Friday, February 10, 2012

Mỹ và lá bài tôn giáo

Mỹ và lá bài tôn giáo
 
Lữ Giang

Trong quá khứ cũng như trong hiện tại, chính quyền Mỹ đều nhận thấy rằng trong các nước chậm tiến như Việt Nam hay các quốc gia Hồi Giáo, ngoài tôn giáo ra không một lực lượng chính trị nào có thể huy động quần chúng đứng lên để tạo ra một cuộc chính biến lớn. Vì thế, tại các quốc gia này lá bài tôn giáo thường được Mỹ xử dụng.

Trong chiến tranh Việt Nam, để đạt được những mục tiêu chiến lược và chiến thuật, Hoa Kỳ đã xử dụng Phật Giáo như là một công cụ để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm và đổ quân vào miền Nam, gây ra những xáo trộn liên tục, đưa Phật Giáo và miền Nam vào những ngày đen tối.

Sau năm 1975, khi thấy một nhóm trong Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang (GHPGAQ) tách rời khỏi nhóm đi theo Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước và hình thành một tổ chức ly khai do Hoà Thượng Huyền Quang (sau đó là Hoà Thượng Quảng Độ) lãnh đạo, Hoa Kỳ đã yểm trợ và biến nhóm này thành một lực lượng đối kháng. Nhưng Cộng Sản đã áp dụng các biện pháp rất tinh vi để làm nhóm này tan rã. Mỹ đang quay qua phía Công Giáo.

Trong năm qua, tại Ai Cập, Mỹ cũng đã phải xử dụng lá bài tôn giáo để loại bỏ Tổng Thống Mubarak và một số tướng lãnh không muốn tuân lệnh Mỹ. Hậu quả của chiến thuật này cũng rất phức tạp và nghiêm trọng như ở miền Nam Việt Nam trước đây. Vậy trước khi quay lại Việt Nam để xem lá bài tôn giáo của Mỹ, chúng ta cũng cần nhìn vào Ai Cập để rút bài học kinh nghiệm.

RẬP KHUÔN PHƯƠNG THỨC VN

Ai Cập và Mỹ vốn được coi là “đồng minh” chí cốt giống VNCH trước đây. Tuy nhiên, ngày 26.1.2012, nhà cầm quyền Ai Cập đã ra lệnh cấm một số công dân Mỹ rời khỏi quốc gia này, trong đó có cả con trai của Bộ Trưởng Giao Thông Ray LaHood là Sam LaHood.

Sam LaHood là người đứng đầu Văn Phòng Ả Rập của tổ chức International Republican Institute (Viện Cộng Hoà Quốc Tế - IRI) ở Ai Cập. Tổ chức IRI là một trong 17 tổ chức phi chính phủ (NGO) đã bị cơ quan an ninh Ai Cập lục soát văn phòng ngày 29.12.2011, với lý do là để điều tra xem họ có hoạt động bất hợp pháp hay không.

Nhiều giới chức cao cấp Mỹ, kể cả Tổng Thống Barack Obama, đều đã liên lạc với các giới chức cao cấp ở Ai Cập yêu cầu cho những người này ra đi, nhưng không có kết quả.

1.- Viện Cộng Hoa Quốc Tế

IRI là một tổ chức như thế nào và đã làm những gì khiến cho các tướng lãnh Ai Cập phải có những biện pháp mạnh tay như thế?

IRI là một tổ chức phi chính phủ (NGO) được thành lập vào năm 1983 và được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ để hướng dẫn “các chương trình chính trị quốc tế” (international political programs) đôi khi được gọi là “các chương trình dân chủ hóa” (democratization programs)

Trong thực tế, đây là một tổ chức tình báo trá hình có sứ mạng gây ra các biến cố chính trị để đưa tới những thay đổi mà Mỹ muốn, như IRI đã làm ở Haiti năm 2004, Honduras năm 2009, Ba Lan, v.v.

2.- Lá bài tôn giáo

Việc IRI đã tạo ra các biến cố để đưa tới “Mùa Xuân A Rập”, chúng tôi đã trình bày nhiều lần. Tuy nhiên, tại Ai cập, các tổ chức đối kháng do Mỹ thành lập hay yểm trợ không thể huy động một số đông quần chúng để lật đổ Mubarak, Mỹ phải “cầu viện” tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo vốn bị coi là “thế lực thù địch” đối với Mỹ. Khi tổ chức này đứng ra xách động, tín đồ Hồi Giáo xuống đường tràn ngập, khiến Mubarak không thể đứng lại được.

Khi xử dụng lá bài Hồi Giáo, Mỹ cũng phải chịu những hậu quả nghiêm trọng như đã xử dụng lá bài Phật Giáo tại VNCH trước 1975. Mỹ tính sau khi lật đổ Mubarak sẽ cho các tướng lãnh Ai Cập tổ chức một bầu cử mánh mung để đưa một tướng khác ra thay Mubarak. Nhận ra âm mưu này, tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo lại hô hào dân chúng xuống đường đòi trao quyền lại cho một chính phủ dân sự. Các tướng lãnh Ai Cập đã đàn áp thẳng tay như dưới thời Mubarak. Mỹ sợ mất Ai Cập nên phải thương lượng với tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo, nhường cho họ một số lớn ghế tại quốc hội (235 ghế trong 498 ghế đại biểu). Các tướng lãnh Ai Cập đã chống lại vì sợ quyền bính của họ sẽ bị mất. Mỹ lại thúc đẩy các lực lượng quần chúng biểu tình để gây áp lực. Tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo liền tương kế tựu kế, đứng về phe Mỹ để đẩy những tay sai Mỹ ra khỏi chính quyền.

3.- Sắp có đảo chánh ở Ai Cập?

Trước tình trạng nói trên, các tướng lãnh Ai Cập đã một mặt ra lệnh đàn áp thẳng tay các cuộc biểu tình, mặt khác áp dụng các biện pháp mạnh để loại bỏ các tổ chức tình báo của Mỹ nấp dưới danh nghĩa NGO, đứng đầu là IRI.

Hôm 27.1.2012, bà Victoria Nuland, nữ phát ngôn viên của Bộ Ngoại Hoa Kỳ nói rằng việc này có thể ảnh hưởng đến số tiền quan trọng hơn $1,3 tỉ Hoa Kỳ viện trợ cho Ai Cập. Lời tuyên bố này càng làm cho các tướng lãnh Ai Cập tức giận hơn.

Bản tin của đài VOA hôm 5.2.2012 cho biết các thẩm phán điều tra đã đưa 43 người, trong số này có 19 công dân Mỹ, sang một tòa án hình sự để truy tố và xét xử vì họ bị cho là đã can dự vào những hoạt động bị cấm như là “nhận tiền tài trợ bất hợp pháp” hay “điều khiển các tổ chức mà không có giấy phép theo như đòi hỏi.”

Một phát ngôn viên tòa án cho biết trong những người bị truy tố có 5 người Serbia, 2 người Đức, 3 người Ả Rập và một số người Ai Cập. Tất cả 43 người này đều bị cấm không được rời khỏi Ai Cập. Ngày giờ xét xử chưa được ấn định.

Trong khi đó, các tướng lãnh Ai Cập loan báo sẽ cho tổ chức bầu cử Tổng Thống sớm, bắt đầu từ 10 tháng 3 sẽ nhận đơn đề cử.

Bây giờ Ai Cập đang ở giữa ngã ba đường: Nếu tổ chức bầu cử tự do, Hồi Giáo sẽ thắng và khẩu hiệu “Hồi Giáo là giải pháp” sẽ được áp dụng. Nếu tiếp tục bầu cử mánh mung, các tướng lãnh Ai Cập sẽ còn nắm được chính quyền, nhưng bạo loạn có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Trong tình trạng căng thẳng hiện tại, nhiều người tin rằng Mỹ đang chuẩn bị một cuộc đảo chánh ở Ai Cập như đã làm ở VNCH năm 1963, loại các tướng lãnh chống Mỹ và đưa tay sai của Mỹ như Nguyễn Văn Thiệu hay Trần Thiện Khiêm lên nắm chính quyền.

TRỞ LẠI VIỆT NAM

Sau khi GHPGAQ bị quốc doanh hoá năm 1981, các thành phần ly khai của giáo hội này đã quay lại chống chính quyền. Sự chống đối ngày càng dữ dội, lên đến đỉnh cao là năm 1993, sau khi Hoà Thượng Đôn Hậu viên tịch.

