Friday, May 30, 2014

Bản lên tiếng của Tăng Đoàn GHPGVNTN

Bản lên tiếng của Tăng Đoàn GHPGVNTN về việc Trung Cộng xâm phạm chủ quyền của Việt Nam

alt 
HT. Thích Viên Định (thứ 3 từ trái) trong lễ Phật đản tại Huế - 2014
 
   
 TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
                               HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH           
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh, TP Sài Gòn  
Phật lịch 2558
                                                                                Số: 01/HĐĐH/TB/VT
 BẢN LÊN TIẾNG
CỦA TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VỀ VIỆC VIỆC TRUNG CỘNG XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
Kính thưa toàn thể Đồng bào cùng Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước,
Việc Trung Cộng ngang nhiên đưa giàn khoan dầu nước sâu HD 981 và một hạm đội tàu hộ tống vào biển Đông của Việt nam để thăm dò và khai thác là một hành động xâm lược trắng trợn bất chấp chủ quyền của Việt Nam và công ước quốc tế về Luật biển.
Trung quốc đã dùng nhiều cách, từng bước, xâm chiếm nhiều vùng lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam. Ngư dân Việt đánh cá trong vùng biển Việt Nam liên tục bị Trung Cộng đánh phá, giết người, cướp tài sản, bắt giam đòi tiền chuộc.
Những việc làm trên của nhà cầm quyền Bắc kinh cho thấy tham vọng của Trung Cộng là một mối hiểm họa lâu dài và trực tiếp đối với dân tộc và tổ quốc Việt Nam.
Trong lịch sử của chúng ta, hiểm họa phương Bắc là thường trực, nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam cố tình không nhận chân điều đó, họ vẫn xem Trung quốc là đồng chí anh em, vẫn lấy 16 chữ vàng và 4 tốt làm phương châm, vô trách nhiệm trong việc bang giao và phòng bị.
Hơn nữa, sau hơn 1/2 thế kỷ cầm quyền, Cộng Sản Việt Nam đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng cả về kinh tế, ngoại giao, chính trị và quốc phòng. Khiến cho nền kinh tế quốc gia bị khánh tận, làm băng hoại tinh thần dân tộc và nguyên khí quốc gia, gây hậu quả quốc gia bị cô lập, lạc hậu và chậm tiến.
Những sai lầm kể trên làm phá sản quốc gia, làm nghèo cả dân tộc, dẫn đến sai lầm về an ninh chiến lược, không đủ nguồn lực để  bảo vệ tổ quốc. Quốc nạn tham nhũng và lề lối điều hành tùy tiện, làm lũng đoạn ngân sách quốc gia và quốc phòng.
Đất nước chúng ta hiện nay đang trong hoàn cảnh hiểm nghèo nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vô kế khả thi vì nội lực đã hoàn toàn suy sụp lại bị cô lập về ngoại giao.
Đã vậy, Nhà cầm quyền Cộng sản lại đặt 90 triệu người dân Việt Nam, trong đó có đủ mọi tầng lớp nhân sĩ, Trí thức, Sinh viên, Công nhân, Nông dân, và các Tôn giáo thành những người ngoại cuộc trong tư thế bị động. Người dân Việt nào muốn thể hiện lòng yêu nước, chống ngoại xâm, phải được sự cho phép của Nhà cầm quyền, nếu không, liền bị đàn áp một cách hung bạo lạ thường, nhằm dập tắt và làm nhụt chí yêu nước của người dân Việt!
Trước hiện tình đất nước hôm nay, theo lời kêu gọi của 20 tổ chức dân sự, các Tôn giáo, các nhà trí thức yêu nước, suốt mấy tuần qua, hàng ngàn người dân Việt, không còn sợ tù tội, hiểm nguy, đàn áp, đã tổ chức xuống đường biểu tình chống ngoại xâm trên nhiều vùng đất nước.
Trong Đại Lễ Phật đản Phật lịch 2558 vừa qua, Trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh- Thượng thủ Tăng Đoàn GHPGVNTN, đã ngỏ lời kêu gọi 3 phút tỉnh lặng nhập ý thức quán, chống ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Ngài giải thích: “3 phút nhập ý thức quán là để đánh thức trách nhiệm và bổn phận của hơn 90 triệu người con dân của Tổ Quốc Việt Nam trước hiểm hoạ “sơn hà nguy biến”. Nếu không ý thức cảnh giác thì Tổ quốc Việt Nam mất vào tay Trung cộng hồi nào chẳng biết, dân tộc Việt Nam trở thành nô lệ của Trung cộng hồi nào chẳng hay… ”
Ngày 23.5.2014, lo lắng trước hiểm hoạ xâm lăng của Trung cộng, Phật  tử Lê thị Tuyết Mai, Pháp danh Đồng Xuân, đã phát nguyện tự thiêu trước Dinh Độc Lập, Sài gòn, gióng lên tiếng nói bất khuất, làm ngọn đèn soi sáng để kêu gọi toàn dân chống ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. 
Với hiện trạng tối tăm và hiểm nguy của đất nước, Tăng Đoàn Giáo hội Phật giáo Viêt Nam Thống nhất có những nhận định để bảo vệ tổ quốc như sau:
- Việc đấu tranh bảo vệ tổ quốc phải song hành với việc vận động cho dân chủ và nhân quyền, vì dân tộc chúng ta sẽ không thể bảo vệ tổ quốc nếu quyền lực không thuộc về nhân dân.
- Tăng Đoàn GHPGVNTN kêu gọi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chấm dứt những việc làm mờ ám, không rõ ràng trong quan hệ với Trung quốc.
- Tăng Đoàn GHPGVNTN kêu gọi Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hãy nghe lời kêu gọi của nhân dân, thực hiện những yêu cầu chính đáng của nhân dân và nhân sĩ trí thức  dân chủ trong và ngoài nước để bảo vệ tổ quốc Việt Nam trước sự xâm lăng mỗi ngày một lấn tới của Trung Cộng.
- Tăng Đoàn GHPGVNTN kêu gọi Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thả tất cả những tù nhân lương tâm và những người biểu tình chống Trung cộng bị bắt giam từ trước đến nay.
- Tăng Đoàn GHPGVNTN kêu gọi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước không phân biệt chính kiến, tôn giáo, đảng phái…hãy cùng nhau đoàn kết một lòng bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm.
Cầu nguyện cho đất nước được trường tồn, dân tộc được sống trong tự do, dân chủ, nhân quyền, an vui hạnh phúc.
                                                        Chùa Giác Hoa- Sài gòn, ngày 28 tháng 5 năm 2014.
                                                                       Thay mặt Hội Đồng Điều Hành
                                                                           Tăng Đoàn GHPGVNTN
                                                                                     Viện Trưởng
                                                                                            ấn ký
Tỳ kheo Thích Viên Định
Xem nguyên bản:
Ban Len Tieng 1 TDGHPGVNTN vv TC XLVNBan Len Tieng 2 TDGHPGVNTN vv TC XLVN

Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng ra mắt sách về tiếng Việt

Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng ra mắt sách về tiếng Việt

Thursday, May 29, 2014 6:39:12 PM




Nguyên Huy/Người Việt
 
SANTA ANA, California (NV) - Vào chiều ngày 31 Tháng Năm, tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, Santa Ana, Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng sẽ ra mắt hai cuốn sách về tiếng Việt, một là “Những Nẻo Ðường Tiếng Việt” và “Từ Ðiển Nguồn Gốc Tiếng Việt.”
Giới thiệu về hai cuốn sách này là ba vị giáo sư, Phạm Thị Huê (khoa trưởng đại học cộng đồng Orange Coast College), Huỳnh Văn Lang và Trần Huy Bích.


Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng với các nữ sinh Liên Trường Pleiku. (Hình: Pleiku Phố Núi)
Về cuốn “Từ Ðiển Nguồn Gốc Tiếng Việt,” vị bác sĩ cho biết: “Ðây là một công trình mà tôi đã bỏ ra 33 năm nghiên cứu, nay được in ra với 2,230 trang, trên 250 ngàn đơn vị đồng nguyên của 56 ngôn ngữ khác nhau sẽ chứng minh rằng tiếng Việt đã, đang và sẽ là tiếng nói quốc tế cốt lõi của Ðông Nam Á, đánh bật cái hiểu lầm 2,000 năm rằng tiếng Hoa xưa là nguồn gốc của tiếng Việt. Mỗi tiếng Việt còn được dịch ra tiếng Anh, Pháp rất chi tiết và dồi dào để cho bạn đọc khắp thế giới hiểu rõ cái tinh thần tiếng Việt, còn những tiếng Hán-Việt 'vay mượn' thì đều có ghi chữ Hoa kèm theo.”
Nhiều người tìm hiểu về dân tộc Việt Nam, kể cả một số bạn trẻ hiện nay, thường có cái mặc cảm vì ngộ nhận rằng nòi giống người Việt bắt nguồn từ bên Trung Quốc, là một trong họ Bách Việt từ Ðộng Ðình Hồ bị giống Hán đàn áp phải di cư xuống miền Nam lục địa Trung Hoa cư trú, sinh cơ lập nghiệp tại các vùng Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam và Phong Châu Giao Chỉ...
Nhưng qua nghiên cứu trong nhiều năm, Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng thấy rằng đã có không biết bao nhiêu giống dân đã phải đi về miền Nam, lớp này qua lớp khác. Công cuộc ấy kéo dài cả mấy ngàn năm mà cho đến nay vẫn còn chưa xong như dân tộc người Zhuang (gốc Tai, 25 triệu), người Yi và Zang (gốc Tây Tạng, hơn 10 triệu) và các sắc dân khác như người H'mong, người Dao (hàng triệu người)...
Những di dân này đã lai giống với những thổ dân tại những địa phương này, đã sống ở đó từ ngàn xưa, không từ đâu tới mà cũng chẳng đi đâu. Theo bác sĩ, “Họ mới thật là ông bà tổ tiên của chúng ta chứ không phải là người Hoa Nam bị người Hoa đuổi xuống, lại càng không phải là người Hoa từ Hoa Bắc lấn chiếm Hoa Nam.”
Cái nghi vấn về tiếng nói của dân tộc Việt đã được nhiều học giả đặt ra và nghiên cứu tìm hiểu về thời gian, trước khi có tiếng Nôm, người Việt đã có tiếng nói và ngôn ngữ như thế nào. Bằng vào những di tích con người tại vùng đất Hòa Bình cách đây 30 ngàn năm và những di chỉ trên các mặt trống Ðồng Ðông Sơn cách đây 2,500 năm, nhiều học giả phải đi đến kết luận những giống di dân này lai tạo với thổ dân, trong đó có giống dân Việt, đã có những tiếng nói riêng biệt, cách sống riêng biệt.
Theo nhận xét về Việt Nam của Encyclopedia Britanica thì “mặc dầu vẫn còn nhiều điểm chưa biết rõ, nhưng cái rõ ràng nhất là tiếng Hoa không chung một gia đình với tiếng Việt.”
Buổi ra mắt sách của Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng sẽ rất là hữu ích cho những ai quan tâm đến tiếng Việt và ngôn ngữ Việt, nhất là với các thầy cô của các trung tâm Việt Ngữ và các phụ huynh cùng các bạn trẻ sinh viên học sinh Việt Nam tại hải ngoại.
Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng là một nhà nghiên cứu về tiếng Việt với tâm huyết tìm cho ra nguồn gốc của tiếng Việt không phải là từ tiếng Hoa, chữ Hán mà ra, theo như khá nhiều ngộ nhận của các nhà biên khảo Ðông Tây từ trước đến nay.
Ông tốt nghiệp y khoa tại Sài Gòn năm 1958, hành nghề bác sĩ tại Việt Nam trước 1975 và tại Hoa Kỳ cho đến năm 1997. Ông từng cộng tác với cố học giả Ðào Ðăng Vỹ trong việc soạn Pháp Việt Ðại Từ Ðiển, Pháp Việt Tiểu Từ Ðiển, Bách Khoa Từ Ðiển, phần danh từ khoa học.


Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc

Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc
 
Trần Trung Đạo (Danlambao) -

Sau 40 năm nếu tính từ thời gian hải quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa và 56 năm kể từ khi Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, lần đầu tiên lãnh đạo CSVN chính thức phủ nhận công hàm. Bao nhiêu lần lập đi lập lại câu thần chú “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc về chủ quyền đối với Hoàng Sa” nhưng giới lãnh đạo CSVN không hề nhắc đến công hàm, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Thứ Sáu 23-5-2014, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia, trong cuộc họp báo với mục đích “làm rõ công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” đã đưa ra các lý luận để phản bác các quan điểm của Trung Cộng.
 
Điều kiện quốc tế dẫn tới công hàm Phạm Văn Đồng
 
Trước 1958, Trung Cộng không có một quan điểm rõ ràng nào về lãnh hải. Nhà văn Trung Quốc Wei Wen-han nghiên cứu về lãnh hải nhắc lại cho đến tháng Sáu 1957 Trung Cộng vẫn chưa có một xác định nào về hải phận và thềm lục địa thuộc về Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Tháng 12 năm 1957, Nam Dương tuyên bố mở rộng lãnh hải từ 3 hải lý theo truyền thống mà hầu hết các quốc gia áp dụng sang 12 hải lý và được tính từ điểm ngoài cùng của các đảo thuộc lãnh thổ Nam Dương. Vì Nam Dương là quốc gia quần đảo, nếu tính như vậy, một vùng biển rộng lớn của vùng Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều thuộc quyền kiểm soát của Nam Dương. Anh, Hòa Lan và nhiều quốc gia khác cùng lên tiếng phản đối. Trung Cộng chụp lấy thời cơ binh vực Nam Dương và ngày 4 tháng 9 năm 1958 công bố riêng một Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc (Declaration on China's Territorial Sea) với các điểm chính như mọi người đều biết: “Bề rộng của lãnh hải Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý” và “áp dụng tương tự đối với Đài Loan và các đảo chung quanh, Quần đảo Bành Hồ (Penghu), Quần đảo Trung Sa (Tungsha), Quần đảo Tây Sa (Hsisha), Quần đảo Chungsha, Quần đảo Nansha (Nam Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. 
 
Công tâm mà nói, bản tuyên bố của Trung Cộng trong thời điểm đó nhắm vào Mỹ đang bảo vệ các tàu hàng Đài Loan trong các vùng đảo Kim Môn, Mã Tổ, Bành Hồ hơn là các nước Đông Nam Á. Người soạn thảo bản tuyên bố của Trung Cộng áp dụng phương pháp tính lãnh hải của Nam Dương và có tầm nhìn Đại Hán nên đã đưa các đảo Tây Sa (Hsisha) tức Hoàng Sa và Nam Sa (Nansha) tức Trường Sa trong vùng biển Đông vào. Chính phủ Mỹ tức khắc bác bỏ bản tuyên bố của Trung Cộng và các chiến hạm Mỹ vẫn tiếp tục bảo vệ an ninh cho các tàu hàng Đài Loan trong vùng 3 hải lý của đảo Kim Môn, Bành Hồ chung quanh Đài Loan. Trung Cộng không dám bắn. Bộ quốc phòng Mỹ đã lên kế hoạch tấn công Trung Cộng bằng bom nguyên tử. Để giữ thể diện, Bành Đức Hoài tuyên bố ngưng bắn vào Kim Môn nếu tàu chiến Mỹ ngưng bảo vệ tàu hàng Đài Loan. Mỹ chẳng những không đáp lại đòi hỏi của Trung Cộng mà còn gởi Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles thăm Đài Loan để bàn kế hoạch phòng thủ Đài Loan lâu dài.
 
Hai lý do Trần Duy Hải dùng để bác bỏ công hàm Phạm Văn Đồng
 
Thứ nhất. Công hàm Phạm Văn Đồng “hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. 
 
Lý luận này không thuyết phục được ai. Không cần phải đứng về phía Trung Cộng mà chỉ một người có chút hiểu biết và dù đứng về phía Việt Nam cũng phản bác lại dễ dàng. Đưa ra lý do không đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa là một cách tự kết án mình. Bản tuyên bố của phía Trung Cộng ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Cộng và Việt Nam đáp lại bằng cách“ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. CSVN có nhiều cách để lấy lòng đàn anh Trung Cộng mà vẫn giữ được chủ quyền đất nước. Chẳng hạn, Phạm Văn Đồng chỉ nhấn mạnh đến sự ủng hộ của đảng và nhà nước CSVN đối với các chính sách của Trung Cộng trong xung đột Đài Loan mà không nhắc nhở gì đến Hoàng Sa, Trường Sa và coi như không biết đến “Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc”. May ra còn có thể cãi cọ được. Tiếc thay, lãnh đạo đảng sợ viết như vậy chưa vừa lòng đàn anh và chưa tỏ bày hết lòng dạ trung kiên, cắt cỏ ngậm vành của mình.
 
Không giống thái độ của các nước Mỹ, Anh, Hòa Lan, CSVN tự nguyện đưa cổ vào tròng. Không có một văn bản nào cho thấy Trung Cộng áp lực Việt Nam phải đồng ý với bản tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng. Không có tài liệu nào cho thấy Trung Cộng đe dọa nếu CSVN không ủng hộ sẽ đưa quân sang “dạy cho một bài học” hay cắt đứt viện trợ. Thời điểm năm 1958 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của Trung Cộng, tuy nhiên những người soạn thảo bản công bố chủ quyền biển của Trung Cộng đã biết phòng xa. CSVN thì không. Nếu sự kiện được trình lên toàn án quốc tế, không một quan tòa nào sơ đẳng đến mức đánh giá hai văn bản một cách độc lập với nhau. 
 
Phân tích để thấy, lãnh đạo CSVN trong lúc phủ nhận giá trị của công hàm Phạm Văn Đồng trước dư luận quốc tế, cũng đồng thời thừa nhận trước nhân dân Việt Nam công hàm Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước.
 
