Monday, August 25, 2014

Nỗi buồn mùa thu

Nỗi buồn mùa thu

08222014-diemblog-kh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
043_dpa-pa_45782660.jpg
Một trong những quán rượu lâu đời nhất ở Sài Gòn nằm trên đường Thi Sách, quận 1.
AFP photo
     
Ông Nguyễn Trung, cựu Đại sứ Việt nam tại Thái lan nhận định tình hình đất nước hiện nay:
Sự thật là đất nước đang lâm nguy chưa từng có – trước hết từ bên trong, hoạ bành trướng tôi không sợ bằng. Đụng vào sửa chữa bất cứ vấn đề gì cho đến nơi đến chốn cũng có thể dẫn đến sụp đổ tất cả, còn hơn cả kiếm củi ba năm thiêu một giờ!.. Hàng thập kỷ nay sự tha hoá của quyền lực đã lên tới đỉnh điểm: Sẵn sàng mất tất cả nhưng giữ đến cùng chế độ! Nhưng nếu duy trì nguyên trạng, thì èo uột và không thể tồn tại bên cạnh Trung Quốc. Cái ngu dốt và cái sợ đang làm phức tạp thêm tình trạng tiến thoái lưỡng nan này.
Tháng Tám mùa thu cách mạng
Điều trớ trêu là vị cựu Đại sứ nêu vấn đề sự tha hóa của quyền lực vào thời điểm mang tính tinh thần rất quan trọng của cuộc cách mạng đã hình thành thứ quyền lực ấy. Đó là khoảng thời gian mùa thu tháng tám, tháng chín, vẫn được những người cầm quyền ca tụng hơn ba phần tư thế kỷ nay. Họ gọi đó là Mùa thu cách mạng, cuộc cách mạng được dẫn dắt bởi ý thức hệ cộng sản năm 1945.
Trong bài viết mang tựa đề Chúng ta lựa chọn gì cho Tổ quốc, ông Nguyễn Trung thử đề ra những giải pháp để Việt Nam có thể thoát khỏi sự đe dọa của cường quốc phương Bắc cùng ý thức hệ là Trung Quốc. Ông viết rằng hiện nay Việt Nam và nước Mỹ cựu thù lại cùng có những lợi ích, và điều này có thể làm cho Việt Nam và Hoa Kỳ đứng cùng một liên minh để bảo vệ sự sống còn của Việt nam.
Chuyện liên minh của ông Nguyễn Trung cũng là suy nghĩ của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong bài viết của ông mang tên Có nên đặt vấn đề Thoát Trung? Trong đó ông nói rằng thay vì suy nghĩ tìm cách Thoát Trung, tức là thoát khỏi Trung Quốc thì nên tìm cách thân phương Tây, với một liên minh Việt Mỹ.
Bài viết của ông Nguyễn Trung cũng nói đến những bức bách, lấn át mà Bắc Kinh thực hiện đối với Việt Nam hiện nay.
Liên quan đến câu chuyện lấn át này của đồng chí phương Bắc, blogger Cầu Nhật Tân kể lại chuyện xưa từ khi cách mạng cộng sản mới thành công trong bài viết Hơn nữa thế kỷ nhức nhối nơi địa đầu tổ quốc. Trong bài này tác giả kể rằng ngay những năm đầu tiên khi hai đảng cộng sản bắt đầu cai trị hai quốc gia thì đảng cộng sản Trung Quốc lúc nào cũng lấn lướt cả. Cầu Nhật Tân minh họa bằng những ví dụ sống động tại tỉnh Móng Cái trong những năm 60, khi các “đồng chí” Trung Quốc sang giúp miền Bắc Việt Nam cộng sản. Họ đã cho treo hình ông Mao Trạch Đông, kỷ niệm quốc khánh Trung Quốc, thay vì Việt Nam, và kết quả cuối cùng là nhiều phần đất Việt Nam đã thuộc về Trung Quốc.
Đó là chuyện những người cộng sản Việt Nam đối phó với các đồng chí phương Bắc. Còn trong nước thì từ khi lên nắm quyền, họ đã thực hiện một chế độ toàn trị mà điểm dựa quan trọng cho chế độ đó chính là lực lượng công an. Trong những ngày tháng tám này, nhà báo Đoan Trang nhắc lại một bài cô viết năm xưa mang tên Trời mùa thu Việt nam buồn lắm em ơi! Mùa thu cách mạng đã biết thành một mùa thu buồn cho những người dân Hà nội như Đoan Trang khi thấy nó không còn là của mình nữa, và cô nhắc lại ý thơ của Trần Dần rằng Hà Nội chỉ còn mưa sa trên nền cờ đỏ.
Hà Nội của Đoan Trang và bạn bè bị mất đi nhường cho bóng dáng các viên công an, ngự trị phố phường Hà Nội từ một viên sĩ quan công an dữ dằn hồi những năm bao cấp ra oai với một cô bé làm đổ nước xuống sàn cầu thang, cho đến những viên công an dữ dằn không kém khi đất nước đã định hướng kinh tế thị trường, dồn đuổi những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược về đồn công an.
Chế độ công an trị đó lại tỏ ra bất lực trước những tệ nạn xã hội, tệ nạn tham nhũng ngày nay.
Nhưng dường như vấn nạn đó không được những người điều hành đất nước hôm nay quân tâm đầy đủ. Trong một thông điệp gửi đến ngành công an Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại chú tâm đến những lực lượng chính trị đối lập ngày càng có vẻ được tập hợp lại ở Việt Nam.
Bình luận về việc này, luật sư Nguyễn Văn Đài từ Hà Nội nói;
Hằng năm cứ vào dịp ngày 19 tháng 8- ngày truyền thống của ngành công an thì ông Nguyễn Tấn Dũng luôn luôn đến tham dự và có bài phát biểu ở đó. Trong suốt nhiều năm qua, tôi luôn theo dõi những phát biểu của ông ấy thì phát biểu năm nay với những năm trước đây hoàn toàn giống hệt nhau. Thông điệp là không chấp nhận cho những tổ chức chính trị đối lập được hình thành, phá hoại đất nước. Đó là thông điệp chung thôi. Nhưng đáng lẽ năm nay không nên lập lại thông điệp cũ của những năm trước bởi vì nay có những thay đổi trong tình hình; nhưng thật ngạc nhiên khi ông ta cũng lặp lại thông điệp như vậy.
 