Sáng ngày 24.5.1993 Công An đã đến chùa Linh Mụ bắt Đại Đức Thích Trí Tựu. Tin này được thông báo ra khắp thành phố Huế, khoảng 40.000 Phật tử đã kéo xuống đường biểu tình giải vây cho Đại Đức Thích Trí Tựu.

Khoảng 20 vị sư đã ngồi tuyệt thực trên đường Lê Lợi, trước Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Huế. Nhà cầm quyền phải dùng vòi rồng, lựu đạn cay, roi điện và  xe tăng để giản tán. Đại Đức Thích Trí Tựu đã được Công An cho về chùa.

Nhưng chiều 5.6.1993, khoảng 6 giờ, bổng nhiên Công An lại đến bao vây chùa Linh Mục, bắt Đại Đức Thích Trí Tựu, còng tay và đưa về giam ở lao Thừa Phủ. Vài ngày sau, khoảng 300 Phật tử bị bắt. Các chùa bị lục soát và cô lập. Đã có 22 tăng ni và Phật tử tự thiêu.

Nhận thấy nhóm Phật Giáo đấu tranh ở trong nước vẫn còn mạnh, Mỹ quyết định nhảy vào và biến thành một lực lượng đối kháng. Kể từ năm 1997, ông Võ Văn Ái ở Pháp, được tổ chức National Endowment for Democracy (NED), tài trợ hàng năm để đẩy mạnh phong trào Phật Giáo ở trong nước lên (năm 1997 là $90.000, năm 1998 $95.000, năm 2006 $97.000, năm 2007: 107.000 USD, năm 2008: 107.000 USD. v.v.).

Trong hai năm 2005 và 2007, Hà Nội đã cho Thiền sư Nhất Hạnh dẫn phái đoàn về Việt Nam thuyết phục các thành phần của GHPGAQ còn lại sát nhập vào Giáo Hội Nhà Nước, nhưng bất thành. Sau đó chính quyền tiếp tục đàn áp. Theo thông báo ngày 20.9.2010 của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế ở Paris, “Gần 400 Khuôn Hội chỉ trong một ngày đã thay ngôi đổi chủ, ai theo thì sống, ai chống thì chết”. Trong khi đó, nhóm Thân Hữu Già Lam lại hình thành nhóm Về Nguồn, tách rời ra khỏi sự lãnh đạo của Hoà Thượng Quảng Độ, “trá hàng Cộng Sản để làm văn hóa, hoằng pháp”. Đến nay có thể nói 90% các tăng sĩ và chùa ở hải ngoại đã đi theo nhóm Về Nguồn, GHPGAQ coi như bị tan rã, Mỹ quay về Công Giáo.

ĐỊNH DÙNG LÁ BÀI CÔNG GIÁO?

Chuyện Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) Thái Hà đứng lên đòi lại nhà đất kể từ năm 2008 là chuyện bình thường như dân oan đã và đang làm hàng ngày, nhưng nó trở thành biến cố do sự xuất hiện của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, TGM Hà Nội, vì những lý do chính sau đây:

(1) DCCT Thái Hà là một tổ chức công giáo tự trị, không trực thuộc Toà TGM Hà Nội mà thuộc Bề Trên Giám Tỉnh ở Sài Gòn và Bề Trên Tổng Quyền ở Roma. Riêng giáo xứ Thái Hà chỉ chịu sự quản trị của Toà TGM Hà Nội về phương diện mục vụ. Do đó, DCCT đã hành động theo đường lối riêng. Tuy nhiên, Đức TGM Kiệt lại dính vào.

(2) Cuộc họp ngày 20.9.2008 tại UBND thành phố Hà Nội chỉ là cuộc họp để công bố quyết định của Ban Bí Thư Trung Ương Đảng.

Như chúng ta đã biết, những vấn đế quan trọng có thể gây ảnh hưởng lớn như vấn đề nhà đất của DCCT Thái Hà, Thành Ủy và UBND thành phố Hà Nội không có quyền quyết định, họ phải xin chỉ thị của BBTTUĐ. Sau đó, UBND thành phố Hà Nội chỉ công bố quyết định của BBTTUĐ.

Có thể nói đây là cuộc họp với những người điếc, nên mọi tranh luận đều vô ích. Thế nhưng Đức TGM Kiệt lại đích thân đến họp, thay vì cho Linh mục thư ký đi.

(3) DCCT và Đức TGM Kiệt biết chắc Đảng CSVN sẽ không trả đất lại cho DCCT Thái Hà nên mọi cuộc tranh luận đều vô ích. Theo thống kê, nhà cầm quyền CSVN đã chiếm đoạt của GHCG khoảng 2.250 cơ sở, nếu trả nơi này phải trả nơi khác, trả luôn cho cả Phật Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo và Tin Lành nữa. Nếu thật sự chỉ muốn lấy lại đất thì trong “tam thập lục kế” phải dùng kế khác. Nhưng DCCT đã không làm như vậy.

(4) Những lời tuyên bố của Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại UBND thành phố Hà Nội hôm đó được nhiều giới coi là không phù hợp với điều 285 của Bộ Giáo Luật.

Sau nhiều lời bàn qua tán lại, trong chuyến viếng thăm định kỳ (ad limina) Roma với các Giám Mục khác, Đức TGM Kiệt không những chỉ đệ đơn lên Bộ Giáo Sĩ mà còn đưa tận tay cho Đức Giáo Hoàng khi được gặp, xin từ chức vì lý do sức khỏe.

MỘT CHIẾN DỊCH THÂM ĐỘC

Sau khi tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt xin từ chức được tung ra, “các thế lực thù địch” mở ngay chiến dịch để đẩy Giáo Hội Công Giáo trở thành một lực lượng đối kháng như GHPGAQ đã làm dưới thời VNCH cũng như sau năm 1975. Chiến dịch này gồm hai thủ đoạn chính: Thủ đoạn thứ nhất là hô lên các Giám Mục VN và HĐGMVN đã bị nhà cầm quyền khuất phục. Thủ này do Đài Á Châu Tự Do (RFA) của Mỹ, nhóm Nữ Vương Công Lý của DCCT Thái Hà và nhóm Giao Điểm Công Giáo ở hải ngoại thực hiện. Thủ đoạn thứ hai là đưa ra thần học được chúng tôi đặt tên là thần học “Thiên Chúa là phèng la” (Deus cymbalum est), đòi buộc Giáo Hội Công Giáo phải lên tiếng chống lại nhà cầm quyền CSVN, và tuyên bố không lên tiếng là “đồng loả với tội ác”.

Thần học “Thiên Chúa là phèng la” là một thứ nguỵ biện, những người không học thần học cũng có thể bác bỏ một cách dễ dàng, nên chỉ ít lâu sau đã phải im tiếng.

Thủ đoạn thứ nhất vẫn còn được tiếp tục xử dụng không ngừng nghỉ.

Trong bài “Đức Giám mục Ngô Quang Kiệt sang Mỹ chữa bệnh” phổ biến ngày 13.5.2010, đài RFA  nói: “Các tin tức cho biết chính quyền Hà Nội đã liên tục tạo áp lực buộc Vatican phải đưa Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội.”

Ngày 8.5.2010 đài RFA phổ biến bài “Quang cảnh tương phản trong Lễ chào đón Tổng Giám mục phó Hà Nội” do Mặc Lâm phỏng vấn tên cò mối Nguyễn Hữu Vinh, tên này tuyên bố: “Từ những khi bị bách hại đến những giai đoạn khó khăn, đàn áp....người công giáo Việt Nam chưa khi nào có một nghi vấn về giáo hội thân yêu của mình. Thế nhưng lần này, đức vâng lời của họ xem ra ẩn chút gì đấy ngậm ngùi, xen lẫn ngao ngán.”

Ngày 13.5.2010, đài này lại cho phổ biến bài “Vatican chấp thuận đơn từ chức của TGM Ngô Quang Kiệt” phỏng vấn LM Nguyễn Văn Khải thuộc DCCT Thái Hà, người dẫn đầu đoàn biểu tình chống việc Tòa Thánh cử ĐGM Nguyễn Văn Nhơn làm TGM Hà Nội. LM Khải nói về trường hợp LM Nguyễn Thái Hợp được cử làm Giám Mục Giáo Phận Vinh như sau:

“Dưới mắt nhiều người, người ta vẫn thấy cha Nguyễn Thái Hợp theo xu hướng thân thiện với chính quyền Cộng sản và theo xu hướng là thỏa hiệp với chính quyền này để tồn tại hay là... thế nào đấy!” 

LM Khải nay đã bị triệu hồi qua Roma.