Lý do thứ hai cũng do Trần Duy Hải đưa ra “Hoàng Sa và Trường Sa cũng phù hợp với thực tế lúc đó hai quần đảo này nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản trị của Việt Nam Cộng hòa”.
 
Trong hai lý do, chỉ có lý do Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là có sức thuyết phục về mặt pháp lý cũng như gây được cảm tình của thế giới tự do. Tuyên cáo của chính phủ VNCH công bố ngày 14 tháng Hai năm 1974 xác định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như Bạch thư của Bộ Ngoại Giao VNCH đầu năm 1975 đanh thép bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng không thể công nhận những gì không thuộc lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. VNCH là một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về VNCH đã được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, lý luận VNCH có gây được cảm tình nhân loại và có thể dùng để tranh luận trong bàn hội nghị cũng chưa thắng được bởi vì VNCH không còn là một thực thể chính trị.
 
Phản bác của nhà nghiên cứu Trung Cộng 
 
Ngô Viễn Phú, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam và từng du học tại Việt Nam đã bác bỏ các luận điểm của CSVN. Ngô Viễn Phú cho rằng “Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Cộng, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Cộng, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh).”
 
Đàn anh Cộng Sản Trung Cộng công nhận đàn em CSVN là chuyện đương nhiên và thể theo lời yêu cầu của CSVN chứ không phải của VNCH. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước thay đổi theo từng thời kỳ. Singapore là một nước nhỏ nhưng mãi đến 1990 mới công nhận Trung Cộng. Liên Xô là một nước lớn nhưng Mỹ bắt chờ 16 năm sau cách mạng CS Nga mới công nhận Liên Xô. Thời điểm 1933 Nhật bắt đầu bành trướng ở phương Đông nên Mỹ cần làm dịu căng thẳng ở phương Tây, nếu không Tổng thống Franklin Roosevelt còn cô lập Liên Xô thêm nhiều năm nữa.
 
Việc “Trung Cộng, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam”cũng chỉ giá trị giữa miền Bắc CS và Trung Cộng không ảnh hưởng gì với quốc tế và không liên hệ gì đến nước thứ ba, trong trường hợp này là VNCH. Trung Cộng có quyền công nhận miền Bắc Cộng Sản và không công nhận VNCH về mặt ngoại giao nhưng vẫn phải thừa nhận VNCH là một quốc gia độc lập được quốc tế và các quốc gia tham dự hội nghị Geneva, trong đó có Trung Cộng tham dự và ký kết.
 
Trong khi phản bác Ngô Viễn Phú lại cũng dựa trên lý luận CSVN đã xâm lược VNCH và không có quyền “thừa kế” lãnh thổ của nước bị chiếm: “Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.”
 
Về mặt công pháp quốc tế cũng như cả lãnh đạo CSVN lẫn phe phản bác lý luận của CSVN đều công nhận rằng chủ nhân thật sự của Hoàng Sa vẫn là VNCH. Do đó, điều kiện tiên quyết, chọn lựa duy nhất và con đường thích hợp nhất không chỉ để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng mà mở đường cho tự do, dân chủ và thịnh vượng là tập trung vào công cuộc phục hưng VNCH.
 
Lối thoát VNCH
 
Đọc tới đây, một số độc giả có thể sẽ dừng lại vì cho người viết không tưởng, hư cấu hay chủ trương đi lại một vết xe đổ. Không. Phục hưng VNCH không phải là đi lùi vào quá khứ mà hướng tới tương lai, không phải lập lại mà thăng tiến cao hơn. VNCH không phải là vết nhăn trên trán của thế hệ cha chú đã qua mà là hành trang và ước vọng của tuổi trẻ ngày nay. Chủ nghĩa CS mới thật sự là lạc hậu và việc cáo chung của chủ nghĩa này chỉ là vấn đề thời gian. Thác nước Niagara không thể nào chảy ngược. Không phải người viết, phần đông độc giả mà ngay cả các lãnh đạo CSVN cũng không thể chối cãi sự thật đó. Chủ nghĩa CS còn kéo dài ở Á Châu cho đến hôm nay là nhờ họ biết núp bóng sau tấm bình phong chống thực dân đế quốc. Tấm bình phong do họ dựng lên đang rã mục. Năm 1954 tại miền Bắc, nhiều người thật sự tin rằng đảng CS và dân tộc Việt Nam là một, như nước với sữa, như máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói “đảng là con nòi của dân tộc”. Năm 1975, khi đối diện với miền Nam từ lối sống đến phương tiện hoàn toàn khác với những gì bộ máy tuyên truyền CS đã thêu dệt nhiều người bắt đầu nhận ra đảng đã lợi dụng máu xương của những người ngã xuống vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm chỉ để CS hóa toàn đất nước. Và hôm nay, 2014, đông đảo nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.
 
Và khi đó, thể chế nào khác sẽ thay thế chế độ CS nếu không phải là thể chế cộng hòa? Thực tế chính trị rất hiển nhiên đó đang là một khải hoàn ca tại hầu hết các quốc gia cựu Cộng Sản như Cộng hòa Czech, Cộng hòa Hungary, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Lithuania, Cộng hòa Estonia, Cộng hòa Mông Cổ v.v... Tiến trình dân chủ hóa diễn ra nhanh hay chậm tùy theo điều kiện của mỗi nước nhưng là hướng phát triển của văn minh nhân loại trong thời đại này.
 
Giá trị của VNCH
 
Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.
 
Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.
 
Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.
 
Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm.
 
Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la.
 
Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc.
 
Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.
 
Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”
 
Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.
 
Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 39 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc.
 
Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước.
 
Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam.
 
Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc.
 
Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng.
 
Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa.
 
Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.
 
Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.
 
Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.
 
Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.
 