Tháng Bảy âm lịch mưa ngâu
 
9fc6919b-8c9a-4ff5-899c-a5d02d009d8d-400.jpg
Giao thông trên đường phố Sài Gòn tháng 5/2014. AFP photo

Tháng tám mùa thu cách mạng của những người cộng sản lại cũng là tháng bảy âm lịch mưa ngâu trong truyền thống Việt Nam, thời gian mà người ta cầu mong cho những oan hồn uổng tử siêu thoát. Tháng bảy mưa ngâu năm nay người ta chứng kiến những tiếc nuối của người dân Sài Gòn và Hà Nội khi những hàng cây cổ thụ bị đốn hạ nhường chổ cho những dự án phát triển đường sá nhà cửa. Mà đồng thời người ta cũng chứng kiến một chuyện bi hài khi thành ủy Hà nội định tổ chức sinh nhật hai ngàn năm tuổi cho…Hai Bà Trưng, một cái ngày mang tính thần thoại.
Một người dân Sài gòn gốc Huế là đạo diễn Song Chi, nhìn cảnh những hàng cây và những ngôi nhà xưa bị xóa bỏ mà viết bài Sài gòn qua bao mùa phai nhạt. Bà mượn ý nhà thơ Vũ Đình Liên để kết thúc như một khúc bi ca về Sài gòn ngày nay:
Sài gòn ơi hồn ở đâu bây giờ!
Một người Sài gòn khác là Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, vốn gốc gác Tây Nam bộ và Hà nội, cũng nhìn cảnh mưa ngâu của tháng bảy mà nuối tiếc cho những di tích qua ít ỏi của Sài gòn lần lượt ra đi cho một cái gì đó nhân danh sự phát triển:
Tháng Bảy này, cũng chỉ còn vài ngày nữa sẽ qua, nhưng sự hủy hoại di sản văn hóa vật chất, tinh thần nhân danh “phát triển hiện đại” như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và nhiều nơi khác đang làm hôm nay sẽ để lại hậu quả rất lâu dài…
Cứ như vậy, sẽ không còn gì làm cầu Ô thước nối liền quá khứ và tương lai…  Tháng Bảy cứ còn mãi, những gì đã mất sẽ không bao giờ siêu thoát…
 
Làm gì cho hiện tại?
 
Trở lại với tác giả Nguyễn Trung. Ông cho rằng hiện trạng của Việt nam là khó lòng có thể đứng trong một liên minh với Hoa kỳ vì Việt nam không chia sẻ những giá trị dân chủ như Hoa kỳ, mà ngược lại lại đang thực hiện một chế độ toàn trị. Và chế độ toàn trị này tồn tại dựa trên nỗi sợ của người Việt hiện nay.
Nỗi sợ ấy cũng chính là tính chính trị hóa của xã hội Việt nam mấy mươi năm qua. Nhưng trớ trêu thay nhân danh chính trị, người Việt nam đang xa lánh những gì cần phải làm cho một xã hội tốt đẹp và đứng đắn. Trong bài viết Tôi không quan tâm đến chính trị, blogger Người Buôn Gió kết luận Đôi khi sự bàng quan chính trị, cũng là một âm mưu tiếp tay cho kẻ mạnh như vậy.
Kẻ mạnh này là ai?
Trong bài viết Người Tốt, Kẻ xấu và tên vô lại, blogger Hiệu Minh kể chuyện những trí thức trẻ dấn thân cho con đường dân chủ hóa Việt nam. Đó là kỹ sư Nguyễn Tiến Trung, luật sư Lê Công Định, kỹ sư doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức. Hiệu Minh viết rằng báo chí Việt nam đã từng nêu họ lên như những người tốt, những đầu óc suy nghĩ cho tương lai đất nước. Rồi vì thách thức quyền lực của đảng cộng sản mà họ bị biến thành những kẻ xấu. Hiệu Minh viết:
Đang là người tốt bỗng mang tiếng xấu chỉ có thể do kẻ vô lại dựng chuyện. Người ta nể trọng người tốt, không sợ kẻ ác nếu biết cách chống, nhưng ghê tởm và rất sợ kẻ vô lại. Không thể lấy lòng tốt để đối đãi kẻ vừa Bad vừa Ugly, bởi đó là tự sát.
Để tránh sự tự sát, 61 đảng viên lão thành đã ra lời kêu gọi nhà cầm hiện nay từ bỏ chế độ toàn trị. Ông Trần Đức Nguyên một trong những người đặt bút ký kiến nghị, và từng giữ vai trò thư ký cho cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt nói rằng:
Cái việc mà đưa ra yêu cầu sửa đổi chế độ toàn trị thì đã nói từ thời kiến nghị 72 rồi. Sau đó có những ý kiến đã nói rõ là đất nước phải chuyển từ chế độ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa.
Việc chuyển biến sang dân chủ một cách ôn hòa ấy cũng chính là hướng đến một xã hội Việt nam của những con người tự do. Xin mượn lời cựu đại sư Nguyễn Trung nói về những con người tự do ấy để kết thúc bài điểm blog hôm nay:
Đất nước của con người tự do như thế, sẽ là bất khả xâm phạm đối với bất kỳ kẻ thù nào. Đất nước của con người tự do như thế, sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong hàng ngũ văn minh nhân loại.