Website Nữ Vương Công Lý của DCCT Thái Hà còn chơi bạo hơn. Hôm 9.4.2010, khi HĐGMVN vừa công bố “Thư Hội Đồng Giám Mục Việt Nam gởi Cộng Đồng Dân Chúa” nói về phiên họp của Hội Đồng tại Vũng Tàu, NVCL tung ngay ra bài “Mặc cả Vũng Tàu: TGMHN và ĐGH ai đi, ai đến?” ký tên Ngô Đức Diễm nói rằng “cuộc mặc cả gay gắt” giữa việc ra đi của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt khỏi Hà Nội để đổi lấy chuyến viếng thăm Việt Nam của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI.”

Ngay sau đó, nhiều Giám Mục đã lên tiếng phủ nhận tin bịa đặt đó vì cuộc họp của các Giám Mục không hề bàn vấn đề không hợp với Giáo Luật này.

Bản tin nói Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết sẽ đọc diễn văn trong lễ Bế Mạc Năm Thánh tại La Vang do Joseph Dang tung ra và bài xuyên tạc về bài giảng có đề cập đến “cánh chung luận” của Mark của ĐGM Nguyễn Văn Khảm viết cách đây trên 10 năm được đăng trên Nữ Vương Công Lý cũng đều nằm trong thủ đoạn chụp mũ GHVN đã khuất phục Cộng Sản.

TÒA ĐẠI SỨ MỸ NHÚNG TAY VÀO

Ngày 5.1.2011 ông Christian Marchant, Tùy viên Chính trị, Đại diện Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, đã đến thăm LM Nguyễn Văn Lý đang trị bệnh tại Nhà Chung của giáo phận Huế, nhưng Công An đã ngăn lại không cho vào với lý do LM Lý đang ở trong thời gian bị giam giữ, không có giấy phép không vào được. Ông cứ đi vào nên Công An đã khiêng ông vứt lên xe và đưa về Sở Ngoại Vụ của tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Cuối năm 2011, khi DCCT Thái Hà tái phát động chiến dịch đòi lại tu viện của Dòng, lúc 15 giờ 20 ngày 18 11 2011, ông Michael Orana, tùy viên của Tòa Đại Sứ Mỹ lại đến thăm các linh mục, tu sĩ và giáo dân giáo xứ Thái Hà với mục đích khích lệ đẩy mạnh chiến dịch đấu tranh.

Tòa Đại Sứ muốn dùng vụ Cha Lý và cuộc tranh đấu của DCCT Thái Hà để đẩy GHCGVN đứng lên đối kháng với chính quyền, nhưng họ đã tính lầm. Cha Lý chỉ là một con số không to tướng trong hàng giáo sĩ VN, còn DCCT Thái Hà là một tổ chức tự trị không thuộc quyền Tòa TGM Hà Nội và không đi theo đường lối của HĐGMVN. Không thể dùng Cha Lý và DCCT Thái Hà để kích động được.

CON BÀI TẨY ĐÃ BỊ LẬT LÊN

Thông thường, khi tổ chức vận động chính trị, người Mỹ thường cấp “Grant” hay “Fund” cho một số tổ chức hay cá nhân để phụ trách công tác này. Những người được cấp “Grant” để viết những bài kích động không thiếu gì, nhưng chúng ta chưa khám phá ra người được cấp “Fund” như ông Võ Văn Ái để điều động chiến dịch thúc đẩy sự đối kháng của GHCGVN. Tên một vài linh mục đã được nêu lên nhưng chưa thể xác định.

“Các thế lực thù địch” tưởng rằng cứ cho xuyên tạc GHCGVN đã bị chính quyền cộng sản khuất phục rồi, Giáo Hội này sẽ phải xuất hiện như một lực lượng đối kháng để tự biện minh. Nhưng một giáo hội có tổ chức và đường lối rõ ràng không bao giờ trúng những kế ấu trỉ như thế.

Hiện nay “chiến tranh lạnh” giữa Hoa Kỳ và CSVN đang gay cấn, một đàng gia tăng tối đa chiến dịch kích động tinh thần đối kháng, một đàng cương quyết bóp chết mọi mần mống nổi dậy trong trứng nước, dù phải trả bằng bất cứ giá nào. Không ai tin rằng Hoa Kỳ sẽ thắng vì họ đang thiếu một lãnh tụ nổi bật hay một tổ chức có thể lãnh đạo quần chúng. Hoa Kỳ không thể biến Giáo Hội Công Giáo thành một công cụ của Mỹ như đã biến Phật Giáo năm 1963, vì con bài tẩy đã bị lật lên rồi.

Trong năm qua, Toà Thánh đã cử Đức TGM Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Toà Thánh, lần lượt viếng thăm mục vụ 26 giáo phận Việt Nam. Ngài đã nắm vững tình hình và nói rõ đường lối của Giáo Hội, nên GHVN rất an tâm.

Cuộc chiến nào cũng cần có những con bài thí như Hoà Thượng Thích Quảng Đức, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân, Ls Cù Huy Hà Vũ, v.v. Chết cho tổ quốc là hiên ngang, nhưng chết vì làm tay sai cho những âm mưu đen tối là một sự phủ phàng.

Ngày 7.2.2012

Lữ Giang

Monday, February 6, 2012

Việt Nam tự chế tạo nhiều loại vũ khí

Việt Nam tự chế tạo nhiều loại vũ khí

13:27 GMT - chủ nhật, 5 tháng 2, 2012
 
Một xưởng chế tạo vũ khí của Việt Nam
Các tin tức về sản xuất vũ khí thường không được công bố
Thời gian gần đây, báo Việt Nam bất ngờ hé mở một danh mục các loại vũ khí chế tạo ở trong nước.
Thông thường, các tin tức loại này ít được phổ biến.
Mới nhất, theo Quân đội Nhân dân, các nhà khoa học của Viện Vũ khí đã hoàn thành đề tài khoa học “Nghiên cứu chế tạo súng bắn tỉa cỡ nòng 12,7mm”.
Sản phẩm này được nói đã được Nhà máy Z111 của Bộ Quốc phòng chế tạo thành công.
"Súng có kích thước phù hợp, trọng lượng 12,5kg, hộp tiếp đạn 5 viên, sơ tốc đầu đạn 840m/s, tầm bắn hiệu quả 1.200m."
Bài trên báo Quân đội cũng ca ngợi loại súng bắn tỉa nói trên qua thí̉ nghiệm cho thấy độ chính xác, độ hội tụ cao, 'bảo đảm độ bền và hoạt động khả tín trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt'.
"Súng này dùng để tiêu diệt nhiều loại mục tiêu như người, xe chỉ huy, xe thiết giáp chở quân…:
Súng bắn tỉa cỡ nòng 12,7mm đang được quân đội nhiều nước sử dụng và cũng được nhiều quốc gia chế tạo. Nga, Trung Cộng đều sản xuất loại súng bắn tỉa của mình.
Việc Việt Nam chế tạo được súng bắn tỉa có thể giúp giảm giá thành nếu sản xuất hàng loạt ở trong nước.

Hiện đại hóa quân đội

Việt Nam đang chú trọng hiện đại hóa quân đội, tăng cường khả năng tác chiến, với ngân sách quốc phòng mỗi năm một tăng.
Nhưng để nâng nền quốc phòng quy mô còn nhỏ với vũ khí-quân dụng lạc hậu, Việt Nam cần nhiều trang thiết bị mới.
Các khoản tiền lớn được tung ra để đầu tư vào tàu ngầm, tàu chiến và hệ thống hỏa tiễn, song Việt Nam cũng có nhu cầu cải tiến các loại vũ khí khác.
Viện Vũ khí Việt Nam tuyên bố đã chế tạo và hướng dẫn sản xuất nhiều loại sản phẩm mà quân đội Việt Nam đang sử dụng như súng và đạn cối 100mm; súng và đạn chống tăng B41-M; súng và đạn B40 sát thương; súng và đạn chống tăng PG-9; đạn lựu phóng 40mm kiểu 548B; súng và đạn pháo chiến dịch 122 D74, 130M46, 152-D20; lựu đạn LD-01…
Trong 5 năm qua, Viện Vũ khí cũng đã thực hiện nhiều đề tài mà sản phẩm đã và đang được trang bị cho quân đội như súng phòng không 12,7mm kiểu NSV; súng đại liên PKMS; Súng lựu phóng bán tự động MGL; Súng Microuzi; Đạn cối tăng tầm 60, 82 và 100mm; Súng và đạn cối triệt âm 50mm; Kính ngắm đêm cho súng SPG-9; Kính điểm đỏ cho súng M-79; Kính ngắm quang học cho súng máy phòng không 12,7mm…
Mới đây Viện Khoa học và Kỹ thuật Quân sự Việt Nam cũng đã nghiên cứu chế tạo thành công loại sơn hấp thụ sóng radar dùng cho máy bay tàng hình.
Trong khi đó, các chuyên gia của Viện Thuốc phóng-Thuốc nổ thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng cho hay 'đã nghiên cứu chế tạo thành công thỏi nhiên liệu hỏa tiễn hỗn hợp 9X195 trong điều kiện phòng thí nghiệm'.
Thỏi nhiên liệu này dùng cho động cơ hành trình hỏa tiễn phòng không, từ tầm ngắn đến các loại hỏa tiễn chiến lược

Các bài liên quan

Chủ đề liên quan

Quân đội Việt Nam

Sunday, February 5, 2012

TUYÊN GIÁO TIÊN LÃNG: THỞ RA CŨNG... THỐI

Trần Duy Huỳnh (Danlambao)

 
Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,
Lời tuy nặng, nhưng đúng với bản chất của nó.