Kịch bản kiện Trung Cộng

Kịch bản kiện Trung Cộng
Lữ Giang

Khi Trung Cộng chuẩn bị đưa giàn khoan HD-918 vào Biển Đông, trong vùng đặc khu kinh tế của Việt Nam, nhà cầm quyền CSVN biết trước rằng nhân cơ hội này sẽ có hai chiến dịch được phát động để làm cho tình hình chính trị trong nước xáo trộn và có thể đưa tới biến loạn, đó là chiến dịch hô hào biểu tình chống Trung Cộng và chiến dịch đòi khởi kiện Trung Cộng ra trước tòa án quốc tế. Để đối phó với hai chiến dịch này, nhà cầm quyền cho đã soạn sẵn những kịch bản để vô hiệu hóa. Đây cũng chỉ là trò tháu cáy trong khi đánh bài xì phé.
Trong bài “Qua một cuộc chiến có bài bản” phổ biến hôm 22.5.2014, chúng tôi đã đề cập đến “kịch bản biểu tình bạo động chống Trung Cộng”, được trình diễn khá xuất sắc trong các ngày 12, 13 và 14.5.2014 để tạo lý do ban hành quyết định cấm biểu tình và vô hiệu hóa các thành phần bị coi là nguy hiểm. Các đài phát thanh Việt ngữ quốc tế nổi tiếng như BBC, RFA và RFI đểu bị cho vô cơ. Hôm nay chúng tôi sẽ bàn đến “kịch bản kiện Trung Cộng ra trước tòa án quốc tế” với mục tiêu vô hiệu hóa chiến dịch đòi hỏi phải đương đầu trực diện với Trung Cộng.
Chúng tôi gọi là “kịch bản” bởi vì nó chỉ được trình diễn để vô hiệu hóa những sự kích động gây rối loạn theo kiểu Ai Cập hay Thái Lan trước đây, chứ không phải là một giải pháp có thể giúp ngăn chận “chiến lược bắp cải” mà Trung Quốc đang thực hiện để từng bước lấn chiếm toàn Biển Đông và Biển Hoa Đông. Chiến lược này vượt lên trên mọi luật lệ quốc tế và mọi quyền lực, kể cả thẩm quyền của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ nói qua nếu kiện Trung Cộng sẽ gặp những khó khăn nào và trước những khó khăn, liệu Việt Nam có tách ra xa Trung Cộng và đứng gần Mỹ hơn không? Vấn đề “chiến lược bắp cải” mà người Mỹ dịch là "cabbage strategy”, hay rõ hơn, "cabbage encirclement strategy” (chiến lược bao vây bắp cải) sẽ được nói trong một bài khác. Đây là một vấn đề rất quan trọng, nều không nắm vững, khó biết được Trung Cộng đang làm gì trên Biển Đông.
KỊCH BẢN KIỆN Trung Cộng
Hôm 22.5.2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói với hãng thông tấn Reuters rằng chính phủ Việt Nam đang cân nhắc “nhiều biện pháp phòng vệ” đối với Trung Cộng, bao gồm các hành động pháp lý. Ngay sau đó, phát ngôn viên của Tòa Bạch Ốc Patrick Ventrell tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc Việt Nam xử dụng biện pháp pháp lý với Trung Cộng để giải quyết căng thẳng sau khi Trung Cộng hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển Việt Nam.
Để yểm trợ cho lời tuyên bố của Thủ Tướng Dũng, các báo trong nước, nhất là hai tờ Người Lao Động và Tuổi Trẻ, đã mở chiến dịch tuyên truyền rằng chính quyền đang chuẩn bị đưa Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Cũng trong ngày 22.5.2014, dưới đầu đề “Kiện Trung Cộng: Chính phủ kiên quyết, toàn dân ủng hộ!”, báo Người Lao Động nhắc lại lời của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam không đánh đổi chủ quyền lấy thứ hòa bình, hữu nghị lệ thuộc; Việt Nam xem xét kiện Trung Cộng...” Báo này cho rằng bản tin của hãng Reuter nói trên “đang tạo ra sự ủng hộ mãnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước”.
Báo Tuổi Trẻ ngày 25.5.2014, đăng bài “Phải kiện Trung Cộng” của Tiến Sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban biên giới Chính phủ. Ông đã tóm lược nội dung đơn kiện và thủ tục kiện Trung Cộng của Philippines và kêu gọi: “Tranh thủ sự giúp đỡ của các luật sư người nước ngoài, để cùng xúc tiến hoàn thiện quá trình kiện Trung Cộng ra các cơ quan tài phán quốc tế theo đúng thủ tục và nội dung mà Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 đã quy định.”
Trên báo Tuổi Trẻ ngày 26.5.2014, Tiến Sĩ Nguyễn Vân Nam cho rằng kiện Trung Cộng "chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ". Ông nói Trung Cộng có thể bất chấp phán quyết của tòa, cậy thế nước lớn, cứ làm theo ý chí của mình. Nhưng theo ông, chính đơn kiện của Việt Nam “sẽ đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược.” Đây chỉ là một lối “cường điệu”.
Ở hải ngoại, ngày 26.6.2014, TS Lê Trung Tĩnh, được nói là thành viên Nhóm Nghiên cứu Biển Đông tại Pháp, cho biết “Thư yêu cầu lãnh đạo Việt Nam đưa Trung Cộng ra tòa” đề ngày 14.5.2014 do ông soạn thảo đã thu được gần 4.000 chữ ký, và đã được gửi đến các nhà lãnh đạo Việt Nam. Hai đài phát thanh ở Mỹ và Pháp là RFA và RFI đã yểm trợ cho yêu cầu này.
Báo Đời Sống Pháp Luât cho biết trong phiên họp ngày 29.5.2014, Thủ Tướng chỉ đạo 3 giải pháp bảo vệ chủ quyền đó là trên nội địa, trên mặt trận ngoại giao và đấu tranh pháp lý. Sau đó, ông Nguyễn Văn Nên, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nói với báo chí: “Chúng ta chuẩn bị hồ sơ pháp lý về biển Đông từ lâu rồi. Nhưng lúc nào thực hiện nó, và thực hiện thế nào phải rất cận trọng. Lãnh đạo ta đang cân nhắc, tính toán, chọn thời điểm, thực sự cần thiết mới tính tới giải pháp này”.
Nhìn chung, cả Mỹ lẫn người Việt đấu tranh đang đẩy cây cho CSVN đứng vào thế đối đầu với Trung Cộng, nhưng CSVN là một con cáo già, rất khó đẩy vào bẩy.
KIỆN SẼ THẮNG HAY THUA?
Theo nguyên tắc, tòa xử theo hiện trạng hồ sơ. Hiện nay hồ sơ chưa có, làm sao có thể nói ai thắng ai thua được? Nhưng có một số vấn đề căn bản sau đây cần được lưu ý.
1.- Định chế “Res nullius” (vật vô chủ) trong luật cổ La Mã không còn xài được.
Luật La Mã được ban hành vào thế kỷ thứ 6 có quy định rằng, đối với các đảo nổi lên trên biển, tiếng Latin gọi là “Insula in mara nata”, nguyên tắc “Res nullius fit primi occupantis” được áp dụng, tức quyền sở hữu thuộc về người chiếm trước.
Từ năm 1974 đến nay, cả Trung Cộng lẫn Việt Nam đã dùng định chế này để xác định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa và Trường Sa. Đa số các “chuyên gia Biển Đông tự xưng” của người Việt hải ngoại đã bám rất chặc định chế này, đưa ra nhiều tài liệu chứng minh Việt Nam đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa trước, nên hai quần đảo này thuộc về Việt Nam.