'Một bài viết toát lên nỗi sợ'

'Một bài viết toát lên nỗi sợ'


Cập nhật: 10:10 GMT - thứ sáu, 22 tháng 8, 2014
 
Nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng nói thông điệp nhân ngày 19/8 và 2/9 của Chủ tịch VN Trương Tấn Sang thể hiện 'nỗi sợ'.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
'Một bài viết toát lên nỗi sợ'
00:05:19
Thông điệp trên tờ 'Tạp chí cộng sản' nhân dịp các sự kiện 19/8 và 2/9 của Chủ tịch Nước Việt Nam mới đây là 'không rõ ràng' và 'toát lên một nỗ sợ ', theo một nhà hoạt động mạng xã hội từ trong nước.
Trao đổi với BBC hôm 21/8/2014, kỹ sư Nguyễn Lân Thắng đặt dấu hỏi không rõ ông Chủ tịch Trương Tấn Sang ngụ ý gì khi dùng cụm từ 'chúng ta'.
"Ông Trương Tấn Sang viết 'chúng ta không sợ bất cứ một thế lực nào, dù là hung bạo nhất.' Tôi tự hỏi là cái chữ 'chúng ta' này là ai? Chúng ta này là nhân dân ta, hay đảng ta hay chính quyền ta?
 "Có lẽ không tới 1% thanh niên người ta có thể đọc hết được bài này, một cái bài này nó cũng giống như một chục năm trước đây, nó là những câu từ rất sáo rỗng"
Kỹ sư Nguyễn Lân Thắng
"Câu thứ hai ông viết là 'Chúng ta chỉ sợ nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, chế độ ta...', hai câu trong bài diễn văn này của ông Trương Tấn Sang toát lên một uẩn khúc trong câu văn này...
"Đối tượng của bài viết này ông định nói cho ai, ông định nói cho những đảng viên hay cho tất cả quần chúng nhân dân?", ông Thắng nói với BBC.
'Thông điệp sáo rỗng'
Cây viết trên mạng xã hội cũng cho rằng các thông điệp chính trị 'sáo rỗng' được hiểu là 'thiếu thực chất' này sẽ không gây tác động được với người dân vốn đã 'quá chán ghét' chế độ và 'mất lòng tin' vào giới lãnh đạo, đặc biệt là giới trẻ.
"Có lẽ không tới 1% thanh niên người ta có thể đọc hết được bài này, một cái bài này nó cũng giống như một chục năm trước đây, nó là những câu từ rất sáo rỗng, cuối cùng thực hiện những điều ấy, thì các ông làm được những cái gì?
"Đất nước này ngày càng tan hoang, cứ theo dõi truyền thông báo chí thì bao nhiêu tệ nạn, bao nhiêu thứ và bức xúc của người dân, mà cuối cùng thì ngày càng tệ hại hơn, không giải quyết được cái gì cả," kỹ sư Lân Thắng nói với BBC.