Ngày 11/01/2012, Lê Văn Luyện bị tòa án tuyên phạt 18 năm tù giam cho tội phạm của mình. Tội của Luyện, theo VNExpress thì “Rạng sáng 24/8/2011, Luyện đột nhập tiệm vàng Ngọc Bích, cắt hệ thống camera, chuông báo động, đâm chết vợ chồng chủ tiệm. Con gái lớn của họ (bé Bích) bị chém đứt lìa tay phải, bé út bị giết, Luyện vơ vét 200 chỉ vàng ta, gần 153 chỉ vàng tây trong tủ trưng bày ở tầng 1. Tổng giá trị tài sản hơn 1,27 tỷ đồng.”

Hành động của Lê Văn Luyện bị XH đồng lòng lên án. Qua điều tra của công an và theo nhận định của toà án, Luyện hành động không có đồng phạm. Những người cùng bị kết tội sau này là những người cố tình bao che cho tội ác của Luyện.

Nếu như Lê Văn Luyện hành động lén lút một mình thì hành động của Lê Văn Hiền, chủ tịch huyện Tiên Lãng lại công khai, nhân danh chính quyền, nhân danh luật pháp với sự đồng lõa của các cấp.

Lê Văn Hiền đã phối hợp các ban ngành, tìm mọi cách chiếm cho bằng được, dồn anh Vươn và gia đình anh vào đường cùng. Họ có sự bao che MẠNH tới mức bất chấp câu “con giun xéo mãi cũng quằn”. Khi gia đình anh phản ứng lại, họ hùa nhau kết tội anh là kẽ “giết người”.

Huyện Tiên Lãng đã nhân danh “chính quyền” để bắt anh vô tù, đuổi gia đình anh ra khỏi nơi mà biết bao mồ hôi, công sức, tiền bạc, ngay cả sinh mạng của con gái anh đã đổ xuống để biến một bãi lầy vô dụng trở thành một vùng đất sống. Phá tan hoang nơi cư trú, cho phép bọn “giang hồ” vào cướp sạch, vơ vét sạnh những gì mà anh và gia đình anh chắt chiu bao năm mới có.

 Chính quyền mang xe ủi đến phá nhà anh Vươn
Đoàn Văn Vươn là một nông dân lương thiện, những gì anh có là do công sức anh tạo ra, anh không cướp của ai, không lừa ai mà có. Số phận anh trở nên khốn nạn, tù đày, gia đình tan nát chỉ vì luật pháp mù mờ bất minh. Luật pháp bất minh đó lại được những kẽ cường hào mới thủ ác một cách triệt để.

Hãy nghe chính người dân tại Tiên Lãng nói về chính quyền Tiên Lãng và gia đình anh Vươn:
“Tưởng ý mình có thế bưng bít và đứng trên pháp luật, dân là đối tượng không cần quan tâm, Lê Văn Hiền và một số lãnh đạo huyện Tiên Lãng vẫn quyết định thực hiện cưỡng chế và chọn gia đình Đoàn Văn Vươn là điểm bắt đầu với các toan tính:

– Thứ nhất: anh em Đoàn Văn Vươn là những người hiền nhất trong các chủ đầm của huyện, lại theo công giáo và rất tôn trong pháp luật sẽ không dám chống đối những người được coi là “thi hành công vụ”.

- Thứ hai: anh em Đoàn Văn Vươn đang sử dụng đầm trên 40 ha tại xã Vinh Quang nơi có Lê Văn Liêm làm chủ tịch xã, Vươn lại là người xã khác. Hai điều này có thể thuận lợi, để tạo được sự đồng thuận trong cán bộ và nhân dân xã.

- Thứ ba: các chủ mới đã thỏa thuận xong, giao kèo ngầm đã được ký kết. chỉ còn đợi ra “công khai” đấu thầu.” (Trích “Vụ Đoàn Văn Vươn; Ý kiến của một đọc giả người Tiên Lãng” trên trang Anh Ba Sàm).
Nếu cả một guồng máy được tạo ra với sự góp sức của luật pháp chỉ để hà hiếp, cướp bóc của dân thì nên hiểu guồng máy này là gì? Ai sẽ là nạn nhân kế tiếp và ai sẽ bảo vệ họ?.

Khi mọi việc vỡ lở, khi người dân vẫn đang hoang mang vì sự mạnh tay quá trớn của lực lượng cưỡng chế, thì Giám đốc công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca huênh hoang với phương án “chiếm lĩnh trận địa” không có trong giáo án, lời công an Ca “...Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này.... Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách. Tôi nói với các đồng chí Thường trực rằng, đây không phải kế hoạch tập trận nhưng đúng là phải rút kinh nghiệm, cái này nó rất là hay, có sự kết hợp giữa địa phương, giữa công an, quân đội, biên phòng rất là đẹp, đâm ra không có gì phải phàn nàn về cái chuyện ấy cả...”.

Nghe công an nhân dân kể về thủ đoạn trấn áp nhân dân mà sợ quá!

 
Tưởng mọi chuyện sẽ tạm lắng dịu chờ sự điều tra của pháp luật, thì đùng một cái, ngày 03/02/2012, đúng ngày kỹ niệm 82 năm thành lập đảng CS Việt Nam, Trưởng ban Tuyên giáo huyện Tiên Lãng, Vũ Hồng Chuân họp toàn thể đảng viên lại quán triệt chủ trương đường lối của đảng.

Nếu đường lối, chủ trương của đảng CS Việt Nam là xây dựng một nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân” thì buổi quán triệt tư tưởng của Tuyên giáo Chuân, đại diện cho đảng CS, hoàn toàn đi ngược lại đường lối đó vì hành động của chính quyền Tiên Lãng vừa qua không có gì là “của dân, do dân và vì dân” hết.

Đó chỉ là buổi biện minh, bênh vực cho sự “đúng đắn” của chủ trương cưỡng chế và cho nhu cầu phải áp dụng hành động cưỡng ép quá mức cần thiết của chính quyền đối với gia đình anh Vươn mà không hề nhắc đến, biết đến những tâm tư, quyền lợi của anh và gia đình.

Nội dung buổi quán triệt chủ trương này có thể gói gọn trong 3 điểm chính: chính quyền đã áp dụng đúng luật; Chính quyền đã tạo cơ hội cho gia đình anh Vươn nhưng anh bất tuân; và không quên kêu gọi đề phòng các thế lực thù địch.

Trước hết hãy nói về luật, một đất nước mà luật của nó nhiều như rừng, ngoài ra còn biết bao nhiêu văn bản dưới luật, nay thế này mai thế khác, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau thì ai là người có đủ hiểu biết hết để có thể “sống và làm việc theo pháp luật”? Chưa nói những việc mà ngay cả chính quyền VN cũng thường xuyên vi phạm như luật Nhân Quyền thì thử hỏi đó là lỗi người dân hay lỗi của chính quyền?.

Trong khi sự việc đang chờ các cơ quan pháp luật điều tra thì đảng ủy, tuyên giáo lại ra sức tuyên truyền một chiều, gây hoang mang, nhầm lẫn lung tung không ai còn biết đâu là thực đâu là giả vì những người liên quan thì đang nằm trong tù, không được phép lên tiếng, còn những người bên ngoài thì bị nhào nặn theo ý của chính quyền. Đó có phải là đảng “của dân do dân và vì dân” không?

