kiểu, cái thò cái thụt khiến khu tập thể gần 40 tuổi thêm lồi lõm.

image

Bà Phan Thị Thu, Tổ phó tổ dân phố 52, phường Trung Tự cho biết, chỉ có một số hộ dân được dẫn ống xả xuống bể phốt của khu nhà, còn lại hầu hết đều phải bắc ống nhựa dẫn nước thải từ bồn cầu xuống thẳng sông Lừ chạy phía trước nhà.

image
Để hạn chế mùi xú uế, người dân đã xây tường rào để ngăn cách khu nhà ở với con sông ô nhiễm. Nhưng gần đây, dự án bê tông hóa sông được thi công, tường rào bị phá bỏ, các ống xả trơ ra, nước thải chảy lênh láng trên mặt đất. Có ống nước thải treo lơ lửng trên đầu người qua lại.


image

Có ống lại xả xuống ngay cạnh cửa nhà, khiến mùi hôi thối bốc lên nồng nặc.

image

Một số hộ kinh doanh phải mua bạt bọc các đường ống này lại để tránh gây ô nhiễm môi trường. "Chúng tôi mong dự án cống hóa sông Lừ sớm hoàn thiện để các đường ống dẫn nước thải được gom xuống cống, người dân bớt khổ. Như thế này ô nhiễm quá, không thể sống nổi", bà Thu nói.

__._,_.___