Saturday, August 23, 2014

Đế quốc Tầu

Đế quốc Tầu 

 
Để chống lại âm mưu bành trướng trên Biển Đông của Trung Cộng, chỉ cần chút tỉnh táo, hầu như ai cũng nhận thấy Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất: liên minh với nhiều nước khác, trong đó có Mỹ, hơn nữa, Mỹ phải là trung tâm của khối liên minh ấy. Nhưng, cũng chỉ cần chút tỉnh táo, chúng ta không thể không phân vân: Liệu, một, Mỹ có nhiệt tình giúp Việt Nam hay không; hai, nếu nhiệt tình, liệu Mỹ có thể thắng được Trung Cộng hay không?
Việc Mỹ có nhiệt tình giúp Việt Nam hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Tuy nhiên, điều cần xác định ngay là: Mỹ không bắt buộc phải giúp Việt Nam trong trận chiến chống lại Trung Cộng ở Biển Đông. Thành thực mà nói, việc Trung Cộng công bố con đường chín khúc (hoặc con đường lưỡi bò) bao trùm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa và một phần khá lớn lãnh hải Việt Nam chỉ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam và một số quốc gia như Malaysia, Philippines và Brunei chứ không ảnh hưởng gì đến Mỹ. Nhớ, ngày 23 tháng 11 năm 2013, Trung Cộng tuyên bố lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên bầu trời biển Hoa Đông, bao trùm khu vực quần đảo Điếu Ngư/Senkaku mà họ và Nhật Bản đang tranh chấp. Nội dung của tuyên bố này là tất cả các máy bay bay ngang qua khu vực ấy đều phải thông báo và chấp hành mệnh lệnh của Trung Cộng. Ngay sau lời tuyên bố của Trung Cộng, Mỹ cho hai chiếc phản lực cơ chiến đấu bay vào khu vực được gọi là vùng nhận dạng phòng không ấy. Trung Cộng im thin thít. Rồi cả Nhật lẫn Hàn Quốc đều cho máy bay chiến đấu đến vùng đó để tập trận. Mấy tháng sau, Trung Cộng vẫn giữ thái độ im lìm. Dường như họ thấy họ đi quá xa. Một cảnh huống tương tự cũng có thể xảy ra ở Biển Đông: Trung Cộng tuyên bố gì thì tùy họ, nhưng tàu bè của các nước lớn, trong đó, có Mỹ, cứ thản nhiên qua lại.
Dù sao, đó cũng là biện pháp cuối cùng. Cách tốt nhất vẫn là ngăn chận ngay từ đầu để Trung Cộng không hợp pháp hóa con đường lưỡi bò ngang ngược ấy. Trong trường hợp này, họ cần đến sự đóng góp của Việt Nam. Dĩ nhiên, với một điều kiện: Việt Nam phải thực sự muốn và có quyết tâm bảo vệ biển và đảo của mình.
Vấn đề thứ hai phức tạp hơn: Liệu Mỹ có thể thắng được Trung Cộng trên Biển Đông?
Để trả lời câu hỏi ấy, không nên quên sức mạnh của Trung Cộng: Về phương diện kinh tế, Trung Cộng có tổng sản phẩm trong nước (GDP) lớn thứ nhì trên thế giới; và theo dự kiến của nhiều nhà kinh tế học, trong vòng một hai thập niên tới, Trung Cộng sẽ vượt qua Mỹ về phương diện này. Về quân sự, Trung Cộng là nước chi tiêu cho quốc phòng lớn hàng thứ hai, chỉ sau Mỹ. Về dân số, cứ một trong bảy người trên mặt đất là người…Tàu.
Hugh White, một chuyên gia về Trung Cộng tại Úc, cho chưa bao giờ Mỹ đối đầu với một địch thủ đáng gờm như Trung Cộng. Trong lịch sử, tính từ thập niên 1880 đến thời gian gần đây, Mỹ có bốn đối thủ chính: Chủ nghĩa dân tộc ở Đức trong Đệ nhất thế chiến, chủ nghĩa phát xít Đức trong Đệ nhị thế chiến, chủ nghĩa Cộng sản trong thời Chiến tranh lạnh, và các nhóm Hồi giáo cực đoan trong trận chiến chống khủng bố hiện nay. Trong bốn đối thủ ấy, chỉ có Liên Xô là ít nhiều có thể uy hiếp Mỹ, nhưng chỉ có thể uy hiếp về quân sự; còn về kinh tế và nhiều phương diện khác, Liên Xô đều thua xa Mỹ. Trường hợp của Trung Quốc thì khác: Kinh tế của Trung Cộng lớn hơn hẳn kinh tế của Đức và Nhật thời Chiến tranh thế giới lần thứ hai; việc quản lý kinh tế của họ cũng giỏi hơn hẳn Liên Xô thời chưa sụp đổ.
Điểm yếu lớn nhất của Trung Cộng là họ không có đồng minh. Thời Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức dù sao cũng có đồng minh (Nhật và Ý); thời Chiến tranh lạnh, Liên Xô càng có nhiều đồng minh, còn Trung Cộng hiện nay thì hầu như không có ai cả, hoặc nếu có, chỉ có một nước duy nhất: Bắc Hàn. Về phương diện này, Mỹ có ưu thế hơn hẳn. Trước, trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, Mỹ có bốn đồng minh thân cận nhất: Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Philippines và Úc. Gần đây, trước âm mưu bành trướng của Trung Cộng, khả năng Ấn Độ ngả sang Mỹ là điều rất khả thi (dù giới bình luận còn phân vân vì, một, Ấn Độ có truyền thống trung lập; và hai, họ bị phân hóa rất trầm trọng về cả phương diện sắc tộc lẫn văn hóa và chính trị).
Trung Cộng có thể khắc phục tình trạng cô đơn của họ bằng hai cách: Một, nâng cấp quyền lực mềm bằng các chính sách ngoại giao văn hóa có hiệu quả (một trong các cách ấy là mở rộng các Viện Khổng Tử ở khắp nơi); và hai, vô hiệu hóa các quốc gia có khả năng chống lại họ. Khả năng thứ nhất, về quyền lực mềm, có lẽ còn lâu lắm, may ra, Trung Cộng mới có thể thành công. Một trong những điều kiện để phát huy quyền lực mềm là dân chủ, nhưng đó lại là điều Trung Cộng không có. Khả năng thứ hai gần hiện thực hơn: mua chuộc và dùng kinh tế để gây sức ép lên các quốc gia khác, đặc biệt trong khu vực châu Á để họ đừng công khai chống lại Trung Cộng. Chính sách này rõ ràng là có hiệu quả ít nhất đối với khối ASEAN: hầu như không nước nào dám công khai chống lại, thậm chí, phê phán Trung Cộng (trừ Philippines).
Tương quan lực lượng giữa Mỹ và Trung Cộng, do đó, tuy vẫn nghiêng về phía Mỹ, nhưng Mỹ lại không có sức mạnh áp đảo để có thể tự tin chấp nhận bất cứ một sự đối đầu nào. Một số nhà bình luận chính trị cũng cho một sự đối đầu như thế vừa nguy hiểm vừa khó thắng. Một giải pháp được đề nghị: Mỹ chấp nhận vai trò của Trung Cộng với tư cách một siêu cường và đồng ý san sẻ quyền lực của Trung Cộng, ít nhất, trong khu vực Á châu, đặc biệt ở Đông Á. Một sự thỏa thuận như vậy, nếu được thực hiện, có khi kẻ bị hy sinh đầu tiên là Việt Nam. Chắc chắn Mỹ không thể bỏ Nhật, Nam Triều Tiên và Úc - là những nước đồng minh lâu đời của Mỹ: Mỹ vẫn cần những nước ấy để kiềm chế Trung Cộng.
Nêu lên khả năng trên không phải để chúng ta tuyệt vọng. Nhưng đó là một cách nhắc nhở: Việt Nam không nên ỷ y là Mỹ cần mình. Không, để có được một liên minh cần thiết với Mỹ và các nước khác, Việt Nam cần phải cố gắng hết sức. Trong chính trị thế giới thời hiện đại, nếu chúng ta không có nhiệt tình, không ai tự dưng xông vào cứu mình cả.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu?

Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu? 
 
Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới.
Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới.
Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới.
Sau 38 năm kết thúc cuộc chiến và 18 năm sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, tầm nhìn của hai kẻ cựu thù Việt, Mỹ đôi khi không nhìn chung về một hướng. Mãi đến năm 2011, trong chiều hướng của chủ thuyết “Thế kỷ Châu Á Thái Bình Dương Của Mỹ” của Ngoại trưởng Hillary Clinton, Tổng thống Obama lần đầu tiên nhìn nhận Việt Nam là một đối tác đáng tin cậy của Mỹ tại Đông Nam Á trong chiến lược Mỹ trở lại Châu Á Thái Bình Dương, nhất là Đông Nam Á.
Sau những biến đổi tồi tệ về tình hình khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông do Trung Quốc tạo nên, đe dọa tác hại đến lợi ích quốc gia của Mỹ tại khu vực này, Tổng thống Obama chủ động mời Chủ tịch Nước Việt Nam Trương Tấn Sang qua Washington để thảo luận vào ngày 25/7/2013 về tình hình khu vực Biển Đông với hy vọng nâng cao quan hệ Việt-Mỹ lên tầm đối tác toàn diện.
Theo thông cáo chung sau cuộc gặp lịch sử này, ”Tổng thống Obama và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang quyết định xác lập đối tác toàn diện trong quan hệ Mỹ-Việt.” Mối quan hệ này được thiết lập trên một số cơ chế hợp tác trong nhiều lãnh vực khác nhau, trong đó có quan hệ chính trị-ngoại giao, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, môi trường và y tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, du lịch và thể thao, kinh tế và mậu dịch, an ninh và quốc phòng, nhân quyền…
Phần nhiều những mối quan hệ này - kể cả quan hệ ngoại giao-chính trị - dễ dung hòa, vì cả hai bên Mỹ-Việt đều sẵn sàng quên đi những hệ lụy chiến tranh giữa 2 nước trong quá khứ để cùng nhau hướng đến lợi ích chung. Nhưng vì những khác biệt về điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa và kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay, những mối quan hệ về nhân quyền, an ninh-quốc phòng, và kinh tế-thương mại, nhất là vòng đàm phán về vấn đề Việt Nam gia nhập TPP, vẫn còn nhiều trở ngại và thử thách.
Từ cuộc họp thượng đỉnh Washington hôm 25/7/2013 cho đến nay, hai bên thường xuyên trao đổi về những biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện cũng như tăng cường phối hợp các tiến trình đàm phán TPP. Các viên chức cao cấp của hai bên tiếp tục điện đàm, thường xuyên đi lại giữa Hà Nội và Washington để thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện.
Ngày 14-3-2014, theo đề nghị của phía Hoa Kỳ, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã điện đàm với Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc, đại diện Tổng thống Obama, ông Denis McDonough, nhằm thúc đẩy việc kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ. Nội dung của cuộc điện đàm này cũng không có gì mới lạ, không đạt được tính đột phá. Có chăng đó là câu nói có vẻ hứa hẹn một cái gì đó từ phía Hoa Kỳ: “Hiệp hội TPP sẽ dành sự linh hoạt thỏa đáng đối với các thành viên đang phát triển, như Việt Nam…” Nhưng Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc Denis McDonough không nêu rõ ý nghĩa cụ thể của cụm từ “linh hoạt thỏa đáng” là như thế nào? Gồm có những gì? Vòng đàm phán TPP vẫn còn nhiều gai góc, không thỏa mãn được Tòa Bạch Ốc đang thật sự mong muốn vòng đàm phán này sớm chấm dứt trước cuối năm 2014.
Ngày 14/7/2014, ông Evan Medeiros, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Obama, đến Hà Nội với mục đích thúc đẩy Việt Nam về các vấn đề liên quan đến đàm phán TPP và Biển Đông. Điều đáng chú ý là sứ mệnh của ông Medeiros rất bao quát và rộng lớn: kết hợp hai vấn đề to lớn là việc Việt Nam gia nhập TPP và an ninh Biển Đông.
Trước đây Mỹ chỉ đòi Việt Nam muốn được gia nhập TPP phải có tiến bộ về nhân quyền. Bây giờ thì lại kèm theo an ninh BIển Đông. Nghĩa là muốn gia nhập TPP, ngoài điều kiện phải có tiến bộ về nhân quyền, Việt Nam phải phối hợp quân sự với Mỹ để chống trả ý đồ xâm lăng của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặc dầu không nói ra, ai cũng hiểu đó là liên minh quân sự với Mỹ. Vì vậy khi đến VN, mục đích chủ yếu của ông Medeiros là gặp Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh. Tướng Vịnh lúc nào cũng “yểm” sẵn “Chính sách Quốc phòng 3 không”, nhất là điều thứ 3: “Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào để chống lại một quốc gia khác”. Do đó ông Medeiros đã không đạt được sự hợp tác của Tướng Vịnh như Tòa Bạch Ốc mong muốn.
Tiếp theo đó là chuyến công du Hoa Kỳ của ông Phạm Quang Nghị ngày 21/7/2014, chuyến đi đánh dấu một lần nữa tầm quan trọng trong việc thúc đẩy kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Phạm Quang Nghị là Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, được xem như là người sẽ kế vị Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tương lai. Mục đích chủ yếu của chuyến công du của ông Nghị là thay đổi quan điểm của dân chúng và Quốc hội Mỹ xưa nay thường cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thiên về Trung Quốc và chống lại Mỹ.