Nếu công an Ca hết lời ca tụng chiến công của mình, ra quân một lần là thắng, tuy chỉ có 6 chiến sĩ bị thương chứ không đến nỗi “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, khi tấn công “giải phóng” “chiến khu đầm tôm” của ngưởi nông dân Đoàn Văn Vươn, thì chính quyền Tiên lãng có bao giờ thử hỏi tại sao 8 lần thương thuyết mà anh Vươn vẫn không chịu?

Đơn giản chỉ vì dân không tin chính quyền!

Dẫn chứng ư? Ai không biết chuyện đại diện UBND huyện Tiên lãng toa rập với Thẩm phán TAND TP Hải Phòng, Ngô Văn Anh, lừa dân bằng một tờ giấy hòa giải hoàn toàn không có giá trị pháp lý để anh Vươn (bị lừa nên) rút đơn kháng cáo. Đó có phải là điều mà chính quyền đã tạo cơ hội cho anh Vươn bảo vệ quyền lợi của anh và tuân thủ luật pháp không?

Còn các thế lực thù địch ư? Chính công an Ca, phó Thoại, tuyên giáo Chuân, chính quyền Tiên Lãng mà đại diện là cường hào Hiền, và những kẻ bao che cho hành động này, từ trên xuống dưới, mới chính là các thế lực thù địch của nhân dân. Chính bọn họ mới là những kẽ làm cho đời sống người nông dân Việt Nam không yên, lo lắng thấp thỏm không biết lúc nào tới phiên mình.

Tại sao phải huy động cả một guồng máy từ cấp tỉnh trở xuống để trấn áp dân rồi bao che cho nhau? Tại sao người dân và các giới phản ứng rất dử dội mà chính quyền huyện Tiên Lãng vẫn không sợ? 

Thế thì ai sẽ bảo vệ những người nông dân thấp cổ bé miệng khi miếng đất nuôi sống họ lúc nào cũng có những con mắt cú vọ chăm chăm thèm khát?

82 năm người nông dân miền Bắc, 36 năm người nông dân miền Nam, dù có rất nhiều hứa hẹn từ đảng CS và chính quyền, họ vẫn chưa bức nổi cuộc sống ra khỏi mảnh đất, số phận họ vẫn gắn liền với đất, vẫn con trâu đi trước cái cày theo sau (có nơi họ còn kéo cày thay trâu), vẫn bán mặt cho đất bán lưng cho trời như cách đây hàng trăm năm.

Thời nay, họ chỉ có thể thoát khỏi bằng cách đi làm dâu xứ người, đi bán sức lao động hoặc chua xót hơn, đi làm điếm.

Đem một lô chỉ thị, nghị quyết, luật này luật kia với những con chữ mù mờ, nhảy múa theo miệng quan, thì họ, những người nông dân chất phác chỉ có chết, mất hết.

Nếu chưa đứng lên được, thì hãy gào lên!

05/02/2012

Trần Duy Huỳnh

Nam Phương Hoàng Hậu

Nam Phương Hoàng Hậu
Và Các Thứ Phi Của Cựu Hoàng Bảo Đại

Nam Phương hoàng hậu trong triều phục, 1934.
Trúc Giang MN
1* Nam Phương Hoàng Hậu
Người thiếu nữ Gò Công sắc nước hương trời, đức hạnh vẹn toàn, được xem là "mẫu nghi thiên hạ", tưởng đâu cuộc đời hạnh phúc, nhưng số phận hẩm hiu, phải sống cô đơn sầu muộn và chấm dứt cuộc đời nơi đất khách quê người, trong buồn thảm. Bà hoàng sầu muộn đó chính là Nam Phương Hoàng Hậu.
Bà là vợ của Hoàng Đế Bảo Đại, hoàng hậu duy nhất của nhà Nguyễn được phong chức hoàng hậu khi còn sống, và cũng là hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.
1.1. Xuất thânBà tên là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 4-12-1914 tại Gò Công, xuất thân từ một gia đình Công giáo giàu có bậc nhất Nam Kỳ thời bấy giờ. Tên thánh là Marie Thérèse (Maria Têrêsa), quốc tịch Pháp tên Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan.


Con ông Nguyễn Hữu Hào và bà Lê Thị Bính, cháu ngoại ông Lê Phát Đạt (Huyện Sỹ), là một trong 4 người giàu nhất Việt Nam đầu thế kỷ 20. Miền Nam có câu: "Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định".
Nguyễn Hữu Hào có hai người con gái, Nguyễn Hữu Thị Lan và người chị là Agnès Nguyễn Hữu Hào, lấy chồng sớm là Bá tước Didelot, làm công chức cho Tây.
Qua những tấm hình đăng trên tờ Indochine, thì hai chị em đều cao lớn, hơn hẳn những người phụ nữ Việt Nam khác.
Năm 1926, 12 tuổi, Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan sang pháp học tại trường Couvent des Oiseaux, một trường nữ danh tiếng tại Paris, do các nữ tu điều hành.
Tháng 9 năm 1932, sau khi đậu tú tài toàn phần, Nguyễn Hữu Thị Lan về nước trên chiếc tàu d'Artagnan của hảng Messagerie Maritime. Bảo Đại cũng về nước trên chiếc tàu đó để lên ngôi vua, nhưng hai người không gặp nhau.
Vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương năm 1953

Vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương năm 1953
1.2. Cuộc tình với Bảo ĐạiGần một năm sau, khi Hoàng Đế Bảo Đại lên nghỉ mát ở Đà Lạt, trong một buổi dạ tiệc tại khách sạn La Palace, do Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier và Thị trưởng Đà Lạt sắp đặt, Nguyễn Hữu Thị Lan và Hoàng Đế Bảo Đại gặp mặt nhau.
Về cuộc tình duyên, trong cuốn Con Rồng An Nam, Bảo Đại viết như sau:
"Sau lần hội ngộ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi gặp mặt nhau trao đổi tâm tình, Marie Thérèse thường nhắc đến những kỷ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú. Cũng như tôi, nàng rất thích thể thao và âm nhạc.
Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam, pha một chút Tây phương, do vậy, tôi đã chọn hai chữ Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng. Các tiên đế của tôi cũng hướng về phụ nữ miền Nam, đã có 7 phụ nữ miền Nam từng là chủ nhân của Hoàng thành Huế.
Trước kia, đức Thế Tổ Cao Hoàng (Vua Gia Long) được dân miền Nam yểm trợ khôi phục giang sơn, do đó, có sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều và người dân miền Nam".
Trong cuốn hồi ký, Nam Phương Hoàng Hậu cũng ghi lại:
"Hôm đó, ông Darle, thị trưởng Đà Lạt gởi giấy mời cậu Lê Phước An của tôi và tôi đến dự tiệc tại Hotel Palace. Tôi không muốn đi, nhưng cậu An năn nỉ và hứa chỉ đến tham dự và vái chào nhà vua xong thì về, nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng. Chỉ trang điểm sơ sài và mặc chiếc áo bằng lụa đen mua từ bên Pháp.
Chúng tôi đến trễ. Bữa tiệc bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi bên ngoài, thì ông Darle trông thấy, chạy đến kéo chúng tôi vào trong nhà. Ông nói: "Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được".
Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành giữa nhà. Ông Darle bước đến bên cạnh nhà vua, nghiêng mình cúi chào, và kính cẩn nói:
"Votre Majesté, Monsieur Lê Phước An et sa nièce, Mademoiselle Marie Thérèse". (Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phước An và cháu gái, cô Marie Thérèse).
Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux chỉ dạy, nên tôi biết phải làm thế nào để tỏ lòng tôn kính đối với một quân vương, vì thế, tôi không ngần ngại đến trước mặt hoàng đế, quỳ một gối và cúi đầu sát sàn nhà, cho đến khi bàn tay của cậu tôi kéo dậy. Nhà vua gật đầu chào tôi, thì vừa đúng lúc, tiếng nhạc trổi lên theo nhịp Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy. Rồi chúng tôi bắt đầu trò chuyện.
Về sau, khi đã thành vợ chồng, Ngài cho biết là hôm đó, Ngài rất chú ý đến cách phục sức đơn giản của tôi. Tôi nghĩ rằng, nhà vua chú ý đến tôi, một phần là, tôi là người VN duy nhất biết nói tiếng Pháp và hành lễ đúng cung cách lễ nghi đối với Ngài".
Bảo Đại say mê Nguyễn Hữu Thị Lan, ông viết:
"Lan có vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rủ làm tôi say mê, sang trọng nhưng không kiêu, có nụ cười kín đáo và không e lệ".
1.3. Gặp trắc trởKhi Bảo Đại hỏi cưới thì gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan ra điều kiện:
- Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong hoàng hậu chánh cung ngay trong ngày cưới.
- Được giữ nguyên đạo Công giáo. Các con sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.
- Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo
- Phải được Toà thánh Vatican cho phép đặc biệt hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau.
Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, đã từng 3 lần đoạt giải Hoa Hậu Đông Dương, nhưng bà mang quốc tịch Pháp và đạo Công giáo, vì thế, cuộc hôn nhân gặp phải nhiều phản đối.
Thái Hậu Từ Cung, mẹ Bảo Đại, không bằng lòng. Các quan trong triều, vốn có ác cảm với người Pháp và Thiên Chúa giáo vì đã có những vụ cấm đạo, giết giáo sĩ, giáo dân, hơn nữa, một số quan lại có con gái, muốn cho vào làm dâu nhà Nguyễn.
Vua Bảo Đại nói với thân mẫu, nếu không cưới được Nguyễn Hữu Thị Lan, thì ông ở vậy, không lấy vợ.
Trước Hoàng tộc, nhà vua nói: "Trẩm cưới vợ cho Trẩm, đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và triều đình".
Tôn Thất Hân làm Viện trưởng Cơ Mật Viện và Thượng thư Bộ Hình.
Hoàng Hậu Nam Phương và các con
Hoàng Hậu Nam Phương và các con
1.4. Hôn lễ và đăng quangNgày 20-3-1934, hôn lễ được tổ chức tại Huế. Khi đó, Bảo Đại 21 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan 19. Bốn ngày sau, lễ Tấn Phong Hoàng Hậu rất trọng thể ở Điện Dưỡng Tâm. Nhà vua phong Hoàng hậu tước Nam Phương Hoàng Hậu.
Việc phong hoàng hậu là một biệt lệ, vì 12 đời vua trước, các bà vợ chỉ được phong Vương Phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng Hậu.
Bảo Đại giải thích hai chữ Nam Phương như sau: "Tôi đã chọn tên trị vì của hoàng hậu mới là Nam Phương, có nghĩa là "Hương thơm của miền Nam" (Parfume du Sud) và tôi đã ra một chỉ dụ, đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng, là màu dành riêng cho Hoàng đế". (Có câu "Lưu phương bách thế" là tiếng thơm lưu truyền muôn thuở. Hoặc "Ngàn năm lưu xú diệt lưu phương" là tiếng xấu làm mất tiếng thơm ngàn năm).
Đêm 1-4-1936, người dân Huế nghe những tiếng súng đại bác báo tin mừng Hoàng hậu hạ sinh, và tờ mờ sáng, thì nghe 7 tiếng súng thần công nổ rền, báo tin mừng là một hoàng tử. (9 tiếng đại bác, là công chúa). Đó là Đông Cung Thái Tử Bảo Long.
Bảo Đại rất thương yêu vợ. Ông thường tự lái xe đưa Hoàng hậu thăm viếng những danh lam thắng cảnh của đất nước, có lần lái xe đến tận Nam Vang (Phnom Penh).
Nam Phương giúp nhà vua trong những buổi tiếp đón những phái đoàn ngoại giao, mà trước kia chưa có hoàng hậu nào tham dự như tiếp Thống chế Tưởng Giới Thạch của Đài Loan, Quốc Vương Norodom Sihanouk của Campuchia và Quốc Vương Lào Soupha Vangvong.
Bà cũng đem lại hoà khí giữa những chức sắc đạo Thiên Chúa với Hoàng triều nhà Nguyễn.
1.5. Cuộc sống lưu vong
Năm 1945, Hoàng Đế thoái vị, làm một thường dân.
Năm 1947, Hoàng hậu rời VN bắt đầu cuộc sống lưu vong. Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ cùng các con tại một làng cổ tên Chabrignac, tỉnh Corrèze, Pháp.
Khu trang trại có rừng bao quanh, toà nhà gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách. Cựu hoàng có đến thăm bà vài ba lần.
Dân làng Chabrignac kể rằng, Nam Phương giàu có nhưng thiếu hạnh phúc, buồn nản về tình cảm nên sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ. Những ngày vui ngắn ngủi trong mùa hè, khi các con về thăm rồi lại đi.
1.6. Trút hơi thở cuối cùngNgày 14-9-1963, khi từ quận Brive kế bên về nhà, bà kêu đau cổ họng. Hôm sau bác sĩ đến, cho là viêm cổ họng thông thường, kê toa mua thuốc rồi ra về. Bác sĩ không biết rằng bà có bịnh lao hạch trước kia. Vài giờ sau, bà kêu khó thở. Quản gia gọi điện thoại đến xã Jouillac kế bên, rồi gọi đến thị trấn Pompadour cách đó 10 cây số, khi bác sĩ đến thì đã quá trễ. Bà đã chết vì nghẹt thở ở tuổi 49. Ngoài người giúp việc và ông quản gia ra, không có ai khác cả. Các con đi làm hoặc đi học ở Paris.
Đám tang ảm đạm cũng như cuộc đời sầu muộn của bà. Được tổ chức sơ sài, lặng lẽ, không một lời ai điếu. Ngoài 2 hoàng tử và 3 công chúa đi bên cạnh quan tài, không có bà con nào cả. Về phía chính quyền, có hai thị trưởng Brive La Gaillarde và Chabrignac.