Nhưng định chế này đã bị hủy bỏ từ lâu vì nó đưa tới các cuộc tranh luận không thể giải quyết được. Một thí dụ cụ thế: Việt Nam tuyên bố đã chiếm Hoàng Sa từ thời vua Tự Đức (1848 – 1883). Nhưng trong cuộc hội thảo tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington trong hai ngày 20 và 21.6.2011, ông Tô Hảo đại diện của Trung Cộng đã đưa ra một thùng tài liệu chứng minh Trung Quốc đã làm chủ Biển Đông từ 2000 năm về trước, như vậy Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng.
Ông vừa nói xong thì ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên chận họng liền: "Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền". Còn bà Bà Caitlyn L. Antrim, Phó Đại Diện Hoa Kỳ trong Hội Đồng LHQ về Luật Biển đã bồu tiếp: “Nếu Trung Cộng có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu.” Ông ta câm họng.
Chúng tôi mong rằng các “chuyên gia Biển Đông tự xưng” ở hải ngoại cũng như trong nước đừng đem “sử liệu” ra đọc lãm nhảm như nhiều năm qua nữa mà phải nghiên cứu quốc tế công pháp để biết rõ muốn chứng minh chủ quyền về các đảo trên biển cần phải có những yếu tố nào và đi tìm các tài liệu cần có để hỗ trợ cho các yếu tố đó.
2.- Tài liệu cần có để  chứng minh chủ quyền
Phải công nhận rằng Việt Nam đã quan tâm nhiều đến việc chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hà Nội đã cho nhiều chuyên viên đi Mỹ và đi Pháp học và nghiên cứu về quốc tế công pháp, nhất là về luật biển, nên họ đã có đủ chuyên viên để phụ trách công việc này. Việt Nam cũng đã mời một số chuyên gia Pháp và Mỹ làm cố vấn về vấn đề biên giới trên bộ cũng như trên biển. Các tài liệu liên quan đến biên giới trên bộ và trên biển được lưu trữ trong văn khố Pháp đều đã được sao chép lại. Các hiệp ước quốc tế, án lệ quốc tế, tục lệ và học lý về chủ quyền trên biển cũng đã được thu thập và nghiên cứu.
Đọc các bài viết trên website ngiencuubiendong.vn ở trong nước, chúng ta thấy các chuyên gia của Việt Nam không còn xử dụng định chế “Res nullius” (vật vô chủ) trong luật La Mã ngày xưa nữa mà xử dụng định ước Berlin 1885, các án lệ quốc tế giải quyết các vụ tranh chấp về các đảo trên biển như các vụ tranh tụng về đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous, v.v. Các tục lệ quốc tế và các học lý mới về chủ quyền các đảo trên biển cũng đã được sưu tập khá đầy đủ.
Điều đáng buồn là các “chuyên gia Biển Đông tự xưng” ở hải ngoại vẫn còn bám chặt định chế “Res nullius” mỗi khi nói về Biển Đông. Họ gần như không biết gì đến định ước Berlin và các án lệ quan trọng đã nêu ra trên. Họ tưởng tòa án quốc tế cũng gióng như các cuộc hội thảo trong cộng đồng người Việt, muốn nói gì thì nói.
CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG: MỘT VẤN NẠN
Nói thì Hà Nội buồn, nhưng các tài liệu cho thấy năm 1958, để có tài nguyên đủ đánh chiếm miền Nam, Hà Nội đã phải bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Do đó, năm 1974, khi Hoa Kỳ vừa rút khỏi miền Nam, Trung Cộng đã vội đem quân chiếm Hoàng Sa để xiết nợ. Chúng tôi đã viết hai bài “Trở lại chuyện bán đất” (15.7.2011) và “Công hàm Phạm Văn Đồng” (2.8.2011) để nói về vấn đề này.
Trong hai bài nói trên, chúng tôi đã bàn về giá trị pháp lý của Công Hàm ngày 14.9.1958. Lúc đầu chúng tôi cho rằng công hàm này không có giá trị pháp lý vì lúc đó hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về miền Nam, và lời tuyên bố của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không hề được quốc hội phê chuẩn. Nhưng sau khi nghiên cứu lại các nguyên tắc của quốc tế công pháp, chúng tôi nhận thấy Trung Cộng có thể coi công hàm đó như một lời hứa bán, và dựa vào học thuyết “promissory estoppel” (sự ràng buộc của lời hứa) trong Common Law của hệ thống Anh – Mỹ hay nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” (hứa bán có giá trị như bán) trong Roman Law, để coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường đã được chuyển nhượng cho họ một cách hợp pháp.
Sự tiên đoán đó không sai. Hôm 20.5.2015, ông Lưu Hồng Dương, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Cộng ở Indonesia đã viết một bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post xác định rằng Tây Sa (Hoàng Sa) và Trường Sa là “lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”. Ông cáo buộc “Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc “estoppel” khi thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Cộng”. Do đó, nếu kiện Trung Cộng, ngoài việc chứng minh về các yêu tố chiếm hữu công khai, hòa bình và liên tục, Việt Nam còn phải đối phó với Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 nữa.
Từ những sự kiện trên, chúng tôi tin rằng kịch bản kiện Trung Cộng sẽ ngừng ở đây. Không thể cãi chày cãi cối hay dùng nón cối để đối phó được. Phải đi tìm các các định chế, các nguyên tắc và các án lệ trong quốc tế công pháp mới có thể nói chuyện được.
VIỆT NAM SẼ QUAY VỀ PHÍA MỸ?
Một câu hỏi được đặt ra: Trước những khó khăn với Trung Cộng và những ve vãn của Mỹ, liệu rồi Đảng CSVN có tách xa Trung Cộng và liên kết với Mỹ không? Câu trả lời là KHÔNG.
Trong cuốn “Asia’s Caudron – The South China Sea and the End of a Stable Pacific” (Chảo dầu tại Châu Á – Biển Đông và sự kết thúc của một Thái Bình Dương ổn định) mới xuất bản đầu năm 2014, Robert D. Kaplan, người đã từng tham gia vào Hội Đồng Chính Sách Quốc Phòng của Tòa Bạch Ốc, đã phân tích khá tường tận về cái gọi là “Định mệnh Việt Nam”. Ông viết:
“Thực tế là, không có quốc gia nào bị đe dọa bởi sự lớn mạnh của Trung Cộng bằng Việt Nam. Hãy nhìn việc Việt Nam tiếp cận ASEAN. Dĩ nhiên là Việt Nam muốn ASEAN mạnh hơn, để làm đối trọng với Trung Cộng, họ đã thực tế, họ nói với tôi như vậy…”
Ông Nguyễn Tâm Chiến, một cựu Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam, đã nói với ông rằng “nước xa không cứu được lửa gần”, nên Việt Nam phải nhẫn nhục chấp nhận việc tàn phá môi trường do Trung Cộng khai thác quặng bauxit tại vùng Tây Nguyên… Còn ông Ngô Quang Xuân, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam đã nhắc lại sự kiện Nixon bán miền Nam cho Trung Cộng năm 1972 và thất vọng nói: “Điều đó có thể lặp lại.”
Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, kể cả kiện Trung Cộng, “chiến lược bắp cải” của Trung Cộng cũng sẽ được tiếp tục tiến hành. Không chỉ Việt Nam, mà các nước trong Biển Đông và Biển Hoa Đông đều phải đối phó. Trung Cộng sẽ không tấn công Việt Nam mà giữ Việt Nam như một "tiền đồn" của Trung Cộng. Hoa Kỳ đang đứng ở đâu?
Ngày 29.5.2014
Lữ Giang