Đây là biểu hiện cho thấy quan hệ Việt-Mỹ đang đi vào một giai đoạn mới và tích cực. Tại Mỹ ông Nghị đã tiếp xúc với các Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman, Phó cố vấn An ninh Quốc gia Tony Blinken, Chủ tịch tạm quyền Thượng viện Patrick Leahy và Thượng Nghị sĩ John McCain. Trong các cuộc tiếp xúc này, ông Phạm Quang Nghị đã thông báo về tình hình và chính sách đối ngoại của Việt Nam và khẳng định Đảng và Nhà Nước Việt Nam coi trọng và không ngừng thúc đẩy quan hệ hợp tác với Mỹ trong khuôn khổ đối tác toàn diện. Hai bên cũng đề cập đến tình hình dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Hiệu quả của chuyến công du Mỹ của ông Nghị là phần nào làm cho nhân dân và chính phủ Mỹ thấy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang dần dần rời bỏ Bắc Kinh và hướng về Washington. Nhưng dường như sự xoay chiều này của Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ để thỏa mãn Quốc hội Mỹ.
Ngày 29/7/2014, Dân biểu Cộng hòa Frank Wolf gửi một bức thư với chữ ký của 32 Dân biểu khác cho Tổng thống Obama mạnh mẽ khuyến cáo Quốc hội Mỹ không cho Việt Nam gia nhập TPP nếu Hà Nội không thay đổi đáng kể về mặt nhân quyền, cải tổ luật pháp phù hợp với luật bảo vệ lao động, và Chính phủ Hà Nội phải theo đuổi thể chế dân chủ pháp quyền.
Cũng nên chú ý, trong tháng 7 vừa rồi Quốc hội Mỹ đã thông qua hai dự luật quan trọng có lẽ cũng nhằm thúc đẩy mối quan hệ Đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Đó là Dự luật cho phép Mỹ hợp tác và giúp đỡ Việt Nam xây nhà máy hạt nhân dân sự tại Việt Nam và Dự luật giải tỏa các lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN
Đầu tháng Tám này, cố vấn cấp cao của Tổng thống Obama, Thượng Nghị sĩ Bob Corker, đã đi thăm Hà Nội và tiếp xúc với các yếu nhân Việt Nam cũng không ngoài mục đích thúc đẩy kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện và thúc đẩy tiến trình đàm phán TPP. Trao đổi với ông Bob Corker hôm 5-8, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã “kêu gọi Quốc Hội Mỹ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế, đầu tư thương mại song phương, tạo điều kiện để Việt Nam gia nhập TPP và ủng hộ một giải pháp ôn hòa cho vấn đề Biển Đông…” Đúng là ông Sang chỉ lập lại những gì ông đã phát biểu trong cuộc gặp với Tổng thống Obama tại Tòa Bach Ốc hồi năm ngoái (ngày 25/7/2013).
Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới - nghĩa là thời khoản dành ưu tiên cho Việt Nam gia nhập TPP còn rất ngắn. Phải chăng ông Corker đang chuyển thông điệp của Tòa Bạch Ốc đòi Việt Nam phải gấp rút cải thiện nhân quyền nếu không muốn bỏ mất hoàn toàn cơ hội gia nhập TPP?
Tuy nhiên, một ánh sáng vừa le lói ở cuối đường hầm TPP: Trong chuyến công du Việt Nam mới đây, Thượng Nghị sĩ John McCain đã tuyên bố hôm 8/8/2014 tại Hà Nội rằng “đã đến lúc Washington nên nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, vì Hà Nội đã có tiến bộ về nhân quyền như việc thả một số nhà bất đồng chính kiến và cởi mở hơn trong vấn đề tôn giáo”. Về phần mình Thượng Nghị sĩ Sheldon Whitehouse cho rằng việc nới lỏng sẽ xảy ra từng giai đoạn, nhưng nó có thể tiến nhanh hơn.
Ông McCain cũng hứa hẹn “Mỹ sẽ có tư duy và hành động mới trong quan hệ với Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng kết thúc vòng đàm phán TPP và làm việc với Việt Nam nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường”. Thượng Nghị sĩ McCain nói thêm: ”Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự và tăng các chuyến viếng thăm của tàu chiến đến mức mà Việt Nam cho phép, không phải bằng cách thiết lập căn cứ, điều mà chúng tôi không có ý định, mà bằng các thỏa thuận giữa hai nước…Chúng tôi cũng sẵn sàng hỗ trợ an ninh để giúp Việt Nam cải thiện khả năng nhận thức về lãnh hải và xây dựng năng lực bảo vệ chủ quyền…”(1)
Dĩ nhiên thật là lạc quan cho những ai được nghe những gì Thượng Nghị sĩ John McCain vừa nêu lên tại Hà Nội hôm 8-8-2014 về những ưu tiên mà chính phủ Mỹ dành cho VN trong tiến trình gia nhập TPP và trong việc kiện toàn và phát triển quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng đó mới chỉ là phát biểu của Thượng Nghị sĩ John McCain chưa được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua và cũng chưa đem ra đàm phán với phía Việt Nam. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay đã xoay chiều, hướng về Washington, điều đó không có nghĩa là Việt Nam sẵn sàng quay nòng súng 180 độ để đánh trả Trung Quốc nhằm bảo vệ Biển Đông.
Cho nên vấn đề liên minh quân sự với Mỹ vẫn còn là một mục tiêu khó đạt tới đối với Việt Nam, nhất là khi họ đã quyết tâm bảo vệ “Chính sách Quốc phòng 3 không” của họ. Với chính sách này, Việt Nam đã thành công giải quyết trong hòa bình những xung đột trên Biển Đông. Cụ thể là việc Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của VN sớm hơn 1 tháng trước thời hạn do Trung Quốc ấn định.
Do vậy thật khó lượng định quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay đang ở đâu.
GHI CHÚ VỀ NGUỒN
(1)- McCain Nhắc Nhở Việt Nam về Dân Chủ
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Friday, August 22, 2014