1.7. Ngôi mộNơi an nghỉ của bà là khu mộ của gia đình Bá tước De La Besse, vì thế, hôm đưa tang, người chủ đất là bà Bá tước đến thăm. Bà Bá tước chính là công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi, mà dân Pháp gọi bà là công chúa An Nam (Princesse d'Annam), thuộc vai vế hàng cô (tante) của Bảo Đại.
Kể lại chuyện nầy, công chúa Như Lý nói: "Ở gần nhau suốt 5 năm mà không biết nhau, đến khi người cháu Nam Phương qua đời mới biết, thật là đáng tiếc."
Ngôi mộ của bà thấp lè tè, nằm khiêm nhường và kín đáo bên cạnh những ngôi mộ to lớn ở đó. Trên mộ bia, ghi rõ tên và phẩm tước bằng chữ Pháp: "Nơi đây, an nghỉ của Hoàng hậu nước An Nam, tên là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan". (ICI, REPOSE L'IMPÉRATRICE D'ANNAM, NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI LAN)
Phía sau có khắc dòng chữ Hán, đọc từ trên xuống "Đại Nam, Nam Phương Hoàng Hậu Chi Mộ".
Người ta đồn, thi hài được chôn theo nhiều nữ trang quý báu như kiềng cổ, một xuyến nạm ngọc lam…
Ngôi mộ bị đào 3 lần, hai lần có mục đích trộm cắp và một lần vì lý do chính trị. Đó là ngày kỷ niệm Pháp thất trận Điện Biên Phủ, cho nên người Pháp không ưa người Việt Nam và không biệt bất cứ người Việt nào.
Hiện nay, bia đã sứt cạnh, dáng vẻ điêu tàn, vì người giữ nghĩa trang ngày càng già yếu, không còn đi lại chăm sóc mồ mả ở đó chu đáo được nữa.
Hàng năm, vào dịp Thanh Minh, công chúa Phương Liên, con gái thứ hai, sống ở Bordeau, mang hoa tươi đến trồng trên mộ.
Theo dân làng Chabrignac, thì Bảo Đại chưa một lần nào đến viếng mộ cả, ngay trong ngày tang lễ cũng vắng bóng ông, đó là lý do khiến cho các con ngày càng xa lánh ông. Người bạc tình.
2* Thứ phi Mộng Điệp
“Thứ phi” Mộng Điệp trước một căn nhà gỗ tại Tây Nguyên
“Thứ phi” Mộng Điệp trước một căn nhà gỗ tại Tây Nguyên
Bà Bùi Mộng Điệp sinh năm 1924, người Bắc Ninh, xuất thân từ một gia đình bình thường, người cha làm việc trong ngành đường sắt.
Mộng Điệp có một sắc đẹp mà người ái mộ cho là "nghiêng nước nghiêng thành". Năm 17 tuổi đã lọt vào mắt xanh của một bác sĩ tiếng tăm ở Hà Nội, Phạm Văn Phán. Kết cuộc mối tình là một đứa con trai tên Jean. Hai người chia tay, vì bác sĩ Phán đã có vợ, và là người Công giáo, nên không thể có hai vợ.
Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền. Bảo Đại thoái vị.
Tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh mời Bảo Đại ra Hà Nội, làm "Cố Vấn Tối Cao cho Chính Phủ Lâm Thời VN". Trong thời gian ở Hà Nội, ông sống với Mộng Điệp "già nhân nghĩa, non vợ chồng"
Ngày 26-3-1946, cựu hoàng tham dự phái đoàn chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà sang Trùng Khánh viếng thăm nước Trung Hoa, ông không về nước mà đến Côn Minh, rồi sang Hồng Kông. Trong khi đó, ở VN, bà Mộng Điệp sinh đứa con gái.
Khi Pháp trở lại chiếm Hà Nội, chúng bắt Bùi Mộng Điệp vì nghi ngờ làm gián điệp cho Việt Minh, mục đích cầm chân Bảo Đại ở lại với VM. Từ Hồng Kông, Bảo Đại viết thơ phản đối, và Mộng Điệp được thả ra.
Năm 1949, Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng. Mộng Điệp được đón về và phong làm Thứ Phi.
Mộng Điệp theo đạo Phật, thông thạo nghi lễ, chăm lo thờ phượng tổ tiên, và rất không khéo, biết chiều chuộng Thái hậu Từ Cung (mẹ Bảo Đại) và các thành viên trong Hoàng tộc nên được mọi người quý mến.
Nam Phương Hoàng Hậu là người Công giáo, tính tình thẳng thắng nên đôi khi xung đột với Thái Hậu.
Trong khi Nam Phương Hoàng Hậu ở Pháp, thì Thái hậu ban áo mảo, để bà thay Nam Phương trong việc tế lễ.
Sau năm 1949, Mộng Điệp luôn luôn bên cạnh Bảo Đại ở Đà Lạt rồi đến Ban Mê Thuột. Bà giúp cựu hoàng trông nom văn phòng Hoàng Triều Cương Thổ, tức là vùng Cao nguyên Trung Phần, mà Pháp trả lại cho Bảo Đại trực tiếp quản lý. Hoàng Triều Cương Thổ là một thể chế hành chánh đặc biệt thuộc về Hoàng gia.
Mộng Điệp đảm đang, tháo vát. Có lần Bảo Đại đi săn bị lạc trong rừng, bà cởi voi đi tìm. Bà nuôi một đàn voi 40 con để phục vụ cho việc đi săn của cựu hoàng. Bà cũng biết lái xe ôtô.
Mộng Điệp gọi một nhà thầu trong Hoàng tộc là Tôn Thất Hối, xây ngôi biệt điện cách Ban Mê Thuột 50 cây số, để cho Bảo Đại nghỉ ngơi và tiện việc đi săn.
Thừa lịnh Thái hậu, bà cho xây ngôi chùa Khải Đoan, là 2 chữ ghép từ Khải Định và Đoan Huy Thái Hậu Từ Cung. Bà cũng quản đốc việc xây phi trường Ban Mê Thuột (BMT) để tiện lợi cho việc di chuyển từ BMT đến Hà Nội, Huế, Đà Lạt, Nha Trang và Sài Gòn.
2.1. Cuộc sống lưu vong của Thứ Phi Mộng ĐiệpNăm 1953, bà Mộng Điệp mang ấn, kiếm và 600 món báu vật sang Pháp trao cho Nam Phương Hoàng Hậu. Quốc ấn và Quốc kiếm là 2 báu vật tượng trưng cho vương quyền nhà Nguyễn.
Ở Paris, bà sống tự lập, mà không nhờ đến trợ cấp của chính phủ Pháp. Bà làm việc vất vả đủ nghề để nuôi con ăn học. Bà thành công trong nghề mua bán bất động sản và trở nên giàu có, mua nhà cũ giá rẻ, thuê kiến trúc sư nổi tiếng như ông Lê Phổ, trang trí nội thất rồi bán lại cho người giàu. Chỉ sau vài năm trở nên giàu có thật sự, cho con ăn học thành tài.
Kể từ khi qua Pháp, cũng giống như Nam Phương Hoàng Hậu, bà Mộng Điệp không có liên lạc với cựu hoàng.
Bà có ba người con với Bảo Đại:
1. Hoàng nữ Nguyễn Phúc Phương Thảo, sinh 1946
2. Nguyễn Phúc Bảo Hoàng (1954-1955)
3. Nguyễn Phúc Bảo Sơn (1957-1987)
Bảo Sơn học hành xuất sắc, đổ tiến sĩ ngành kỹ thuật chế tạo tại một trường kỹ thuật nổi tiếng của nước Pháp. Bà rất hảnh diện về người con nầy.
Năm 1987, Bảo Sơn lái máy bay đi tắm biển, bị sóng đánh, đập đầu vào đá, thiệt mạng ở tuổi 30. Bà rất đau buồn và lui vào cuộc sống ẩn dật ở số nhà 24 Đại lộ Rueilly, quận 12, Paris.
Học giả Trần Trọng Kim khen ngợi bà: "Bà Bùi Mộng Điệp là người biết đường khinh, trọng, biết lời phải chăng".
2.2. Bà Mộng Điệp qua đờiNgày 26-6-2011, sau ca giải phẩu tim không thành công, bà Mộng Điệp qua đời tại bịnh viện Saint Antoine vào lúc 12 giờ trưa chủ nhật cùng ngày. Thọ 87 tuổi.
2.3. Hai báu vật của nhà Nguyễn
Hai báu vật thiêng liêng, biểu tượng cho vương quyền nhà Nguyễn, đã qua một cuộc hành trình khá li kì. Đó là chiếc Quốc ấn (con dấu) bằng vàng và thanh Quốc kiếm có vỏ nạm ngọc.
Ngày 30-8-1945, trong buổi lễ Thoái Vị tại Huế, Hoàng Đế Bảo Đại đã trao hai báu vật tượng trưng cho vương quyền nhà Nguyễn cho trưởng phái đoàn của Chính Phủ Lâm Thời là Trần Huy Liệu, mang về Hà Nội để báo cáo cho chính phủ và trình diện trước quốc dân trong ngày Tuyên bố Độc Lập tại Công trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Chiếc ấn bằng vàng ròng, nặng 10 kí lô, lưỡi kiếm bị rỉ sét.
Thế rồi, Pháp trở lại Hà Nội, chiến tranh nổ ra. Hai báu vật nầy tình cờ lọt vào tay người Pháp, khi nó được cất giấu trong một cái thùng dầu lửa bằng sắt tây. Đó là, năm 1951, trong khi đào móng để sửa chữa một ngôi nhà ở Hà Đông, lính Pháp tình cờ tìm thấy hai báu vật nầy.
Cựu hoàng Bảo Đại đang ở Pháp, yêu cầu trả lại hai báu vật đó cho người đại diện của ông là Thứ Phi Mộng Điệp với sự chứng kiến của Thái hậu Từ Cung.
Năm 1953, Mộng Điệp mang ấn, kiếm và 600 món báu vật qua Pháp, bà không trao cho Bảo Đại, mà giao cho Nam Phương Hoàng Hậu để Bảo Long cất giữ sau nầy. Nam Phương căn dặn Bảo Long: "Đừng bao giờ tách hai vật thiêng liêng nầy ra hai nơi".