Những bài học cho kẻ xâm lược và bọn bán nước

Những bài học cho kẻ xâm lược và bọn bán nước

Bài học cho Putin
 
Sau khi chiếm Crimea dễ dàng, Putin xúi dân miền Đông nổi dậy, làm náo loạn và có cớ để tấn công Ukraine. Cách đây mấy ngày, thành phố cảng Odessa, một nơi từng lưu dấu bao kỷ niệm của nhiều trí thức Việt Nam, chìm trong khói lửa. Hơn 40 người chết, trực thăng của Ukraine bị bắn rơi. Mối quan hệ anh em Nga-Ukraine đã thành thù hận, không thể một sớm một chiều có thể hàn gắn.
Ukraine tỏ ra không sợ đối đầu về quân sự, điều 40 ngàn quân áp sát miền Đông, hàng trăm xe tăng tấn công phe thân Nga. Nghiêng hẳn về phương Tây, Kiev không cần đi dây có từ thời Yanukovych, chấm hết câu chuyện tình bạn láng giềng, như Georgia đã đoạn tuyệt với Nga.
Với kiểu lạt mềm buộc chặt, phương Tây và Mỹ dùng đòn kinh tế bao vây Nga, giải quyết vấn đề dầu hỏa và khí đốt trong dài hạn sẽ làm Nga mất một nguồn ngoại tệ chiếm tới 80% GDP.
Giới làm ăn Nga dựng nên đế chế Putin đều dây mơ rễ má với phương Tây không ít thì nhiều. Paris, London, New York, DC đều có dấu vết các tỷ phú Nga. Các đòn trừng phạt, cấm vận kinh tế sẽ làm nhóm oligarchs (giầu có) bừng tỉnh.
Putin thừa hiểu, lấy Crimea là chuyện đã rồi, nhưng mang quân vào miền Đông Ukraine là câu chuyện lớn hơn nhiều. Tấn công xâm lược rất dễ, giữ mới khó. Sự lụn bại quốc gia thường bắt đầu bằng cuộc chiến không chính nghĩa.
Tương quan lực lượng Ukraine và Nga. Ảnh: WP

Phương Tây muốn cho Nga tàn phế, tiến tới Regime Change – thay đổi chính quyền, có nhiều cách. Dân chủ từ từ, các cuộc cách mạng mầu, nổi dậy từ đường phố. Còn cách khác, đó là tạo ra đối đầu. Phương Tây chỉ đợi Nga khai mào cuộc chiến Ukraine. Ai cũng biết, dính vào chiến tranh, Nga sẽ hết đường làm ăn.
Có lẽ vì thế, vào phút chót, trước cuộc trưng cầu dân ý của phe thân Nga dự định vào ngày 11-5 tại miền Đông và Nam Ukraine, sau cuộc gặp với ông Didier Burkhalter, tổng thống Thụy Sĩ và hiện là chủ tịch Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) ngày 6-5, Putin bỗng ra lệnh … bỏ cuộc.
Putin còn nói thêm, cuộc bầu cử tổng thống Ukraine vào ngày 25 tháng Năm là “một bước đi đúng hướng”, dù trước đó một ngày Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lavrov khăng khăng, cuộc bầu cử này là bất hợp lệ.
Dường như Putin đã xuống giọng vì ông còn thông báo, quân Nga đã không còn ở sát biên giới với Ukraine. Putin có đáng tin hay không là một câu chuyện khác, nhưng ít nhất trong thời điểm này, ông ta hiểu, nước Nga đừng đi quá xa, vượt vạch chỉ đỏ thì đế chế Nga sẽ trên đường diệt vong như CCCP.
 