Cõi tạm
 

Rau luộc vừa xanh mát, vừa giòn ngọt

Rau luộc vừa xanh mát, vừa giòn ngọt

Để món rau luộc vừa xanh vừa ngọt bạn cũng cần có bí quyết:
Rau luộc là món ăn đơn giản nhất nhưng không phải chị em nào cũng giữ được nguyên màu cho rau sau khi luộc.
rau luộc 1

Thêm chút muối vào nước luộc sẽ giúp món rau của bạn xanh hơn.

 Muối và nước đá

Muối và  nước đá có tác dụng giữ màu xanh cho rau luộc, rau sẽ ngon, giòn và không bị nát. 

Cách thực hiện: Đun nước sôi trên lửa to, sau đó cho rau vào, thêm ít muối vào rau theo tỉ lệ 1 muỗng cà phê muối/ nửa lít nước. Khi rau chín, dùng muôi thủng vớt ra và thả vào bát nước đá. Chờ rau nguội, vớt ra và để ráo.

bí quyết cho món rau luộc 2

Để món rau luộc luôn giòn khi vớt ra bạn nên cho nhanh chúng vào bát nước đá.

Luộc vào chảo hoặc nồi rộng

Bạn nên luộc rau bằng chảo hoặc một chiếc nồi vì chúng có bề rộng  bề mặt nước nhiều nên sẽ không có tình trạng phần trên còn sống mà phần dưới đã mềm.

Thêm vài giọt dầu ăn 

Khi luộc rau, bạn có thể cho một chút dầu ăn vào nồi nước luộc. Dầu ăn sẽ phủ một lớp mỏng bên ngoài, giúp rau của bạn xanh và bóng hơn. Đồng thời, lớp dầu ăn còn có thể giúp rau xanh lâu hơn mà không bị đổi màu. Tuy nhiên nước luộc sẽ có váng mỡ, tùy theo khẩu vị của gia đình mà có thể sử dụng hay không.

Với cách này bạn có thể để rau sau nhiều giờ mà rau không bị đổi màu, nhưng nước luộc sẽ có ít mỡ, tùy theo khẩu vị gia đình để bạn lựa chọn cách luộc rau phù hợp nhé.

Vắt thêm chanh hoặc dấm

Một cách khác nữa là chị em có thể vắt vài giọt chanh, hoặc vài giọt dấm, làm như thế vừa giữ được nguyên màu của rau, vừa không làm mất hương vị ban đầu. Cách này có thể áp dụng cho súp lơ, cà rốt…

rau luộc 3

Thêm vài giọt chanh giúp món rau luộc của bạn vừa giữ được nguyên màu của rau, vừa không làm mất hương vị ban đầu.
Không luộc nhiều

Không nên cho quá nhiều rau vào chảo luộc 1 lần. Nếu rau quá nhiều, bạn có thể luộc làm nhiều lần.
 
Cho vào chiếc rổ lớn khi vớt rau

Nếu không chuẩn bị được nước đá thì khi vớt rau ra bạn nên để rau vào một chiếc rổ lớn, không nên để rau chồng lên nhau, rau sẽ lâu nguội nên dễ bị đen. 

Chú ý:
 
- Khi luộc rau, bạn cần đun nước với ngọn lửa thật lớn, để cho nước sôi thật già mới thả rau vào. Nếu bạn để nước chưa kịp sôi hoặc sôi lăn tăn mà đã vội vàng thả rau vào thì chắc chắn đến khi rau chín, màu của rau đã chuyển sang úa vàng.

- Nước phải ngập phần rau luộc, rau luộc chín tới nên vớt ra luôn, nếu không rau sẽ bị nhừ, mất màu xanh

Con sãi ở chùa có mãi quét lá đa?

Con sãi ở chùa có mãi quét lá đa?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2014-08-20
     
     In trang này    

Gia đình thủ tướng Nguyễn tấn Dũng từ trái cô Nguyễn Thanh Phượng (con gái) phu nhân thủ tướng và ông Nguyễn Thanh Nghị
Gia đình thủ tướng Nguyễn tấn Dũng từ trái cô Nguyễn Thanh Phượng (con gái), thủ tướng, phu nhân thủ tướng và ông Nguyễn Thanh Nghị
Cjourtesy TTXVA   
     
Dự án Luật Bầu Cử được đệ trình lên Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội xem xét với nội dung chưa cho phép tự vận động tranh cử ở VN hồi trung tuần tháng 8 trong khi các “con ông cháu cha” (COCC) đang được sắp xếp cho 1 cuộc “tiến cử” trở thành những nhà lãnh đạo mới.

Con ông cháu cha

Người dân có hy vọng gì với giới lãnh đạo trẻ này? Liệu rằng họ sẽ làm tốt vai trò của mình để đáp ứng mong mỏi của người dân?
Trong những ngày tháng 8 này, câu tục ngữ “con vua thì lại làm vua” được cư dân mạng cũng như dân chúng ở VN đề cập đến như một điều hiển nhiên khi đón nhận thông tin các lãnh đạo trẻ tuổi được chỉ định, bổ nhiệm vào nhiều chức vụ trong bộ máy Nhà nước và Ban soạn thảo dự án Luật Bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đề nghị không nên bổ sung quy định hình thức người ứng cử tự mình vận động tranh cử.
Trong đợt luân chuyển 19 thứ trưởng về địa phương hồi tháng 3/2014, dư luận đặc biệt chú ý đến ông Thứ trưởng Xây dựng, 38 tuổi, tên Nguyễn Thanh Nghị, được điều động về làm Phó Bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang qua một cuộc họp bất thường, tổ chức vào chiều ngày 28 tháng 3. Ông Nguyễn Thanh Nghị được quan tâm, bàn tán nhiều không phải vì những thành tích ông đạt được trong quá trình công tác ngắn ngủi, chưa đầy 1 thập kỷ, kể từ năm 2006, sau khi lấy bằng tiến sĩ tại Đại học George Washington ở Hoa Kỳ mà vì ông là con trai trưởng của Thủ tướng VN, ông Nguyễn Tấn Dũng.
Em nghĩ sống trong chế độ xã hội độc tài-độc đảng như thế này, thì chuyện “con ông cháu cha” thì không bất ngờ. Từ xưa đến nay vẫn thế, thậm chí còn hơn cả phong kiến.
Anh Khương
Dư luận cũng xôn xao về tin ông Nguyễn Bá Cảnh, 31 tuổi, được chỉ định làm ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ TP. Đà Nẵng trong tháng 8. Truyền thông trong nước đăng tải là cán bộ trẻ nhất, có bằng thạc sĩ ở nước ngoài nằm trong danh sách Ban chấp hành Đảng bộ của thành phố. Nhiều người dân trong nước mà đài RFA tiếp xúc cho biết cũng không có gì mới mẻ đối với thông tin này nhưng “hiện tượng” ông Nguyễn Bá Cảnh có lời ra tiếng vào vì không lâu trước đó, thân phụ của ông Cảnh là ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, lớn tiếng chỉ trích cán bộ đưa người thân gồm con, cháu, dâu, rể vào cơ quan Nhà nước tại buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở TP. Đà Nẵng.
Trao đổi với Hòa Ái, anh Khương, thế hệ 8X, cựu sinh viên trường Đại học Ngoại Thương, hiện đang làm việc cho 1 công ty nước ngoài ở Hà Nội, cho biết bản thân anh không có hy vọng gì khi những nhân vật trẻ tuổi-tài cao, “con ông cháu cha” hay còn gọi là “COCC” như ông Nguyễn Thanh Nghị và ông Nguyễn Bá Cảnh sẽ trở thành những nhà lãnh đạo tương lai của VN. Anh Khương nói:

Thế hệ lãnh đạo trẻ học nước ngoài

Tuy nhiên, không phải ai cũng có cái nhìn bi quan vào sự chỉ định, bổ nhiệm chức vụ cho những người thuộc diện “con ông cháu cha”, Nhà báo Lê Hải ở Đà Nẵng, một người quan tâm đến thời cuộc đất nước, chia sẻ suy nghĩ của mình:
“Anh Nguyễn Bá Cảnh thật sự là nhân vật có tài. Người cũng được đào tạo đi học ở nước ngoài. Không phải chỉ riêng trường hợp anh Nguyễn Bá Cảnh, có nhiều anh. Trong đó có nhiều anh như con ông Nguyễn Tấn Dũng, con ông Trần Đức Lương, con ông này ông kia…Tôi có nhận xét chung như vầy: hầu như những anh con cán bộ lãnh đạo cao cấp như thế thường thường được đi học ở Anh, ở Mỹ. Như vậy trình độ thực sự cũng chưa biết đến đâu nhưng các anh mà đi ra học nước ngoài thì được tiếp xúc với những kiến thức khoa học-xã hội của nước ngoài và đặc biệt được sống trong môi trường dân chủ-nhân quyền, mỗi người đều có quyền tự do hết thì ít ra trong suy nghĩ của họ cũng bị ảnh hưởng những điều đó”.
Con cán bộ lãnh đạo cao cấp như thế thường thường được đi học ở Anh, ở Mỹ... các anh mà đi ra học nước ngoài thì được tiếp xúc với những kiến thức khoa học-xã hội của nước ngoài và đặc biệt được sống trong môi trường dân chủ-nhân quyền...ít ra trong suy nghĩ của họ cũng bị ảnh hưởng những điều đó.
Nhà báo Lê Hải
Cũng có những ý kiến tán đồng với suy luận của nhà báo Lê Hải, cho rằng sự hiểu biết kiến thức và sự tiếp thu nếp sống xã hội dân chủ văn minh của các lãnh đạo trẻ thế hệ kế tiếp sẽ mang lại tương lai sáng lạng cho VN trong những ngày sắp tới. Dù biết rằng hiện trạng xã hội VN có nhiều ưu đãi thậm chí là quá mức dành cho những người thuộc diện “COCC” nhưng cũng không có gì là quá ảo tưởng khi vẫn còn đâu đó niềm tin vào những người tài ba thật sự, xuất thân trong gia đình có truyền thống chính trị, làm tốt vai trò lãnh đạo vì “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Tuy vậy, phần đông trong số 90 triệu người Việt trong nước lại tỏ ra nghi ngại tình hình đất nước sẽ ra sao một khi quyền lực do những người trẻ, có trình độ và quyền lực trong tay? Anh Khương bày tỏ:
“Có thể không thể tốt hơn. Có nghĩa cha ông họ do trình độ có hạn đưa đất nước như thế này, đến bờ vực như hiện nay. Còn họ có trình độ thì chưa chắc sẽ đưa đất nước khá hơn. Thậm chí người tài giỏi đưa vào trong cơ chế độc tài-độc đảng có thể còn nguy hiểm hơn nữa”.
Câu hỏi đặt ra nếu thế hệ lãnh đạo trẻ trong tương lai gần không làm tròn trách nhiệm và bổn phận với dân với nước theo như nghi ngại của nhiều người thì phản ứng của dân chúng sẽ ra sao? Anh Sơn, người đồng trang lứa với ông Nguyễn Thanh Nghị và ông Nguyễn Bá Cảnh, từ Sài Gòn nói là giới lãnh đạo trẻ nên khôn ngoan lấy dân làm “gốc”, không phải hô hào khẩu hiệu như hiện nay mà phải tận tụy trong vai trò lãnh đạo để đời sống của người dân được ấm no thực sự, được hưởng những quyền căn bản nhất gồm tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do bầu cử. Anh Sơn khẳng định người dân sẽ không lặng im như đã từng trong suốt 70 năm qua kể từ ngày ông Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập vào ngày mùng 2/9/1945:
“Chắc chắn họ không chịu đựng được nữa đâu. Bởi vì thế hệ này họ đã chịu đựng quá nhiều rồi. Bây giờ lòng dân đang gọi là bất mãn, căm phẫn tới đỉnh điểm. Nếu thế hệ lãnh đạo tiếp nối làm thay đổi tình hình tốt hơn thì còn chấp nhận chứ nếu tệ hại hơn thì chắc chắn là không được”.
Qua những biến chuyển trong những năm gần đây cho thấy dấu chỉ dù con vua vẫn được làm vua trong chế độ do Đảng CSVN lãnh đạo nhưng con sãi ở chùa sẽ không chịu khuất phục để cam phận mãi quét lá đa