Kiện ra toà
Khi Bảo Đại viết xong quyển Con Rồng An Nam, muốn mượn con dấu đóng lên đó làm tăng thêm giá trị của quyển sách, nhưng Bảo Long không cho, lấy lý do là làm theo lời căn dặn của mẫu hậu. Vì thế, có tranh chấp. Kiện ra toà. Toà xử Bảo Đại giữ chiếc ấn, Bảo Long có quyền giữ thanh kiếm. Tình cảm cha con sức mẻ. Đến nay, không biết hai báu vật nầy ở đâu.
3* Bà Monique Baudot
Ngoài hai người vợ được xem như chính thức là Nam Phương Hoàng Hậu và Thứ Phi Mộng Điệp, một người vợ chính thức của Bảo Đại khi ông 65 tuổi ở Pháp, là bà đầm Monique Baudot.
Tên đầy đủ là Monique Marie Eugene Baudot, sinh năm 1946, nhỏ hơn ông 33 tuổi.
Lễ thành hôn ngày 18-1-1983 tại quận 16, Paris. Trước kia, hồi năm 1969, bà Monique Baudot làm việc tại Phòng Báo chí của toà Đại sứ nước Zair tại Paris. Bà Monique như là một người bạn, mà những người không ưa bà gọi bà là thư ký riêng, một quản gia hay một người hầu phòng của cựu hoàng Bảo Đại.
Bà Monique kể lại: "Khi tôi đang làm Lãnh sự Danh Dự của nước Cộng Hoà Zair, Trung Phi, thì tôi nghe nói cựu hoàng An Nam đang sống độc thân trong cơn túng bấn, gần như bị bỏ rơi". Thế rồi bà đến với ông. Sau khi cưới, với tư cách là vợ chính thức của cựu hoàng, bà tự nhận là Quận chúa Monica và tự xưng tước vị là Thái Phương Hoàng Hậu.
Có hôn thú nhưng không có con.
4* Những người tình của Bảo Đại
4.1. Lý Lệ HàỞ vào thời điểm 1936, 1938, khu phố Khâm Thiên Hà Nội có 6 vũ trường và ở đường Bà Triệu có vũ trường Liszt nổi tiếng nhất, vì có một vũ nữ hoa khôi, với những điệu nhảy lả lơi, nóng bỏng. Đó là Lý Lệ Hà và cũng là người tình của Bảo Đại.
Vào năm 1930, cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Đông. Những cô gái tham dự không phân biệt tuổi tác, nhưng với điều kiện là phải mặc áo lụa Hà Đông.
Lý Lệ Hà là một cô gái nông thôn nghèo ở Thái Bình đoạt giải hoa hậu. Từ đó, cô là người đẹp nổi tiếng được các công tử con nhà giàu ngưỡng mộ, nhưng không có ai vói tới cả, vì cô là người tình của Bảo Đại trong thời gian ông sống ở Hà Nội, làm Cố Vấn Tối Cao của Chính Phủ Lâm Thời VN, cũng là thời kỳ ông sống với Mộng Điệp còn bà Nam Phương đang ở Huế.
Hoa hậu Lý Lệ Hà có hàm răng rất đẹp, như những hạt ngọc. Người đẹp mặc áo lụa Hà Đông là nguồn cảm hứng để nhà thơ Nguyên Sa sáng tác bài thơ và được người nhạc sĩ trẻ tài hoa Ngô Thuỵ Miên phổ thơ thành nhạc, Áo Lụa Hà Đông.
Bà Lý Lệ Hà sang Pháp, sống tại một làng ngoại thành Paris trong một khu quân nhân. Ở tuổi 81, bà vẫn còn đam mê chuyện tranh cử. Chồng người Pháp làm chính trị, đang nhắm vào một trong những chiếc ghế lãnh đạo thành phố. Bà chưa gặp lại cựu hoàng kể từ khi đến Pháp 30 năm về trước.
4.2. Lê Thị Phi ÁnhBà Phi Ánh con nhà lành, giàu có, thuộc dòng họ danh giá, bà là em vợ của Phan Văn Giáo sau làm Thủ hiến Trung Phần. Cũng là một tuyệt sắc giai nhân nên được Bảo Đại yêu thương, tặng một biệt thự sang trọng. Bà có 2 con với Bảo Đại, một gái, một trai.
Sau khi chiến tranh VN kết thúc, bà Phi Ánh ở lại VN và chết trong cô đơn tại Sài Gòn. Con gái là Phương Minh, lấy chồng Pháp và sang lập nghiệp ở Hoa Kỳ.
4.3. Cô gái Trung Hoa Hoàng Tiểu LanNăm 1946, khi sống ở Trung Hoa, Bảo Đại thương yêu một cô gái Tàu lai Tây, tên Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong) và đã có với cô một đứa con gái.
4.4. Bà đầm VickyỞ Pháp, thời kỳ tinh thần cựu hoàng suy sụp nhất là phải rời khỏi vùng Alsace, bỏ lại tài sản, nhà cửa cho người vợ hờ người Pháp tên Vicky, sau mấy năm chung sống và có một đứa con gái tên Nguyễn Phúc Phương Từ.
5* Tang lễ cụu hoàng Bảo Đại
Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua sống lâu nhất nhà Nguyễn. Ông qua đời vào lúc 5 giờ sáng ngày 31-7-1997 tại quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 85 tuổi. Chết vì bị ứ nước trong màng phổi, xuất huyết thận và ung thư tụy tạng.
Tang lễ được tổ chức lặng lẽ hồi 11 giờ ngày 6-8-1997 tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot, quận 16, Paris. Ông đã rửa tội, theo đạo Thiên Chúa.
Chính phủ Pháp cử một sĩ quan mang quốc kỳ Pháp và một tiểu đội binh sĩ quân phục trắng, ngù đỏ trên hai vai, ngực đeo huy chương, bồng súng đi hai bên linh cửu. Cựu hoàng được an táng tại nghĩa trang Passy trên đồi Trocadero.
Vua Bảo Đại có gồm cả vợ và tình nhân là 8 người với 13 người con.
5.1. Vợ và tình nhân
1. Nam Phương Hoàng Hậu. Có hôn thú, 5 con.
2. Bùi Mộng Điệp. Không hôn thú, 3 con.
3. Lý Lệ Hà. Vũ nữ, không hôn thú, không con
4. Hoàng Tiểu Lan. Vũ nữ, không hôn thú, 1 con gái.
5. Lê Thị Phi Ánh. Không hôn thú, 2 con
6. Vicky (Pháp) Không hôn thú, 1 con gái
7. Clément. Vũ nữ. Không hôn thú
8. Monique Marie Eugene Baudot. Có hôn thú, không con.
5.2. Những người con của Bảo Đại
I. Với Nam Phương Hoàng Hậu
1. Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long (4-1-1936 - 28-7-2007)
2. Công chúa Nguyễn Phúc Phương Mai (1-8-1937)
3. Công chúa Nguyễn Phúc Phương Liên (3-11-1938)
4. Công chúa Nguyễn Phúc Phương Dung (5-2-1942)
5. Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Thắng (9-12-1943)
II. Với Thứ Phi Mộng Điệp
1. Nguyễn Phúc Phương Thảo (1946)
2. Nguyễn Phúc Bảo Hoàng (1954 - 1955)
3. Nguyễn Phúc Bảo Sơn ( 1957 - 1987)
III. Với Hoàng Tiểu Lan
1. Nguyễn Phúc Phương Ân
IV. Với Lê Thị Phi Ánh
1. Nguyễn Phúc Phương Minh
2. Nguyễn Phúc Bảo Ân
V. Với bà Vicky
1. Nguyễn Phúc Phương Từ.
Ba lãnh tụ Việt Nam, về gái, thì cả Bảo Đại và Hồ Chí Minh đều thua Tổng thống Ngô Đình Diệm, một trời, một vực. Bảo Đại thì chơi công khai, chấp nhận tiếng đời thị phi, trái lại, Hồ Chí Minh thì chơi cú tiêu lòn, chơi chui, thế mà khuyên thanh niên: "Các cháu bắt chước bác cái gì cũng tốt, chỉ trừ việc hút thuốc và không lập gia đình". Bảo Đại thì mê hoa hậu, trái lại, bác thì chỉ thích con gái sắc tộc thiểu số mang hương vị rừng núi của miền Thượng du.
Bảo Đại hận Hồ Chí Minh đã cho báo chí chiến khu kết án ông là phản quốc. Toà án quân sự Liên Khu 3 đã lên án tử hình vắng mặt năm 1949. Rồi chính quyền Ngô Đình Diệm đã truất phế ông, tịch thu tài sản và nhục mạ ông.
Tài sản khổng lồ, địa vị, danh dự bị mất tất cả. Những năm cuối đời, sống nhờ trợ cấp xã hội của chính phủ Pháp. Đau khổ nhất là vợ con đều xa lánh.
6* KếtNam Phương Hoàng Hậu có 12 năm sống tràn đầy hạnh phúc, 16 năm sống cô đơn trong cuộc đời lưu vong nơi đất Pháp. Buồn nhiều hơn vui.
Hoàng hậu tan nát cõi lòng với mặc cảm bị bỉ rơi, tủi phận, đau đớn xót xa.
Bà cũng nặng lòng với dân tộc. Khi Pháp trở lại tái chiếm thuộc địa VN, Bảo Đại đã thoái vị, mặc dù mang quốc tịch Pháp, nhưng bà Nam Phương đã gởi một thông điệp cho các bạn bè châu Á, yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực dân Pháp. Bà viết: "Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ VN, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi, của VN hãy binh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do can thiệp, để kiến tạo một nền hoà bình chân chính cho VN. Xin quý vị nhận tấm lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào Việt Nam chúng tôi".
Bà Nam Phương được gọi là viên kim cương cuối cùng của nhà Nguyễn.
Trúc Giang