Bài học cho Tập Cận Bình
 
Trong lúc Ukraine rối ren, sắp xảy ra chiến tranh với Nga, Mỹ và phương Tây bận đối phó khắp nơi, thì Trung Cộng ra tay ở biển Đông. Cho giàn khoan khủng di động, giá gần 1tỷ đô la, đóng tại địa điểm cách đảo Lý Sơn 221km của Việt Nam. Đây là vị trí nằm sâu trong EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) của Việt Nam.
Kèm theo là 80 tầu chiến, tầu hộ tống để bảo vệ giàn khoan. Phía Trung Cộng còn ra lệnh đâm tầu cảnh sát biển Việt Nam, làm hư hại và đã có 4 cảnh sát biển bị thương.
Họp báo quốc tế tại HN. Ảnh: VNN

Tình hình căng thẳng tới mức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã lên tiếng với người đồng nhiệm Bắc Kinh bằng một thông điệp rất mạnh mẽ “” Việt Nam không thể chấp nhận và kiên quyết phản đối việc làm này của Trung Cộng; yêu cầu Trung Cộng rút hết giàn khoan HD-981 và các tàu hộ tống ra khỏi khu vực này và cùng đàm phán để xử lý những bất đồng xung quanh vấn đề này. Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình”
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam chưa có đồng minh phương Tây như Ukraine, nhưng sự lên tiếng đã giúp cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ thái độ hung hăng và ý đồ xâm lược của Trung Cộng.
Cảnh sát biển Việt Nam và hải quân tỏ ý không ngại va chạm cũng là một tín hiệu mạnh mẽ trên biển. Báo chí truyền thông cần những bài viết rõ nét hơn. Người Việt cũng như người Ukraine sẵn sàng làm bạn với hàng xóm tốt, nhưng không thể tin 16 chữ vàng của kẻ luôn tìm cách xâm lăng.
Tập Cận Bình cần hiểu rằng, trong cuộc chiến không cân sức giữa Việt Nam và Trung Cộng, những thắng lợi chiến thuật có thể có trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn, Trung Cộng sẽ chẳng được gì ngoài sự cô lập như Nga đang bị do sự kiện Ukraine. Một phát súng nổ ra, Trung Cộng sẽ mất hoàn toàn Việt Nam như Nga đã mất Georgia và gần đây là Ukraine.
Mỹ và phương Tây sẽ là kẻ tọa sơn quan hổ đấu. Dính vào cuộc chiến sẽ hao người tốn của, Trung Cộng sẽ tự suy yếu mà Mỹ chẳng cần bao vây.
Có vẻ Putin đã lùi bước, liệu Tập Cận Bình có học được bài học sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phát triển quốc gia bền vững hay không.
 
Bài học của Yanukovych cho những kẻ phản bội quyền lợi quốc gia
 
Có lẽ những ngày này, Yanukovych đọc tin về Ukraine với niềm hối hận khôn lường. Crimea đã về tay Nga không một tiếng súng, và miền Đông Ukraine khói lửa và chiến tranh.
Vùng Donetsk nóng bỏng, nơi ông sinh ra, lớn lên là một kẻ cắp và tội phạm, bị kết án, nhưng sau vẫn lên được tới chức tổng thống Ukraine với biệt thự xa hoa kiểu Mezhygirrya rộng gần 200 hecta mà ngay cả những vua chúa trên thế giới cũng phải nằm mơ.
Biến động chính trị ở Kiev, ông chạy sang cầu cứu Putin, một người luôn coi ông là kẻ tôi đòi, thật nhục nhã cho một lãnh đạo tham lam và hèn yếu. Putin ra tay, Ukraine mất luôn Crimea, lại là điều Yanukovych không hề muốn. Và chắc ông cũng không muốn Putin nuốt Ukraine như ông từng phát biểu gần đây
Người Nga coi ông là kẻ phản bội nên khó chứa chấp vì đã phản bội lại tổ quốc thì sao còn đáng tin. Ukraine cũng coi Yanukovych là kẻ bán rẻ tổ quốc. Phương Tây không có chỗ náu nương cho một kẻ cắp từ thuở ấu thơ cho đến thời tổng thống. Khi đang viết entry này, có tin tòa án Thụy Sỹ đã đóng băng khối tài sản giá 193 triệu đô la của ông.
Thưở đương nhiệm, Yanukovych có thể xây dựng Ukraine thành một quốc gia hùng mạnh án ngữ giữa Đông và Tây ở châu Âu. Rất đáng tiếc, vì lợi lộc của bản thân, gia đình và nhóm lợi ích, y đã bán mình cho quỉ sứ, đưa Ukraine thành kẻ thù của Nga, đang có cơ rơi vào nội chiến.
Có lẽ mỗi sáng thức dậy ở xứ người, Yanukovych luôn tự hỏi, hôm nay có phải là ngày cuối cùng của kẻ ăn cắp, tham nhũng và bán nước như ông.
Những kẻ Lê Chiêu Thống thời nay ở xứ Việt có đủ trí thông minh để học bài Yanukovych đang không chốn nương than.
 
Vĩ thanh
Xin lấy mấy dòng status của anh Huy Đức  trên facebook để kết thúc bài viết “Hy vọng, vụ giàn khoan 981 sẽ thức tỉnh Đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ sớm quay lại bờ nhân dân để đuổi “quân bành trướng Bắc Kinh” mà quan trọng hơn là kiến tạo cho Việt Nam một con đường mới. Một con đường có nhiều đối tác, bạn bè.” 
Ukraine đã và đang làm điều đó.
HM. 7-5-2014